Sáng kiến kinh nghiệm_Vũ Thị Tuyên
“ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN
QUA VIỆC CHẤM - TRẢ BÀI TẬP LÀM VĂN”
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Văn học là nhân học”, từ xưa đến nay trong việc giáo dục con người, văn
chương vẫn được sử dụng như một công cụ có hiệu quả, không ai có thể phủ nhận
tầm quan trọng của văn chương trong việc xây dựng và giữ gìn đạo đức xã hội.
Trong thực tế thì chất lượng môn Ngữ văn trong nhà trường Trung học cơ sở hiện
nay chưa cao, bộ môn Ngữ văn chưa thu hút được sự yêu thích của các em học
sinh. Nhiều bài viết có quá nhiều sai sót cơ bản như sai chính tả, sai kiến thức, viết
mà không hiểu những gì mình đã viết.....Đề khắc phục tình trạng nêu trên thì việc
chấm trả bài đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng
dạy môn Ngữ văn.
Việc chấm bài và trả bài là một việc mà người dạy học có thể đánh giá mức
độ thành thạo về kĩ năng, mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh, qua đó mà giáo
viên có thể phần nào tự đánh giá công việc dạy học của mình và có biện pháp điều
chỉnh sao cho hợp lí, phù hợp với tình hình học tập của học sinh. Tuy nhiên không
phải lúc nào công việc chấm bài và trả bài cũng được giáo viên quan tâm đúng
mức.
Trong thực tế giảng dạy, tôi thấy nhiều thầy cô giáo chưa quan tâm đến vấn
đề này; thực ra việc chấm bài và trả bài chu đáo sẽ đem lại nhiều hiệu quả tích cực
cho công việc dạy học môn Ngữ văn.
Từ thực tế chấm - trả bài của giáo viên ở tổ văn sử trường Trung học cơ sở
Minh Sơn, trên cơ sở tham khảo tài liệu và rút kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy
của bản thân, trong năm học 2014- 2015 tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: “ Nâng
cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn qua việc chấm- trả bài tập làm văn”
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này là sự quan tâm của bản thân tôi cũng như của nhiều đồng nghiệp
về vấn đề nói trên nhằm đúc rút kinh nghiệm, đưa ra một giải pháp tối ưu trong
việc thực hiện chấm - trả bài viết Tập làm văn ở bậc Trung học cơ sở để nâng cao
kĩ năng kiến thức tiếng Việt, kiến thức văn bản, hay nói cách khác là người học
phải biết vận dụng tổng hợp kiến thức tập làm văn- văn- tiếng việt, nhằm thuyết
phục người đọc, người nghe về một vấn đề nào đó.
b. Vai trò của tiết trả bài tập làm văn
Đối với giáo viên: Đây là công việc mà người dạy có thể đánh giá tình hình
học tập của học sinh, sự tiến bộ của học sinh trong học môn Ngữ văn. Thông qua
chấm bài giáo viên có thể đánh giá kĩ năng của học sinh, mà đặc biệt là kĩ năng
viết văn.
Thông qua việc chấm bài và trả bài giáo viên có thể giúp học sinh nhận ra
những sai sót, những hạn chế của các em và giúp các em khắc phục trong những
bài viết tiếp theo .Và cũng qua việc chấm bài và trả bài, giáo viên có thể tự đánh
giá quá trình dạy học của mình và có biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy bộ
môn Ngữ văn.
Đối với học sinh: Bài làm là thành quả lao động sáng tạo của các em. Các
em mong đến giờ trả bài để được biết thầy cô giáo đã đánh giá bài làm của mình
như thế nào. Cho nên giờ trả bài là một trong những giờ học được các em trông
đợi nhất.Đôi khi việc cho điểm của thầy cô giáo cũng làm thay đổi tinh thần và
thái độ học tập của hoc sinh.
2. Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế, nhiều giáo viên chưa ý thức được sâu sắc vai trò của giờ trả
bài làm văn. Chưa thực sự chú trọng đến thao tác hướng dẫn học sinh tìm ra
nguyên nhân và cách sửa chữa những yếu kém trong bài viết của học sinh trong
giờ trả bài.
Còn xem nhẹ hoặc soạn qua loa các tiết trả bài viết tập làm văn, hầu như các tiết
trả bài còn sơ sài, chung chung và trừu tượng, vì giáo viên vốn quan niệm giáo án
chỉ là hình thức đối phó nên ít tìm tòi sáng tạo, không đầu tư hoặc không quan tâm
đúng mức đến tác dụng, ý nghĩa và tầm quan trọng của tiết trả bài tập làm văn.
Nhiều thầy cô giáo chấm bài chỉ ghi điểm số bài làm mà không có những nhận xét,
sửa chữa cần thiết.
Giờ trả bài nhiều khi thu gọn vào việc làm dàn bài mẫu. Có khi giáo viên
Giáo viên chấm bài làm văn (bài văn viết) thực chất là đánh giá, là “đo”
năng lực nhận thức và vận dụng kiến thức, kỹ năng các phân môn tập làm văn, văn
bản, tiếng việt của học sinh để giải quyết vấn đề do đề bài đặt ra. Việc đánh giá
này được thực hiện bằng “bộ công cụ” là đáp án và biểu điểm cho từng tiêu chí cụ
thể trong đáp án mà giáo viên xây dựng trên cơ sở yêu cầu của đề bài. Để nâng cao
chất lượng của việc chấm bài, giáo viên cần:
- Xác định rõ mục tiêu của việc chấm bài: Đánh giá học sinh và rèn luyện
học sinh là hai mục tiêu quan trọng nhất của việc chấm bài.
- Xác định thái độ cần có khi chấm bài làm văn của học trò: Việc đánh giá
đúng chất lượng bài làm văn của học sinh có tác dụng khuyến khích, uốn nắn việc
rèn luyện của các em. Ngược lại, việc đánh giá sai, thiên vị hay thành kiến sẽ làm
mất niềm tin, gây tâm lý chán nản, bất bình ở học sinh. Vì thế giáo viên cần có
thái độ công tâm, khách quan khi chấm bài.
- Xây dựng đáp án và biểu điểm làm cơ sở cho việc chấm bài. Việc xây
dựng đáp án cho một đề văn cần xuất phát và bám sát các yêu cầu về kiến thức, kỹ
năng, phương pháp làm bài, phạm vi tư liệu cần sử dụng cho bài viết…Từ những
yêu cầu này, giáo viên đề ra các tiêu chí cụ thể và lập biểu điểm cho từng nội dung
cũng như mức độ đáp ứng được các tiêu chí để việc chấm bài chính xác. Khi làm
biểu điểm cần cân đối mức điểm cho từng ý, từng nội dung của đáp án. Đảm bảo
các ý chính, quan trọng, trọng tâm có mức điểm nhiều hơn các ý khác và tất cả các
ý, các phần trong bài đều phải có điểm.
Do đặc thù riêng của bài làm văn là mang dấu ấn của cá nhân học sinh
trong việc lý giải, phân tích, khám phá, nhìn nhận, đánh giá vấn đề- nhất là với
những học sinh có năng khiếu, nên giáo viên cần quan tâm đến độ mở khi xây
dựng đáp án, biểu điểm chấm bài làm văn.
- Tiến hành chấm bài: Việc chấm bài làm văn muốn đạt hiệu quả nên tuân
thủ các bước sau:
+ Bước 1: Trước hết cần phải xác định các tiêu chí đánh giá bài làm của
tránh việc gạch xóa điểm trong bài làm của học sinh.
4/2.Tổ chức thực hiện tiết trả bài :
Đây là phần trọng tâm của đề tài. Khi thực hiện phần này, phải tiến hành
làm rõ các nội dung: tìm hiểu đề, tìm ý, làm dàn ý, đọc và bình, sửa chữa các lỗi
mắc phải. Nhưng tùy tính chất bài viết của học sinh mà có thể lướt qua hoặc nhấn
mạnh ở một số nội dung, hay nói cách khác xem học sinh của mình thiếu cái gì thì
hướng dẫn các em tự đi tìm cái thiếu đó.
4.2.1 Tìm hiểu đề :
Yêu cầu học sinh ghi lại đề bài của bài viết; nêu rõ: đề bài yêu cầu người
viết phải giải quyết vấn đề gì? Đề bài thuộc kiểu loại nghị luận nào? Cần vận dụng
kỹ năng viết kiểu bài nào để giải quyết yêu cầu của đề? (nghị luận xã hội hay nghị
luận văn học? nghị luận về một tư tưởng đạo lý hay một vấn đề xã hội, một hiện
tượng đời sống? phân tích/bình giảng bài thơ hay đoạn thơ, đoạn văn? Phân tích
một nhân vật hay phân tích một nội dung tư tưởng nào đó của tác phẩm,…). Phạm
vi tư liệu cần sử dụng để làm bài? (tư liệu lấy từ thực tế đời sống, xã hội hay tác
phẩm văn học nào?) Giúp học sinh có thói quen và thuần thục kĩ năng tìm hiểu đề
và xác định đúng yêu cầu của đề bài, tránh tình trạng lạc ý, xa đề.
Đề bài ví dụ: Một hiện tựợng khá phổ biến hiện nay là vứt rác ra đường
hoặc nơi công cộng. Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về hiện tựợng trên
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm rõ các ý sau:
Phần nêu tư tưởng, phạm vi: “hiện tượng vứt rác ra đường hoặc nơi công
cộng”
Phần yêu cầu: Trình bày suy nghĩ của bản thân về hiện tượng trên
4.2.2 Tìm ý và lập dàn ý
Việc xây dựng dàn ý là giúp học sinh tìm ra các luận điểm, luận cứ, luận
chứng phù hợp với đề bài. Sau đó sắp xếp chúng thành một dàn ý có bố cục chặt
chẽ, đảm bảo tính lôgic. Việc lập dàn ý trong giờ trả bài là một dịp tốt để các em
đối chiếu, nhìn lại những luận điểm, luận cứ đã nêu trong bài viết, tự đánh giá mức
độ đạt, chưa đạt trong bài làm. Với những học sinh yếu đây là cơ hội để củng cố,
rèn luyện, bồi đắp thêm kỹ năng lập ý. Ngoài ra rất nhiều kiến thức về đời sống, xã
* Lập dàn ý
a. Mở bài:
Giới thiệu được sự việc vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng hiện nay rất
phổ biến, đâu đâu cũng thấy.
Nêu tác hại chung của hiện tượng này.
b. Thân bài: Liên hệ thực tế, phân tích:
* Việc vứt rác bừa bài hiện nay rất phổ biến, có thể do:
- Thói quen xấu: tiện đâu vứt đó
- Do không có ý thức:
+ vứt rác không đúng nơi quy định, có thể vứt trên đường hoặc nơi công
cộng (công viên, rạp chiếu phim, khi đi tham quan...)
+ Xem vứt rác bừa bãi là việc bình thường.
* Đánh giá việc làm trên:
- Rất nguy hại đến sức khỏe con người, gây ra một số bệnh nguy hiểm.
- Gây ô nhiễm môi trường sống, làm cây cối chết hoặc cản trở quá trình
sinh trưởng của thực vật...
- Làm mất đi vẻ đẹp cảnh quan.
* Suy nghĩ của em về vấn đề vứt rác bừa bãi: lên án hay đồng tình?
* Nêu ra một số biện pháp khắc phục hiện tượng trên: tuyên truyền, vận
động mọi người...
c. Kết bài:
Kết luận vấn đề vứt rác bừa bãi.
Nêu ra một số biện pháp khắc phục hiện tượng trên: tuyên truyền, vận
động mọi người...
4.2.3 Giáo viên nhận xét và đánh giá chung về bài làm văn của học sinh
Bước này giúp học sinh nhận ra và nắm được tình hình bài làm của mình,
của các bạn trong lớp. Đây là bước chuẩn bị tiếp theo cho việc phân tích chữa lỗi
trên các bài làm của học sinh.
có tác dụng sửa lỗi cho học sinh.
Có thể tổ chức hoạt động nhóm nhỏ để học sinh cùng thảo luận, phát hiện
và nêu hướng giải quyết.
Sau khi giáo viên hướng dẫn sửa bài chung, cho học sinh trao đổi bài làm
trong nhóm để cùng đọc và rút kinh nghiệm. Có thể cho các em chấm bài nhau,
cùng chỉ ra các sai sót trong bài làm và ghi vào phiếu học tập hoặc vở bài tập.
Giáo viên cũng nên dành thời gian cho học sinh nêu lên những thắc mắc về
bài làm của mình, của các bạn trong nhóm, kể cả những thắc mắc về điểm số.
Giáo viên có thể chủ động đến với một vài em mà mình biết rằng những em
đó có những vấn đề cần thắc mắc hay thất vọng.
4.2. 5 Đọc và bình những bài văn hay, đoạn văn viết tốt.
Giáo viên chọn một vài bài viết tốt rồi đọc trước lớp, tổ chức cho các em
nhận xét, rút kinh nghiệm chung.Việc đọc và bình một bài văn hay, một đoạn văn
viết tốt giúp học sinh được tham khảo những cách dùng từ độc đáo, sáng tạo;
những cách mở bài ấn tượng, hấp dẫn...Việc làm này cũng khiến học sinh đối
chiếu, so sánh ngầm giữa bài viết của mình và của bạn, nhận ra cái hay của bạn,
cái dở của mình. Từ đó được học tập, vận dụng vào việc viết bài của mình sau này.
Để thực hiện được bước này trong khâu trả bài, giáo viên phải sàng lọc, lựa
chọn để tìm được những bài văn, đoạn văn thực sự chuẩn mực. Sau khi đọc, giáo
viên tổ chức cho học sinh phát biểu cảm nhận, bình giá về đoạn văn bài văn đó
(bình giá về hệ thống ý của bài, cách dùng từ, đặt câu, dùng phép liên kết, chuyển
ý, thể hiện cảm xúc,…). Giáo viên cũng nên chuẩn bị những lời bình đích đáng cho
các bài và đoạn văn như thế.
Khi thực hiện hoạt động này, không nên tập trung vào một số học sinh giỏi
của lớp mà còn chú ý vào cả những em trung bình, khá nhưng có tiến bộ trong làm
bài để khuyến khích, động viên học sinh. Giáo viên không nêu tên học sinh có bài
viết mà giáo viên đã đọc cho cả lớp nghe
4.2. 6 Trả bài và giải quyết những thắc mắc của học sinh
II. Phương pháp/ kĩ thuật dạy học
- Thảo luận, trao đổi về bài của HS
III. Chuẩn bị
- Giáo viên: Bài làm của HS, đáp án, biểu điểm.
- Học sinh: Xem lại kiểu bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn
trích).
IV. Kiểm tra bài cũ
? Thế nào là nghị luận về 1 tác phẩm truyện hoặc đoạn trích?
V. Tiến trình tổ chức các hoạt động
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY ,
TRÒ
Hoạt động 1: xác định lại yêu
cầu đề
NỘI DUNG
I/ Xác định yêu cầu đề bài :
Đề : Suy nghĩ của em về nhân vật Ông Hai trong
- Giáo viên yêu cầu hs nhắc lại truyện ngắn làngcủa Kim Lân.
đề bài
·
Tìm hiểu đề :
? Xác định yêu cầu của đề bài - Yêu cầu : Phân tích
trên
?
- Nội dung : Nhân vật Ông Hai trong truyện ngắn
- Học sinh: Xác định
Làng.
- Học sinh nhắc lại cách lập + Khi ông Hai đi tản cư nhưng luôn nhớ về làng.
dàn ý của mình.
+ Luôn theo dõi và nghe ngóng tin tức kháng
- giáo viên lập 1 dàn ý chi tiết chiến.
vào bảng phụ hoặc màn chiếu + Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo Tây.
đưa lên để học sinh đối chiếu
+ Khi nghe tin đồn được cải chính.
- Nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Đặt nhân vật vào tình huống đặc biệt.
+ Các chi tiết miêu tả nhân vật (tâm lí, lời nói, cử
chỉ, hành động…)
+ Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại,
độc thoại nội tâm)
c. Kết bài: Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật
ông Hai và thành công của nhà văn khi xây dựng
nhân vật này.
Hoạt động 3: nhận xét
- Giáo viên nhận xét ưu và
khuyết điểm của học sinh
III. Nhận xét :
1.
Ưu điểm :
- Xác định được yêu cầu của đề bài
- là bài viết ở nhà nên hầu hết hs có sự đầu tư tham
khảo thêm ở các bài viết
- Xác định được các luận điểm chính, có phân tích,
chứng minh
theo rõi – theo dõi
- Trao đổi bài cho bạn đọc
chéo của nhau ( mỗi học sinh
chuẩn bị 1 tờ giấy nháp ghi ra
những nhận xét về ưu, khuyết
điểm của bài bạn và những lỗi
mình đã sửa cho bạn
- Giáo viên đọc lỗi - cả lớp
sửa, học sinh tự sửa vào bài
làm của mình
HĐ 5: Đọc và bình
- Giáo viên đọc 2 bài văn hay
nhất để học tập, 1 bài điểm
TB để rút kinh nghiệm
- Sau khi giải đáp các thắc
mắc về bài làm của học sinh,
nếu không còn vấn đề gì thì
giáo viên lấy điểm vào sổ.
rành thời gian – dành thời gian
trân thực – chân thực,
câu truyện – câu chuyện
2.
Lỗi dùng từ
VD: mỗi sáng ông lại đi hóng gió ở bảng tin
để nghe tin tức.
Bài viết
Tổng số học sinh: 48
Điểm dưới trung bình
Số lượng
Tỷ lệ
Điểm từ trung bình
trở lên
Số lượng
Ghi chú
Tỷ lệ
1
Bài viết số 1
8
16,6%
40
83,4%
0,4%
46
96,0%
5
Bài viết số 5
0
0
48
100%
Có lẽ sáng kiến kinh nghiệm này chưa thực sự sâu sắc và có tính thuyết
phục cao, nhưng qua bảng so sánh trên đã cho thấy được sự chuyển biến theo
hướng ngày càng tích cực về chất lượng của học sinh. Vì vậy tôi hi vọng và tin
tưởng rằng trong thời gian tới, với sự tìm tòi, khả năng sáng tạo và sự nỗ lực của
cả thầy và trò, chất lượng học tập của học sinh sẽ được nâng cao hơn nữa.
III. PHẦN KẾT LUẬN
1.
Những kết luận đánh giá cơ bản nhất về đề tài.
chức các buổi sinh hoạt chuyên môn trao đổi và phân tích vai trò, vị trí của việc
chấm trả bài nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy môn
ngữ văn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ VỀ ĐỀ TÀI
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
........
XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO PHÒNG GD ĐT VỀ ĐỀ TÀI
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
........