Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2007 - 2011
Đề tài:
HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. MẠC GIÁNG CHÂU
NGUYỄN ANH THỰC
MSSV: 5075306
Lớp: Luật Tư pháp 3 – K33
Cần Thơ, tháng 11/2010
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
1
SVTH: Nguyễn Anh Thực
2.1.2. Những hậu quả pháp lý liên quan đến bản cáo trạng sau khi Kiểm sát viên
đọc xong bản cáo trạng và trình bày hết những ý kiến bổ sung....................27
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
2
SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
2.2. Trình tự xét hỏi tại phiên tòa...................................................................29
2.2.1. Những người tiến hành tố tụng xét hỏi...............................................29
2.2.1.1. Xét hỏi bị cáo...............................................................................29
2.2.1.2. Hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ.....35
2.2.1.3. Xét hỏi người làm chứng..............................................................39
2.2.1.4. Xét hỏi người giám định...............................................................43
2.2.2. Quyền yêu cầu xét hỏi của những người tham gia tố tụng..................46
2.2.2.1. Quyền yêu cầu xét hỏi của bị cáo.................................................46
2.2.2.2. Quyền yêu cầu xét hỏi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện
hợp pháp của họ...........................................................................................47
2.3. Những thủ tục tố tụng khác trong hoạt động xét hỏi.............................49
2.3.1. Công bố lời khai tại Cơ quan điều tra, việc trình bày, công bố các tài liệu
của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức....................................49
2.3.1.1. Công bố lời khai tại Cơ quan điều tra.........................................49
2.3.1.2. Việc trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo
của cơ quan, tổ chức....................................................................................51
2.3.2. Xem xét vật chứng và xem xét tại chỗ................................................52
2.3.2.1. Xem xét vật chứng........................................................................52
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
4
SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, giai đoạn xét xử là giai đoạn quan
trọng nhất để tìm ra sự thật khách quan của vụ án một cách công khai tại Tòa án. Nhằm
góp phần tìm ra sự thật đó, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là hoạt động trung tâm mang
tính chất quyết định cho toàn bộ vụ án được giải quyết chính xác nhất. Một phiên tòa
mà hoạt động xét hỏi được thực hiện hoàn hảo sẽ đảm bảo cho công tác xử lý vụ án
hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không xử oan
người vô tội, không ngừng phát huy quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố pháp
luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Song song đó, cùng với tình hình phát triển chung của đất nước, pháp luật nói
chung cần có sự đổi mới để điều chỉnh sao cho phù hợp với xu hướng của sự phát triển
xã hội. Pháp luật tố tụng hình sự nói riêng cũng cần có những chuyển biến thích hợp để
phục vụ cho công cuộc bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ, đảm bảo tối đa quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân. Hòa nhập vào xu thế đó, ngày 02 tháng 6 năm 2005 Bộ Chính
trị đã ra Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đề ra
những nhiệm vụ và phương hướng mới trong công tác cải cách tư pháp, trong đó có đề
cập đến thủ tục tại phiên tòa.
Trước đó, Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói:
“Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người
việc tham gia vào xét hỏi của những người tham gia tố tụng. Hoạt động xét hỏi cụ thể
của những người tiến hành tố tụng đối với từng chủ thể tham gia tố tụng. Đồng thời
làm rõ những vấn đề nhằm phục vụ cho việc xét hỏi được thực hiện có hiệu quả. Việc
cách ly các bị cáo, người làm chứng với nhau trong vụ án. Hoạt động xem xét vật
chứng, xem xét tại chỗ, việc trình bày công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo
cáo của cơ quan, tổ chức nhằm tạo căn cứ vững chắc cho chứng cứ đảm bảo cho chứng
cứ đó là cơ sở để ra quyết định, bản án đúng đắn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự – lý
luận và thực tiễn” góp phần nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự của Tòa án. Đảm
bảo việc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm hay làm
oan người vô tội. Qua đó, góp phần tạo điều kiện cho cơ quan tư pháp, người tiến hành
tố tụng thực hiện đúng pháp luật, tránh xảy ra tình trạng oan sai, đồng thời giúp cho
hoạt động tư pháp hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Trên cơ sở đó, tìm ra
phương hướng hoàn thiện những bất cập về mặt pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng
pháp luật, đảm bảo cho hoạt động xét hỏi tại phiên tòa được thực hiện thống nhất và
mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, còn nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công
dân có liên quan vào vụ án hình sự.
Qua quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết đi sâu vào phân tích luật thực
định, những thiếu sót, hạn chế về mặt pháp lý cũng như những vướng mắc trong quá
trình áp dụng pháp luật tố tụng vào hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự trên thực tế.
Trên cơ sở đó, người viết nêu ra hướng áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật
hiện hành cũng như đề ra các phương hướng hoàn thiện những điểm mà luật hiện hành
còn bất nhất, việc áp dụng chưa đồng bộ pháp luật trên thực tế nhằm đảm bảo cho hoạt
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
6
SVTH: Nguyễn Anh Thực
7
SVTH: Nguyễn Anh Thực
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÉT HỎI
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Để nghiên cứu thành công một vấn đề cụ thể trong khoa học pháp lý, đặc biệt là
trong khoa học luật tố tụng hình sự thì việc nghiên cứu vấn đề lý luận là một nền tảng
vững chắc, làm cơ sở để nhận định luật thực định, có phương hướng đề ra cách thức
giải quyết những vấn đề cần hoàn thiện về mặt pháp lý cũng như về thực tiễn một cách
phù hợp nhất.
1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy, phản ánh những thuộc tính chung,
bản chất của sự vật, hiện tượng, quá trình hiện thực. Là kết quả của sự tổng hợp, khái
quát biện chứng các tài liệu, kinh nghiệm thực tiễn. Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu kỹ
càng các khái niệm sẽ góp phần ngày càng hoàn thiện thực tế khách quan. Đây chính là
những tiền đề tạo ra các quy phạm pháp luật nói chung và quy phạm pháp luật tố tụng
hình sự nói riêng mang tính phù hợp, bao quát và mang tính định hướng cho tương lai.
1.1.1. Khái niệm xét xử vụ án hình sự
Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, từ khởi tố vụ án, điều tra và quyết định việc
truy tố, đến xét xử, thi hành án, có thể nói hoạt động xét xử là đặc biệt quan trọng, là
trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Đây là quá trình chứng minh tội phạm
một cách công khai trước Tòa án trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu được điều tra trước
đó cùng với những tài liệu chứng cứ được đưa ra trong quá trình xét xử. Các giai đoạn
trước từ khởi tố, điều tra và truy tố chỉ là các giai đoạn xác định và tìm kiếm thông tin,
chứng minh sự việc phạm tội hoặc không phạm tội đã xảy nhằm phục vụ cho quá trình
xét xử.
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các bên tham gia tố tụng có điều
kiện công khai đưa ra quan điểm, lập luận để bảo vệ pháp luật hoặc bảo vệ chính mình.
Do đó, giai đoạn xét xử vụ án hình sự là giai đoạn tập trung cao nhất của quyền bào chữa
đảm bảo thực hiện bằng phương thức tranh tụng. Trong đó, vụ án hình sự là sự việc,
hành vi được xác định mang dấu hiệu tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự và
được cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của BLTTHS thụ lý để giải quyết.
Như vậy, xét xử vụ án hình sự là hoạt động của Tòa án nhân dân, được tổ chức
và tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc và trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và
làm oan người vô tội, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm. Hoạt động xét xử
vụ án hình sự cũng là hoạt động bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự xã hội, giáo dục công dân ý thức,
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
1.1.2. Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo pháp luật tố tụng của nước ta nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng,
quá trình xét xử vụ án được chia làm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm. Trong giai đoạn
sơ thẩm, Tòa án xem xét giải quyết toàn diện vụ án nhằm xác định hành vi phạm tội,
chủ thể thực hiện tội phạm cũng như các tình tiết liên quan đến vụ án để đưa ra kết luận
bị cáo có tội hay không có tội. Nếu có tội thì tội gì, quy định tại Điều, khoản nào của
Bộ luật hình sự, vì vậy, có thể nói đây là giai đoạn tố tụng tập trung cao nhất các quyền
tư pháp. Song song đó, Tòa án xác định các biện pháp tư pháp đối với bị cáo cũng như
các trách nhiệm về dân sự do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Ngoài ra, Tòa án còn
có nhiệm vụ kiến nghị với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội sửa chữa những thiếu
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
9
SVTH: Nguyễn Anh Thực
đốc thẩm bảo đảm cho quyền lợi của người tham gia tố tụng được đảm bảo một cách
toàn diện, khách quan nhất.
1
Xem: Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
Xem: Điều 20 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
3
Xem: Điều 28 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
4
Xem: Khoản 2 Điều 32 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002.
2
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
Thực
10
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng. Dựa trên kết luận
điều tra từ phía Cơ quan điều tra đã chứng minh được rằng có tội phạm xảy ra, Viện
kiểm sát tiến hành ra quyết định truy tố bằng bản cáo trạng. Đây là văn bản tóm tắt
toàn bộ diễn biến của vụ án, xác định tội phạm, tội danh, khung hình phạt và các tình
tiết khác có liên quan đến vụ án. Việc ra quyết định truy tố bị can của Viện kiểm sát là
quá trình chuyển tiếp từ giai đoạn điều tra sang giai đoạn xét xử. Trên cơ sở đó, Tòa án
chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết
định đưa ra xét xử.
Thực
11
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Xét hỏi trong tố tụng hình sự là hành vi tố tụng quan trọng, được thực hiện tại
phiên tòa nhằm phát hiện, củng cố và kiểm tra các chứng cứ có ý nghĩa đối với việc giải
quyết đúng đắn vụ án. Xuất phát từ yêu cầu xác định sự thật của vụ án một cách công
khai, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định
vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo, vì
vậy, các tài liệu, chứng cứ, lời khai liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra phải
được đưa ra xem xét trước tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử không phụ thuộc vào kết
luận có sẵn của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mà tự mình phải chứng minh có tội
phạm hoặc không có tội phạm6. Mặc khác, trong khi xét hỏi mà bị cáo nhận tội thì lời
nhận tội đó có thể coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án 7. Trong
một số trường hợp, vì một lý do nào đó mà bị can, người bị hại, người làm chứng không
khai tại Cơ quan điều tra nhưng lại khai trong lúc xét hỏi tại phiên tòa. Do đó, việc xét
hỏi bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người này, người làm
chứng, người giám định ngay tại phiên tòa là thủ tục cần thiết và luôn luôn có vị trí quan
trọng trong quá trình xét xử vụ án. Chương XX, BLTTHS hiện hành quy định thủ tục xét
hỏi tại phiên tòa. Thủ tục này cho phép việc xét hỏi được thuận tiện, khách quan và khoa
học. Đối với người được hỏi thì ngoài cơ hội cung cấp trực tiếp cho hội đồng xét xử
những chứng cứ có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án, đây còn là dịp để họ trình bày
ý kiến, tham gia xét hỏi những người tham gia xét hỏi khác nhằm bảo vệ những lợi ích
thiết thực của mình hoặc của những người mà mình quan tâm.
Xét hỏi trong tố tụng hình sự là hoạt động điều tra và xét xử do những người tiến
được tiến hành sau khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu
có. Hội đồng xét xử xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án
theo thứ tự xét hỏi hợp lý. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các
Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa. Những người tham gia
phiên tòa cũng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần
làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám
định. Trong khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét những vật chứng có liên quan đến vụ
án. Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa được quy định cụ thể trong Chương XX của BLTTHS
hiện hành, từ Điều 206 đến Điều 216. Sau khi xét hỏi xong, chủ tọa phiên tòa tuyên bố
kết thúc xét hỏi và chuyển sang phần tiếp theo là tranh luận tại phiên tòa.
Như vậy, xét hỏi tại phiên tòa là một giai đoạn của quá trình xét xử tại Tòa án, do
những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện nhằm thu
thập, ghi nhận và kiểm tra những tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa đối với vụ án.
Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002, của Bộ Chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới, có đoạn nói: “Việc phán quyết của Tòa án phải căn
cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện
các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng,
nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án,
quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định...”.
Vì vậy, việc xét hỏi tại phiên tòa phải theo hướng tranh tụng, khi đó Hội đồng xét xử
chỉ là người “cầm trịch”, việc xét hỏi chủ yếu do Kiểm sát viên (hỏi về những vấn đề
liên quan đến việc buộc tội và cả những tình tiết gỡ tội cho bị cáo) và người bào chữa
(hỏi về những vấn đề nhằm gỡ tội cho bị cáo) thực hiện. Hội đồng xét xử chỉ hỏi những
vấn đề chung nhằm mục đích xét xử. Khi đó, xét hỏi là cuộc điều tra chính thức tại
phiên tòa để xác định sự thật khách quan của vụ án. Đại diện cho bên công tố hỏi về
những vấn đề liên quan đến việc buộc tội cũng như gỡ tội, bên bào chữa hỏi về những
vấn đề liên quan đến việc gỡ tội cho bị cáo. Trên cơ sở đó Tòa án đưa ra phán quyết
chung cho vụ án. Các bên tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đều có quyền điều tra
dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa từ hỏi người khác đến xem xét các vật chứng,
sự
Xét hỏi tại phiên tòa là giai đoạn trung tâm trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án,
đây là giai đoạn quan trọng nhất để xác định sự thật vụ án, có tính chất quyết định
chứng minh bị cáo phạm tội hay không phạm tội, nếu có thì phạm tội gì, hình phạt như
thế nào. Hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra cũng nhằm mục đích chứng minh tội
phạm, nhưng nó được tiến hành bán công khai và mục đích chủ yếu là cung cấp chứng
cứ cho quá trình xét xử. Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa cũng là một giai đoạn chứng
minh tội phạm, có thể những câu hỏi và câu trả lời không khác gì ở giai đoạn điều tra
nhưng được thực hiện hoàn toàn công khai và tập trung kiểm tra lại những chứng cứ do
Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra, nhằm bảo vệ hoặc phản bác lại
những tình tiết, chứng cứ mà Cơ quan điều tra cung cấp. Quá trình tranh luận tại phiên
tòa là việc bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra các quan điểm của mình nhằm buộc tội
hay gỡ tội, tuy nhiên việc đưa ra các lập luận để bảo vệ cho quan điểm của mình thì cả
hai bên buộc tội và gỡ tội đều phải dựa vào các chứng cứ, tình tiết đã xem xét trong
quá trình xét hỏi. Nếu có thêm chứng cứ mới, tình tiết mới được đưa ra xem xét thì Hội
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
Thực
14
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
đồng xét xử vẫn phải quyết định trở lại việc xét hỏi để làm rõ chứng cứ, tình tiết mới
đó. Điều này cho thấy hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động xuyên suốt
trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.
Bên cạnh việc xét hỏi, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và những người tham gia
phiên tòa còn tiến hành các hoạt động khác như xem xét vật chứng, công bố những lời
khai tại Cơ quan điều tra, xem xét tại chỗ, trình bày, công bố các tài liệu của vụ án…
phiên tòa”.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
Thực
15
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Như vậy, hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động chính yếu trong quá
trình xét xử tại phiên tòa, góp phần quan trọng vào việc tìm ra sự thật khách quan của
vụ án. Là một hoạt động độc lập của quá trình xét xử tại phiên tòa, có ảnh hưởng đến
tất cả các giai đoạn khác trong toàn bộ quá trình tố tụng, là nền tảng cho quá trình tranh
luận, nghị án và đặc biệt là căn cứ để chứng minh tội phạm, đưa ra các quyết định đúng
đắn. Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa được pháp luật hình sự điều chỉnh ở Chương XX
của BLTTHS hiện hành.
Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xét hỏi tại phiên tòa đòi hỏi Hội đồng xét
xử, Kiểm sát viên và những người tham gia phiên tòa, một mặt phải tuân theo những
quy định của pháp luật, mặt khác phải định hướng trước một phương pháp xét xử phù
hợp để xác định sự thật của vụ án. Điều này tạo cho những người tham gia xét xử mà
đặc biệt là Thẩm phán có một tư duy thật tốt để đưa ra một phương hướng phù hợp cho
cả quá trình xét xử vụ án. Vì vậy, có thể nói hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một nghệ
thuật mà không phải Thẩm phán nào cũng làm được. Việc tìm ra sự thật của vụ án phụ
thuộc rất lớn vào vai trò, bản lĩnh của Thẩm phán.
Trong tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng
01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp và theo Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
của Bộ Chính trị đề cập: “Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa,
các hoạt động trước và sau nó trong một quá trình xét xử, quyết định có hay không có
các giai đoạn tiếp sau đó hoặc buộc phải quay về các hoạt động trước đó để xem xét,
thực hiện lại. Nói tóm lại, mỗi hoạt động diễn ra trong quá trình xét xử vụ án đều có
những hậu quả pháp lý nhất định ảnh hưởng đến các hoạt động khác.
Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là một hoạt động trung tâm của toàn bộ quá trình
xét xử, vì vậy những hậu quả pháp lý của nó tác động rất lớn đến các giai đoạn khác
trong quá trình giải quyết vụ án. Một trong những hậu quả pháp lý quan trọng nhất của
hoạt động xét hỏi tại phiên tòa là đưa ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; quyết
định hoãn hay không hoãn phiên tòa; quyết định chuyển sang giai đoạn kế tiếp của quá
trình xét xử tại phiên tòa hay không... Nếu trong quá trình xét hỏi Hội đồng xét xử
nhận thấy còn có những vấn đề cần được chứng minh nhưng không thể làm rõ ngay tại
phiên tòa hoặc phát hiện thêm những tình tiết mới liên quan đến vụ án thì Hội đồng xét
xử quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc điều tra lại,
song song với quyết định này là quyết định hoãn phiên tòa.
Theo khoản 1 Điều 179 BLTTHS năm 2003 về quyết định trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, quy định này nằm ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Sẽ là hợp lý nếu trong quá
trình nghiên cứu hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phát hiện cần phải xem xét thêm chứng
cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên tòa được (điểm a); có căn cứ cho rằng bị
cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm (điểm b); phát hiện có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng (điểm c) thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ
sung. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử có trường hợp đến khi xét hỏi tại phiên tòa Hội đồng
xét xử mới phát hiện ra những vấn đề nêu trên nhờ bị cáo, người làm chứng hoặc
những người tham gia tố tụng khác khai báo thêm mà trước đó họ không khai. Khi đó,
Hội đồng xét xử cũng phải ra quyết định tạm hoãn phiên tòa để yêu cầu điều tra bổ
sung.
Một hậu quả pháp lý quan trọng hơn cả là sẽ xảy ra oan sai, bỏ lọt tội phạm nếu
như hoạt động xét hỏi tại phiên tòa không thực hiện đúng chức năng của nó. Như đã
biết, xét hỏi tại phiên tòa không chỉ xét hỏi mà còn là việc kiểm tra làm rõ những
chứng cứ ở giai đoạn điều tra và cả những chứng cứ mới được đưa ra. Tất cả các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và cả những chứng cứ mới phải được đưa ra xem
định: tối 24 tháng 10 năm 2000, Tình, Kiên, Lợi bàn nhau đi trấn lột. Khi đến gần trạm
bơm Yên Nghĩa, phát hiện một đôi trai gái đang ngồi tâm sự, họ lội qua mương đến
gần. Lợi dùng dao gí vào cổ, khống chế người đàn ông kéo xuống mương, cướp tài sản.
Sau đó, cả nhóm thay nhau hãm hiếp cô gái. Hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã
tuyên phạt Lợi 16 năm tù, Tình 14 năm tù và Kiên 11 năm tù. Ông Nguyễn Hữu Thể Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nêu lên nhiều nguyên nhân dẫn đến
hậu quả oan sai cho vụ án, trong đó có nhiều nguyên nhân do lỗi của Hội đồng xét xử,
Kiểm sát viên trong quá trình xét hỏi không làm rõ chứng cứ, lời khai của bị cáo. Cụ
thể, tại các phiên tòa xét xử, những bằng chứng ngoại phạm của các bị cáo chưa được
Hội đồng xét xử quan tâm xem xét đúng mức, Tòa án đã không xem xét, đánh giá đầy
đủ, kỹ lưỡng, toàn diện, khách quan các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo có khai
việc bị cán bộ điều tra ép cung trong quá trình điều tra, nhưng không được xem xét,
xác minh, kết luận9.
9
Xem: Tuổi trẻ online, Lại hoãn xử ba thanh niên bị kết tội hiếp dâm, Minh Quang, http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xahoi/Phap-luat/388563/Lai-hoan-xu-vu-3-thanh-nien-bi-ket-toi-hiep-dam.html, [truy cập ngày 11/8/2010].
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
Thực
18
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Từ vụ án trên, cho thấy việc xét hỏi tại phiên tòa có vai trò quan trọng trong quá
trình tìm ra sự thật của vụ án. Từ việc xét hỏi qua loa, chỉ dựa vào kết luận điều tra dẫn
đến việc ra bản án, quyết định không đúng người, đúng tội đã làm oan người vô tội, khi
đó đã bỏ lọt tội phạm thật sự của vụ án. Trong một số trường hợp việc xét hỏi phiến
diện, không đầy đủ sẽ làm sai lệch các nguyên tắc trong tố tụng hình sự cũng như
hiếp dâm, Anh Thư, http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2010/06/3BA1C714/?p=3, [truy cập ngày 11/8/2010].
10
Xem: Điều 28 BLTTHS 2003.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
Thực
19
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
án, quyết định không đúng đắn, không thuyết phục gây nên tình trạng oan sai, kéo dài
trong công tác xét xử, có vụ án phải xét xử lại nhiều lần.
Xét hỏi tại phiên tòa trong một số trường hợp sẽ làm thay đổi tội danh hoặc thay
đổi tư cách tham gia tố tụng đối với những người tham gia tố tụng. Thí dụ, Viện kiểm
sát truy tố bị cáo về một tội nhưng trong quá trình xét hỏi, xem xét lời khai, chứng cứ
Hội đồng xét xử nhận thấy người này không phải phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố
mà là một tội khác. Hoặc trong bản cáo trạng của Viện kiểm sát chỉ nêu một người là
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng khi xét hỏi tại phiên tòa đã làm
rõ những căn cứ cho rằng người đó không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án mà là đồng phạm với bị cáo, hoặc là người chủ mưu, cầm đầu. Trong
những trường hợp này, Hội đồng xét xử sẽ quyết định hoãn phiên tòa để yêu cầu Viện
kiểm sát điều tra bổ sung.
1.3. Một số mô hình tố tụng hình sự tiêu biểu và hướng áp dụng ở Việt Nam
Mô hình tố tụng hình sự thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với người bị
tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo và quyết định toàn bộ quy trình tố tụng. Hướng tới sự
tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tố tụng hay sự bảo vệ quyền lợi của công dân và
nhiều nội dung quan trọng khác. Nghiên cứu các mô hình tố tụng tiêu biểu nhằm mục
ra tại cuộc tranh tụng sẽ dựa trên những tiêu chí hợp lệ của chứng cứ mà pháp luật đã
quy định và phụ thuộc vào niềm tin nội tâm của người Thẩm phán. Vì vậy, quá trình
thu thập chứng cứ của hai bên buộc tội và gỡ tội không bắt buộc phải khách quan, công
khai. Họ có thể tiến hành theo nhiều cách để đạt được mục đích buộc tội hay gỡ tội,
miễn sao khi tranh tụng trước Tòa, bên buộc tội phải đưa ra các chứng cứ nhằm chứng
minh tính có lỗi của hành vi phạm tội và xác định rõ nguyên nhân, hậu quả của tội
phạm phải được nằm trong mối quan hệ nhân quả. Hành vi có lỗi đó đã vi phạm pháp
luật và gây ra hậu quả nhất định cho người bị hại. Còn bên gỡ tội, họ phải chứng minh
được hành vi đó không có lỗi, không vi phạm luật hoặc chưa tới mức phải chịu trách
nhiệm hình sự hay có căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Do bản án, quyết định được đưa ra chủ yếu phụ thuộc vào những chứng cứ mà
phía buộc tội và gỡ tội đưa ra. Chính vì lẽ đó, để đảm bảo cho các quyết định, bản án
đưa ra là chính xác, khách quan, mô hình tố tụng này có những điều kiện nhất định để
ràng buộc bên gỡ tội và bên buộc tội phải tuân theo. Bên cạnh đó còn đảm bảo cho việc
tranh tụng giữa hai bên được diễn ra bình đẳng, dân chủ, khách quan. Các điều kiện
này bắt buộc phải được thực hiện một cách đồng bộ, chính xác11.
- Thứ nhất, bảo đảm sử dụng việc kiểm tra chéo, đối chất để xác định tính chính
xác, có căn cứ của chứng cứ. Các bên buộc tội và bên gỡ tội đều có quyền thẩm vấn
các nhân chứng để kiểm tra tính trung thực trong lời khai của họ, kiểm tra tính xác
thực, lô gíc và có căn cứ về những chứng cứ mà họ đã khai, nhằm bảo đảm rằng lời
khai của nhân chứng là cái họ đã nhìn thấy, chứng kiến cụ thể chứ không phải do họ
suy diễn hoặc họ nghĩ rằng sẽ diễn ra như vậy.
- Thứ hai, bảo đảm quyền tranh tụng trước tòa cho cả phía buộc tội (đại diện của
Nhà nước) và phía gỡ tội (các luật sư bào chữa) một cách bình đẳng, khách quan,
không bên nào được lấn át hay áp đặt nhận thức đối với bên kia về quan điểm mà mình
đưa ra. Thẩm phán giữ vai trò trọng tài, điều khiển cuộc tranh tụng, bảo đảm cho các
bên có đầy đủ các điều kiện và quyền hạn tranh tụng như nhau, buộc bên bị phản đối
phải chấm dứt việc đưa ra các quan điểm suy diễn, áp đặt nếu sự phản đối của bên còn
11
xem xét các chứng cứ đã đủ cho một phiên tòa chính thức hay chưa nhằm tránh những
thủ tục điều tra có thể diễn ra không cần thiết tại Tòa.
- Quy tắc về chứng cứ bảo đảm sự thống nhất của các yếu tố trong hệ tranh tụng.
Nó ngăn chặn việc sử dụng những chứng cứ không đáng tin cậy có thể làm Tòa án đưa
ra phán quyết dựa trên những thông tin sai lệch. Nó cũng nghiêm cấm sử dụng chứng
cứ có thể gây ra những định kiến không công bằng cho một trong các bên tham gia tố
tụng. Quy tắc về chứng cứ cũng tạo điều kiện ràng buộc luật sư để họ biết được những
chứng cứ nào sẽ được chấp thuận tại Tòa sau này; đồng thời là cơ sở để xác định thẩm
quyền của Thẩm phán chủ tọa phải điều hành diễn biến, thủ tục phiên tòa: ông ta không
có quyền chọn chứng cứ mà ông ta thấy thích hợp nhất mà phải tuân theo các quy tắc
chứng cứ đã được xác định trước.
- Quy tắc điều chỉnh đạo đức luật sư: Mô hình tranh tụng sử dụng một loạt các
quy tắc về đạo đức nghề nghiệp để kiểm soát đội ngũ luật sư của cả hai bên. Những thủ
đoạn đe dọa hay che giấu, làm sai lệch thông tin có thể làm cho Tòa án có định kiến bị
cấm và loại trừ. Hơn nữa, quy tắc về đạo đức cũng đòi hỏi luật sư phải hành sự và
trung thành vô điều kiện với quyền lợi của thân chủ của các bên như chính quyền lợi
của họ.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
Thực
22
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Bất kỳ mô hình tố tụng nào, bên cạnh những ưu việt mà nó mang lại cho quá
trình tìm ra sự thật khách quan của vụ án vẫn còn ít nhiều những hạn chế làm ảnh
hưởng đến mục đích cao nhất của quá trình giải quyết vụ án.
- Thủ tục tố tụng của mô hình tố tụng này rất phức tạp, đòi hỏi một đội ngũ luật
Thực
23
SVTH: Nguyễn Anh
Luận văn: Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự - Lý luận và thực tiễn
Nếu như mô hình tố tụng tranh tụng vai trò của Thẩm phán hoàn toàn bị động thì
ở mô hình tố tụng này, vai trò Thẩm phán được đề cao. Thẩm phán là người đưa ra
quyết định điều tra khi xảy ra một vụ án nào đó. Có trách nhiệm tìm ra sự thật trên cơ
sở các sự việc, chứng cứ. Cũng chính Thẩm phán là người chỉ đạo toàn bộ quá trình tố
tụng, kể cả giai đoạn điều tra. Trong quá trình điều tra, Thẩm phán góp phần tích cực
trong việc tìm ra sự thật và phục vụ với tư cách là người thẩm tra. Bên cạnh việc thực
hiện chức năng xét xử, Thẩm phán còn thực hiện cả chức năng điều tra, chức năng
buộc tội và một phần nào đó của chức năng bào chữa.
Phiên tòa trong tố tụng xét hỏi không phải là cuộc tranh tụng giữa các bên buộc
tội và gỡ tội, mà thực chất vẫn là sự tiếp tục của việc điều tra, thẩm định chứng cứ, tìm
chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, có thể nói đây là một cuộc xét
hỏi, điều tra công khai tại phiên tòa. Khi vai trò của Thẩm phán được đề cao và nắm
giữ vai trò quyết định, thì các chức năng buộc tội và bào chữa bị mờ nhạt. Vai trò Công
tố viên buộc tội và luật sư bào chữa gần như thụ động. Xét hỏi là hoạt động chủ yếu,
tranh luận được thực hiện rất ít, có thể nói trong phiên tòa này, việc tranh luận giữa
Công tố viên và người bào chữa hầu như không được thực hiện. Các bên có trách
nhiệm cung ứng tất cả các chứng cứ thích hợp, có liên quan đến vụ án cho Tòa án. Các
Thẩm phán sẽ thực hiện trực tiếp việc xét hỏi các nhân chứng một cách tích cực chứ
không phải Công tố viên và luật sư bào chữa.
Trong mô hình tố tụng này, Viện Công tố có những quyền hạn lớn hơn so với
trong tố tụng tranh tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa việc xét hỏi chủ yếu do Thẩm phán
thực hiện, Công tố viên chỉ tham gia vào kiểm sát quá trình hoạt động của Tòa án, tham
phán trong suốt quá trình tố tụng. Thẩm phán không chỉ thể hiện quyền năng tại phiên
tòa hay giai đoạn xét xử mà còn có quyền và nghĩa vụ tham gia tích cực trong quá trình
điều tra, thẩm tra chứng cứ. Đặc biệt là hoạt động xét hỏi tại phiên tòa.
Phiên tòa trong tố tụng xét hỏi gồm hai Thẩm phán: một là Thẩm tra viên, một là
Thẩm phán có quyền quyết định vụ việc. Phần lớn nhiệm vụ xét hỏi để bổ sung, làm rõ,
đánh giá chứng cứ vụ án thuộc về Thẩm phán. Các câu hỏi chủ yếu đối với các nhân
chứng và các bên liên quan là do Thẩm phán đặt câu hỏi và phát triển sự kiện theo
hướng làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Các luật sư chủ yếu chỉ tranh luận để giải
thích về các chứng cứ liên quan đến vụ án mà có thể các chứng cứ này sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến việc đưa ra phán quyết của Thẩm phán.
Cũng như mô hình tố tụng tranh tụng, mô hình tố tụng xét hỏi cũng bộc lộ những
khiếm khuyết của nó. Vì chứng cứ do Thẩm phán điều tra, tập hợp, các bên đương sự
không có nghĩa vụ chứng minh chứng cứ, nên đôi khi đi ngược lại nguyên tắc vô tư,
khách quan và trong nhiều trường hợp, Thẩm phán đã có sẵn trong đầu quyết định xét
xử trước khi diễn ra giai đoạn xét xử. Nhìn từ góc độ này, việc tranh luận tại phiên tòa
trở nên vô nghĩa.
1.3.2. Mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam và hướng áp dụng các ưu việt của
các mô hình tố tụng khác để hoàn thiện
1.3.2.1. Mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam12
Mô hình tố tụng nước ta gắn liền với từng thời kỳ lịch sử, ở mỗi giai đoạn tương
ứng với một mô hình tố tụng nhất định. Trước năm 1945 tố tụng hình sự nước ta có
nhiều dấu hiệu thể hiện áp dụng mô hình tố tụng xét hỏi. Đặc điểm cơ bản là quan cai
trị hành chính là Thẩm phán và Điều tra viên, việc điều tra được tiến hành bí mật,
12
Xem thêm: Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu
cầu cải cách tư pháp, TS. Lê Hữu Thể - ThS. Nguyễn Thị Thủy, http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap _
luat/ly-luan-ve-nha-nuoc/hoan-thien-mo-hinh-to-tung-hinh-su-viet-nam-theo-yeu-cau-cai-cach-tu-phap, [truy cập
ngày 28/10/2010].