BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
------
BÁO CÁO THỰC TẾ
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Giảng viên hướng dẩn: ThS Đặng Thị Phương Linh
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 3
Học kỳ II Năm học 2013-2014
Thứ 6 tiết 6, 7, 8.
Vinh, tháng 04/2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Cũng như sinh viên các khoa, các ngành khác nhau, sinh viên Khoa
Luật trường đại học Vinh nói chung và sinh viên nhóm 7 Luật tố tụng hình
sự chúng em nói riêng, đã và đang tích cực thực hiện tốt phương châm “ học
đi đôi với hành ”. Nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học của mỗi
chúng ta ngày nay.
đối với công việc và xã hội.
Để hiểu rõ hơn về quá trình, thủ tục xét xử tại phiên tòa, nhóm chúng
em xin được phân tích, làm rõ trình tự xét xử một vụ án, cụ thể là phiên tòa
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo cáo trạng 125 ngày 06/11/2013 đối với bị
cáo: Phạm Thanh Long về tội giết người được quy định tại Điểm g, Khoản
1, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 1985 Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, ngày xét xử: 19/03/2014 tại Tòa án Tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÌNH TỰ THỦ TỤC
XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI PHIÊN TÒA.
I. KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ.
1. Khái niệm.
Giai đoạn Xét xử là giai đoạn trung tâm và quan trọng nhất của hoạt
động Tố tụng, mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy
định của pháp luật Tố tụng hình sự tiến hành:
1) Áp dụng các biện pháp chẩn bị xét xử.
2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về tính
chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của
hai bên ( buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay
không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo
thủ tục phúc thẩm- nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và
chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra
tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp
luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm- nếu bán án hay quyết định
đó bị kháng nghị) và cuối cùng tuyên bản án (quyết định) của Tòa án cò
hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách
công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục.
xét xử của Tòa án nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp hình sự của Nhà
nước nói chung, góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống
tội phạm trong toàn xã hội, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp
phần có hiệu quả vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong
toàn xã hội.
II. THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN
1. Khái niệm và căn cứ xét xử sơ thẩm của Tòa án
1.1. Khái niệm
Trong luật TTHS, thẩm quyền xét xử của Tòa án theo nghĩa rộng bao
gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án, ra bản án hoặc các quyết định
khác như quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án.
Trong phạm vi của mục này, chúng ta chỉ nghiên cứu thẩm quyền xét
xử của Tòa án theo quy định tại Chương XVI của BLTTHS, tức là thẩm
quyền về hình thức (xem xét vụ án) theo đó:
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép
tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ
nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nơi thực hiện tội phạm
hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật
1.2. Căn cứ quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án
Việc quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án cần phải dựa vào các căn
cứ sau:
Đường lối chính sách của Đảng.
Nguyên tắc cơ bản của luật TTHS.
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Tính nghiêm trọng phức tạp của tội phạm
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của thẩm phán cũng như điều tra của
viện kiểm sát.
Biên chế và cơ sở vật chất.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa
án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết
định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.
Điều 172. Thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu bay
hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động
ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam
Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải
Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay
hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.
Điều 173. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của
các Tòa án khác cấp
Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét
xử của Tòa án cấp trên, thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 174. Chuyển vụ án
Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án chuyển
vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử. Việc chuyển vụ án cho Tòa án ngoài
phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu
do Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định.
Chỉ được chuyển vụ án cho Tòa án khác khi vụ án chưa được xét xử.
Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Tòa án quyết định.
Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự hoặc Tòa án cấp trên thì
vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền.
Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định.
Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Tòa
án phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, báo cho bị cáo và những
người có liên quan trong vụ án.
Điều 175. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử
sát cùng cấp.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra
xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì
Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn ba mươi ngày.
Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong thời hạn mười
lăm ngày sau khi nhận lại hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên
tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Nghiên cứu hồ sơ.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang và vào sổ
thụ lý thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa và hội thẩm nhân
dân nghiên cứu ngay hồ sơ vụ án trước khi xét xử. Khi nghiên cứu hồ sơ cần
làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Vụ án có thuộc thẩm quyền hay không?
- Đã có đủ chứng cứ làm sáng tỏ nội dung vụ án hay chưa?
- Việc điều tra có đúng với quy định của pháp luật hay không?
- Hành vi mà bị cáo bị truy tố có cấu thành tội phạm hay không?
- Có cần áp dụng hủy bỏ hay thay đổi biện pháp ngăn chặn không?
- Đã thu giữ đầy đủ tang vật chưa? có cần các biện pháp đảm bảo bồi
thường không?
- Có lý do để đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án không...?
Hồ sơ vụ án gồm nhiều tài liệu nên việc nghiên cứu thường bắt đầu từ
bản cáo trạng - là căn cứ để tiến hành phiên tòa tất cả các giấy tờ, tài liệu
khác cần nghiên cứu đối chiếu với nội dung của bản cáo trạng không được
bỏ sót bất kỳ tài liệu nào
Khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán cần ghi chép những dữ kiện của vụ
án là cơ sở cho việc vạch kế hoạch thẩm vấn tại phiên tòa
Sau khi nghiên cứu hồ sơ thẩm phán cần phải xây dựng xét hỏi, tập
trung làm sáng tỏ các yếu tố của chứng cứ, dự kiến những diễn biến khác
1. Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ
sung trong những trường hợp sau đây:
a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà
không thể bổ sung tại phiên tòa được;
b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng
phạm khác;
c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định
yêu cầu điều tra bổ sung.
2. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện
kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết.
Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề
mà Tòa án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
b) Quyết định tạm đình chỉ vụ án
Điều 180. Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án
Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định
tại Điều 160 của Bộ luật này; ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong
những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và các điểm 3, 4, 5, 6 và 7
Điều 107 của Bộ luật này hoặc khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy
tố trước khi mở phiên toà.
Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm
đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can, bị cáo
thì có thể tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ nội dung theo quy định tại
khoản 3 Điều 164 của Bộ luật này.
c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Điều 178. Nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo, người đại
diện hợp pháp của họ và người bào chữa, chậm nhất là mười ngày trước khi
mở phiên tòa.
Trong trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra
xét xử và bản cáo trạng được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện
hợp pháp của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết
tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc nơi làm việc cuối
cùng của bị cáo.
2. Quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án
phải được giao cho bị can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người đại
diện hợp pháp của bị can, bị cáo; những người khác tham tố tụng thì được
gửi giấy báo.
3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm
đình chỉ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn
phải được gửi ngay cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, trại tạm
giam nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam.
Điều 183. Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán triệu tập
những người cần xét hỏi đến phiên tòa.
IV. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN
TÒA
1. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục.
Điều 184. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục
1. Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách
hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện
hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và
1. Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án;
nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải theo thủ tục quy định
tại Điều 130 của Bộ luật này; nếu bị cáo vắng mặt có lý do chính đáng thì
phải hoãn phiên tòa.
Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì Hội
đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh.
Nếu bị cáo trốn tránh thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu
cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo.
2. Tòa án chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp sau
đây:
a) Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả;
b) Bị cáo đang ởnước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa;
c) Nếu sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ
đã được giao giấy triệu tập hợp lệ.
c) Người bào chữa.
Điều 190. Sự có mặt của người bào chữa
Người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Người bào chữa có
thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Nếu người bào chữa vắng mặt Tòa
án vẫn mở phiên tòa xét xử.
Trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại
khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt, thì Hội đồng
xét xử phải hoãn phiên tòa.
d) Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan.
Điều 191. Sự có mặt của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại
diện hợp pháp của họ
46, 47, 187, 189, 190, 191, 192 và 193 của Bộ luật này, thì thời hạn hoãn
phiên tòa sơ thẩm không được quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định
hoãn phiên tòa.
5. Giới hạn của việc xét xử.
Điều 196. Giới hạn của việc xét xử
Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà
Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử.
Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm
sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ
hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
6. Rút gọn việc truy tố.
Trước khi mở phiên tòa, nếu xét thấy có căn cứ rút một phần hay toàn
bộ quyết định truy tố thì kiểm sát viên được phân công quyền công tố và
kiểm sát xét xử vụ án báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát xem xét và
quyết định. Việc rút quyết định truy tố phải được thực hiện bằng văn bản và
nêu rõ lí do. Nếu Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì tòa án ra
quyết định đình chỉ vụ án. Nếu viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố
thì hội đồng xét xử chỉ xét phần không bị rút truy tố.
Tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, kiểm sát viên có thể rút toàn bộ hay một
phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn nhưng hội đồng
xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án. Nếu có tình tiết mới theo hướng có lợi
cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xét xử thì kiểm sát
viên quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Nếu kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi nghị án thì
hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày
ý kiến về việc rút truy tố đó. Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo có
tội thì hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến
nghj với viện kiểm sát cấp trên. Qua nghiên cứu hồ sơ và kiến nghị của tòa
giữ người gây rối trật tự tại phiên tòa.
8. Việc ra bản án và các quyết định của tòa án.
Điều 199. Việc ra bản án và các quyết định của Tòa án
1. Bản án của Tòa án quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không
phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác. Bản án phải được thảo
luận và thông qua tại phòng nghị án.
2. Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm
sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án,
yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt
giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng
nghị án và phải được lập thành văn bản.
3. Quyết định về các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và
thông qua tại phòng xử án, không phải lập thành văn bản, nhưng phải được
ghi vào biên bản phiên tòa.
9. Biên bản phiên tòa.
Điều 200. Biên bản phiên tòa
1. Biên bản phiên tòa phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm của
phiên tòa và mọi diễn biến ở phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi tuyên án.
Cùng với việc ghi biên bản, có thể ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa.
2. Những câu hỏi và những câu trả lời đều phải được ghi vào biên
bản
3. Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản
và cùng với Thư ký Tòa án ký vào biên bản đó.
4. Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án,
người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc đại diện hợp pháp của những
người đó được xem biên bản phiên tòa, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi,
bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận.
góp cho ít”. Vào bàn ngồi Trịnh Phúc Đạt đặt lên 50 nghìn đồng và
nói với mọi người “ tao chỉ có 50 nghìn thôi ai có lòng hảo tâm thì
quyên góp cho ít, sau anh em tính sau vậy”. Nghe vậy anh Trần Anh
Đức đưa 100 nghìn đồng ra góp. Anh Nguyễn Ngọc Anh nói “ không
đứa mô phải góp cả, đứa mô thua thì phải trả, loại nhà mi không có
tiền thì thôi mi đừng có to mồm”, Trịnh Phúc Đạt nói “ loại bay sống
phải hiểu tao, đi hát kara tiền triệu tao có tiếc mô mà xé vé tao?”. Anh
Ngọc Anh chửi “ con mẹ mi nữa” rồi lấy ghế nhựa ném Trịnh Phúc
Đạt nhưng không trúng, sau đó anh Ngọc Anh đuổi đánh và lấy 2 cục
đá ném Trịnh Phúc Đạt nhưng không trúng. Sau đó được mọi người
can ngăn vào thanh toán tiền bia nên Trịnh Phúc Đạt và anh Ngọc
Anh bỏ đi.
Sau khi ra đến cầu Bến Thủy 2 anh Nguyễn Ngọc Anh gọi
điện thoại cho Trịnh Phúc Đạt nói “ Loại nhà mi mô rồi ra cầu Bến
Thủy 2 không tao giết, không ra thì mai gặp tao giết”. Trịnh Phúc Đạt
không nói gì, anh Ngọc Anh lại gọi điện thoại cho Trần Anh Đức ra
cầu Bến Thủy 2. Sau khi nhận điện thoại Trịnh Phúc Đạt liền điều
khiển xe ôtô taxi Mai Linh mang biển kiểm soát 29A 03827 đi đến
ngã tư trạm thu phí cầu Bến Thủy 2. Khi đi trên đường bê tông giáp
với ngã tư trạm thu phí cầu Bến Thủy 2 Trịnh Phúc Đạt nhìn thấy xe
ôtô taxi của anh Anh dựng sát đường nhựa đường vào trạm nên dừng
xe lại anh Anh mở cửa xe và đi xuống nhặt 2 cục đá. Lúc đó, Trịnh
Phúc Đạt nhìn thấy vậy liền điều khiển xe lên đường nhựa thì bị anh
Nguyễn Ngọc Anh ném đá trúng xe. Trịnh Phúc Đạt liền điều khiển
xe lùi lại húc trúng người anh Ngọc Anh, anh Ngọc Anh trườn ra
được nên không vấn đề gì. Sau khi húc trúng anh Ngọc Anh xong
Trịnh Phúc Đạt liền điều khiển xe tiến lên trạm thu phí cầu Bến Thủy
2 và vòng lại sát lại cầu sắt chia đường của trạm thu phí đầu xe quay
Về dân sự, chị Nguyễn Thị Thắm sinh năm 1992 trú tại khối
7, phường Trung Đô, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là vợ của anh
Nguyễn Ngọc Anh yêu cầu bị cáo Trịnh Phúc Đạt bồi thường thiệt hại
165 triệu đồng . đến nay gia đình đã khắc phục số tiền là 165 triệu
đồng. Công ty THHH Mai Linh không yêu cầu đền bù thiệt hại về
chiếc xe ôtô Mai Linh mang biển kiểm soát 29A 03827 và các thiệt
hại khác liên quan.
Căn cứ vào các chứng cứ và tình tiết nêu trên kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 14/10/2013 do mâu thuẫn với nhau nên
anh Nguyễn Ngọc Anh đã hẹn anh Trịnh Phúc Đạt đến cầu Bến Thủy
2 để đánh nhau. Trịnh Phúc Đạt điều khiển xe ô tô mang biển kiểm
soát 29A 03827 đi đến khu vực trạm thu phí cầu Bến Thủy 2 gặp anh
Nguyễn Ngọc Anh và anh Nguyễn Ngọc Anh đã dùng đá ném vào xe
của anh Đạt. Đạt đã dùng xe ôtô đâm thẳng vào anh Nguyễn Ngọc
Anh 2 lần làm anh nằm bất động trên đường. Sau đó Trịnh Phúc Đạt
tiếp tục cho xe đằn lên người Nguyễn Ngọc Anh , hậu quả anh
Nguyễn Ngọc Anh chết trên đường đi cấp cứu.
Hành vi của Trịnh Phúc Đạt đã phạm vào tội giết người cần
phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe giáo dục và
phòng ngừa chung.
Như vậy đủ cơ sở để kết luận bị can Trịnh Phúc Đạt phạm
tội như sau: