SANG KIEN KINH NGHIEM chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy phần cảm thụ văn học cho học sinh lớp 4 và 5 - Pdf 22

PHNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYN MỸ ĐỨC
TRƯNG TIỂU HỌC ĐỐC TÍN
SÁNG KIẾN KINH NGHIM
CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY PHẦN “ CẢM THỤ VĂN HỌC ” CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ 5
Môn: Tiếng Việt
Tác giả: Đinh Thu Dung
Chức vụ: Phó hiệu trưởng
NĂM HỌC 2012 - 2013
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
1.1.Cơ sở lý luận:
Đất nước đang trên đà phát triển, nhịp sống tưng bừng đang hối hả khắp
nơi cả dân tộc đang vươn mình trỗi dậy, đang từng ngày từng giờ thay đổi da
thịt., vươn lên những tầm cao mới, tầm cao của tri thức, của công nghệ thông
tin, của xã hội loài người.
Với tầm nhìn chiến lược, Bộ Giáo dục Đào tạo đã đi đến một quyết định
sáng suốt thay đổi chương trình sách giáo khoa mới cho phù hợp với xu thế phát
triển xã hội, đáp ứng lòng mong mỏi của các thầy cô giáo cũng như các bậc phụ
huynh học sinh. Sách giáo khoa thay đổi thì phương pháp dạy học cũng phải
thay đổi để phù hợp với nội dung chương trình của Sách giáo khoa.
Nghị quyết đại hội Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ II khóa VIII
đã khẳng định: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”, trong đó nêu rõ mục
tiêu của giáo dục là “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có ý
thức, có sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lỹ tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết này cũng chỉ rõ nhiệm vụ chủ yếu của Giáo dục – Đào tạo là
phát triển quy mô, giáo dục cả đại trà lẫn mũi nhọn, trên cơ sở đảm bảo các điều
kiện nâng cao chất lượng giáo dục.

học sinh phần cảm thụ văn học lớp 4, 5”. Với mong muốn giúp thầy và trò nắm
chắc một số kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy và học cần thiết, trực tiếp khơi
nguồn cho dòng chảy văn học của thầy và trò nhà trường tiều học ngày càng
phong phú, đa dạng và không bao giờ cạn kiệt.
2/ Mục đích nghiên cứu đề tài.
3
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học đối vơi vấn đề bồi dưỡng phần
cảm thụ văn học trong trường tiểu học.
Chỉ đạo rèn kỹ nang nói đúng, nói hay, viết hay tiếng mẹ đẻ, giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt.
Chỉ đạo việc bồi dưỡng khả năng viết văn của học sinh.
Giáo dục lòng tự hào, yêu quý và ý thức giữ gìn phát triển tiếng mẹ đẻ.
3/ Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Học sinh khối lớp 4, lớp 5 trường tiểu học Đốc Tín – Mỹ Đức – Hà Nội.
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy bồi dưỡng cảm thụ văn học cho
học sinh khối lớp 4, lớp 5 trong trường tiểu học.
4/ Nhiệm vụ nghiên cứu
• Tìm hiểu việc dạy cảm thụ văn học của giáo viên trong nhà trường.
• Tìm hiểu việc dạy cảm thụ văn học cho học sinh
• Tìm ra các giải pháp chỉ đạo việc dạy và học cảm thụ văn nhăm nâng
cao chất lượng bài viết của học sinh.
• Tổ chức cho giáo viên dạy thực nghiệm
• Trên cơ sở kết quả đạt được tổ chức hội thảo để rút ra những bài học
kinh nghiệm.
5/ Giới hạn của đề tài
Số lượng: 109 em học sinh khối lớp 4, lớp 5 trường tiểu học Đốc tín.
Thời gian thực hiện: Từ tháng 9 năm 2012 đến cuối tháng 04 năm 2013.
6/ Các phương pháp nghiên cứu

• Học để khẳng định mình
PHẦN 2: NỘI DUNG
1/Thực trạng ban đầu
1.1.Về phía học sinh:
Trường tiểu học Đốc Tín có 109 học sinh khối lớp 4 và lớp 5 được biên
chế thành bốn lớp.
Các em hoàn toàn tự học, tự làm bài dưới sự hướng dẫn của cô giáo, tự
viết bài theo cảm hứng. Chính vì vậy mà kết quả đạt được của các em hoàn toàn
phụ thuộc vào các cô giáo và sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường.
1.2. Về phía giáo viên:
Giáo viên tiểu học có một đặc thù riêng là phái dạy tất cả các môn học.
Nhưng trình độ năng lực về môn Toán và Tiếng Việt không đồng đều, có người
lại thiên về Toán. Chính vì vậy khi dạy phần cảm thụ văn học cho học sinh bài
6
dạy trở nên khô khan, không hấp dẫn, không tạo cho các em niềm say mê văn
học.
1.3. Về phía công tác chỉ đạo:
Nhà trường đã có chú trọng chỉ đạo các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên
dạy Toán và Tiếng Việt nhưng còn rất hạn chế. Trong quá trình triển khai chưa
có sự chỉ đạo nhất quán, sát sao, thiếu những định hướng chuẩn để thực thi nên
chưa có biện pháp hiệu quả.
1.4. Thống kê thực trạng học tập của học sinh:
Kết quả khảo sát chất lượng ban đầu như sau:
Lớp Sĩ số
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm Yếu
SL % SL % SL % SL %
4A 29 5 17.2 18 62.1 6 20.7
4B 30 3 10 8 26.7 15 50 4 13.3
5A 24 1 4.2 4 16.7 14 58.3 5 20.8
5B 26 4 15.4 7 26.9 13 50 2 7.7

ít nhiều xa lạ nhưng lại xuất hiện rất nhiều trong sách giáo khoa Tiếng Việt, tiểu
học như cải danh, quy định , uyển ngữ, hiển ngữ,… để làm chỗ dựa cho việc vận
dụng phân tích thơ văn của học sinh.
2.3. Chỉ đạo giáo viên xây dựng và dạy chuyên đề đổi mới nội dung và hình
thức dạy “cảm thụ văn học” theo quy trình sau:
8
Sau khi nêu cho học sinh hiểu khái niệm của mỗi hình thức tu từ, giáo
viên sẽ nêu ví dụ minh họa và phân tích sơ lược biện pháp mà tác giả đã sử dụng
trong ví dụ đó để học sinh hiểu sâu bản chất của vấn đề mà giáo viên đưa ra.
Minh họa cụ thể hình thức tổ chức và phương pháp truyền tải nội dung
như sau:
2.3.1. Biện pháp 1:
Cảm thu văn học qua việc khai thác các biện pháp nghệ thuật trong
các bài văn, bài thơ.
Một trong những biên pháp giúp cho các em có năng lực cảm thụ văn học
tốt là giúp cho học sinh nhận biết được các biện pháp nghệ thuật và tác dụng của
nó được tác giả sử dụng trong các tác phẩm văn học.
Các biện pháp nghệ thuật thương gặp trong các bài văn, bài thơ ở bậc Tiểu
học là: (So sánh, nhân hóa, điệp từ và đảo ngữ…)
Để Cảm thụ tốt các tác phẩm văn học thông qua việc khai thác các biện
pháp nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ. Học sinh cần thực hiện tốt các yêu
câu sau đây:
- Hiểu được thế nào là biện pháp nghệ thuật : So sánh, nhân hóa, điệp từ và đảo
ngữ , ( thông qua phân môn Luyện từ và câu.)
- Xác định đúng những biện pháp nghệ thuật trong bài văn, bài thơ.
- Xác định đúng những từ, cụm từ, hình ảnh( ngữ liệu) thể hiện biện pháp nghệ
thuật.
- Cảm nhận được giá trị nghệ thuật làm tăng giá trị nội dung, ý nghĩa của bài
văn, bài thơ.
 Một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu thường gặp trong các bài tập đọc ở

được gợi tả trong đoạn thơ trên.
10
+ Học sinh xác định được :
Nghệ thuật được sử dụng : Nghệ thuật nhân hóa
Hình ảnh nhân hóa : ôm lấy núi.
+ Cảm nhận được :
Rừng mơ bao quanh núi được nhân hóa (ôm lấy núi) cho thấy sự gắn bó
gần gũi, thân mật và thắm đượm tình cảm của cảnh thiên nhiên.
Hoa mơ nở trắng như mây trên trời đọng (kết) lại.
Gió chiều đông nhè nhẹ (gờn gợn) đưa hương hoa mơ lan tỏa đi khắp nơi.
Có thể nói, đoạn thơ trên đã vẽ ra bức tranh mang vẽ đẹp của đất trời hòa quyện
trong rừng mơ Hương Sơn.
* Vì vậy, khi sử dụng nghệ thuật nhân hóa hợp lý sẽ tạo cho sự vật trở nên
sinh động, gợi hình ảnh biểu cảm.
3. Nghệ thuật điệp ngữ.
Điệp ngữ là cách diễn đạt một từ, một ngữ được nhắc lại nhiều lần nhằm
mục đích nhấn mạnh ý, khẳng định, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm
xúc trong lòng người đọc, người nghe.
Ví dụ : “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.”
( Hồ Chí Minh)
+ Học sinh xác định được:
Nghệ thuật được sử dung : Điệp ngữ
Từ ngữ được nhắc lại trong hai câu thơ (đoàn kết, thành công.)
+ Học sinh cảm nhận được sự mạnh mẽ trong lời khẳng định của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về tinh thần đoàn kết sẻ đem đến sự thành công to lớn.
* Vì vậy, sử dụng điệp ngữ có chọn lọc, hợp lý sẻ có tác dụng làm nổi bậc
ý, giúp câu văn, câu thơ mạnh mẽ, nhịp nhàn và tạo nên âm điệu, tính nhạc cho
đoạn thơ, câu văn.
11

+ Được thể hiên qua các từ ngữ ( ghé,
xem)
+ Cho ta thấy được tinh thần học tập
rất chăm chỉ của các bạn học sinh ( làm
cho nắng như đứa trẻ nhỏ đang tung
tăng chạy nhãy cũng muốn dừng lại
ghé vào cửa lớp để xem các bạn học
bài.)
Ví dụ 2: Trong bài thơ Tre Việt Nam ( SGK -TV5/1) nhà thơ Nguyễn Duy có
viết
“Mai sau,
Mai sau,
Mai sau,
Đất xanh xanh mãi xanh màu tre xanh.”
Em hãy cho biết : tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nổi bật ?
Cách sử dụng nghệ thuật đó đã nói lên điều gì? Nhằm khẳng định điều gì ?
Học sinh nêu được .
13
+ Biện pháp nghệ thuật tiêu biểu của đọan
thơ trên là gì?
+ Các từ ngữ nào thể hiện biện pháp nghệ
thuật ?
+ Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật
điệp ngữ.
(Gợi ý1 : nhận xét về cách ngắt nhịp, ngắt
dòng và điện ngữ Mai sau )
(Gợi ý2 : Xem xét việc lặp lại từ từ xanh
trong dòng thơ cuối)
+ Biện pháp nghệ thuật : Điệp ngữ.
+ Từ ngữ được lặp lại là :Mai sau,

+ Nêu tác dụng của các từ ngữ Dang tay ;
gật đầu ?
+ Những từ ngữ nào thể hiện nghệ thuật so
sánh.
+ Nêu tác dụng của các từ ngữ thể hiện
nghệ thuật so sánh.
+Phép nhân hóa được thể hiện qua
các từ ngữ : Dang tay đón gió ; gật
đầu gọi trăng.
+ Các từ ngữ đó có tác dụng làm cho
các vật vô tri vô giác (là cây dừa) trở
nên có những biểu hiện tình cảm như
con người. Dừa cùng biết mở rộng
vòng tay để đón gió, cũng gật đầu
mời gọi trăng lên.
+Phép so sánh được thể hiện qua các
từ ngữ : Quả dừa (giống như) đàn
lợn con ; tàu dừa (giống như) chiếc
lược.
+ Cách so sánh ở đây được chọn
những sự vật thật là gần gũi, thể hiện
sự liên tưởng rất phong phú của tác
giả.
* Qua cách so sánh này làm cho cảnh
vật trong thơ trở nên sinh động, có
đường nét, hình khối và có sức gợi
tả, gợi cảm cao.
Ví dụ 4 : Trong bài thơ Tiếng hát mùa gặt( SGK-TV5/1) nhà thơ Nguyễn Duy
có viết :
“Gió nâng tiếng hát chói chang

thức về ngữ pháp như : từ vựng và các kiến thức về các biện pháp tu từ…)
+ Giúp học sinh phát hiện ra được các biện pháp nghệ thuật được tác giả được
sử dụng trong tác phẩm và các ngữ liệu thể hiện biện pháp nghệ thuật . Qua đó
giúp các em cảm nhận nội dung, ý nghĩa của nghệ thuật làm tô đẹp giá trị của
tác phẩm.
16
+ Trong giảng dạy phân môn tập đọc, giáo viên cần thực hiện tốt việc đọc diễn
cảm và luyện đọc diễn cảm cho học sinh.
2.3.2. Biện pháp 2 :
Cảm thụ văn học thông qua việc tìm hiểu nội dung, ý nghĩa.
Mỗi bài văn, bài thơ hay đoạn, câu văn, thơ đều mang một nội dung, ý nghĩa.
Việc khai thác nội dung của nó giúp học sinh cảm nhận được nét tinh tế, và giá
trị nghệ thuật mà tác giả đã nhắn gửi vào.
1. Một số ví dụ minh họa
Ví dụ 1: Trong bài thơ Dừa ơi (SGK- TV5/2) nhà thơ Lê Anh Xuân có viết :
“Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút
Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng.
Rễ dừa bám sâu vào lòng đất
Như dân làng bám chặt quê hương.”
Em hãy cho biết : hình ảnh cây dừa trong đoạn thơ trên nói lên những điều gì
đẹp đẽ về người dân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
Học sinh phải trả lời được các câu hỏi.
- Từ ngữ hình ảnh nào miêu tả cây dừa
( dáng, lá, rể) ?
- Hình ảnh so sánh trong đoạn thơ
+ Dáng : đứng hiên ngang.
+ Lá : rất mực dịu dàng.
+ Rể : bám sâu vào lòng đất.
+ Rể dừa bám sâu vào lòng đất
( như) dân làng bám chặt quê hương.


+Ý nói phẩm chất kiên cường bám trụ
giữ đất, giữ làng, gắn bó chặt chẽ với
mảnh đất quê hương miền Nam.

*Cảm nhận được :
+Cây dừa là hình tượng của con người miền Nam.
+Rể, thân ,lá, dáng vóc của dừa qua ngòi bút miêu tả của tác giả trở thành phẩm
chất cao đẹp của con người miền Nam.
Ví dụ 2 : Trong bài Vàm Cỏ Đông (SGK-TV3/1) nhà thơ Hoài Vũ có viết :
« Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
18
Chở tình thương trang trải đêm ngày. »
Đọc đoạn thơ trên, em cảm nhận được vẻ đẹp đáng quý của dòng sông quê
hương như thế nào ?
- Học sinh phải trả lời được các câu hỏi.
- Biện pháp nghệ thuật của đoạn thơ là
gì ?
- Hình ảnh so sánh trong đoạn thơ ?
+ Nghệ thuật so sánh
+ Dòng sông- dòng sữa mẹ.
+ Nước dòng sông đầy- tấm lòng người
mẹ
Học sinh nêu được
+ Hai dòng thơ đầu ý gợi tả gì ?
( Gọi ý : Vì sao được ví như dòng sữa
mẹ)
+ Hai dòng tiếp theo ý nói gì ?

+ Các từ nào thể hiện nghệ thuật ?
+ Tìm hình ảnh, âm thanh trong cuộc
sống xung quanh đã gợi lên trong tâm
trí câu học trò ?
+ Nghệ thuật nhân hóa và cách gieo
vần.
+ Nhân hóa : thở Cách gieo vần : ngày-
cây ; nhà-xa ; xa-bà ; xưa- dừa.
+ Các hình ảnh : nắng chói chang, cây
cối xanh tươi (Tiếng thơ đỏ nắng xanh
cây quanh nhà)
+ Các âm thanh. Tiếng mái chèo quẫy
nước, khua nước vọng lại từ dòng sông
hiện về trong kí ức. Tiếng ru ạ ơ của
người bà ru cháu trong những năm
tháng cậu học trò còn thơ bé.Tiếng tàu
dừa trở mình dưới ánh trăng khuya…
20
Cảm nhận được :
+ Với những lời thơ của thầy đọc, cảnh vật xung quanh muôn màu, muôn âm
sắc tươi sáng đã hiện ra trong tâm trí của cậu học trò.
+ Cuộc sống được gợi lên, gợi ra có sự kết nối giữa quá khứ với hiện tại.
Ví dụ 4 : Trong bài thơ Bóc lịch (SGK- TV2/1), nhà thơ Bế Kiến Quốc có đoạn
viết :
« Ngày hôm qua ở lại
Trang vở hồng của con
Con học hành chăm chỉ
Là ngày mai vẫn còn… »
Theo em, qua đoạn thơ trên nhà thơ muốn nói với các em điều gì ?
- Học sinh xác định được :

cơ bản là học sinh viết bài văn cảm thụ không đạt yêu cầu. Nguyên nhân là vì
khi phân tích bình giá thơ văn, học sinh ít chú ý khai thác phương diện ngôn ngữ
của bài văn, bài thơ… Cụ thể là ít chú ý phân tích các biện pháp tu từ về ngữ
âm, từ ngữ, cú pháp được tác giả sử dụng trong bài văn, bài thơ. Vì vậy việc
phân tích bình giá thường nặng nề về cảm nhận, chủ quan, thiếu cơ sở khoa học.
Với biện pháp này, tôi đã dành một số tiết để đi sâu vào phân tích cụ thể một số
22
bài thơ,bài văn trong sách giáo khoa, tạo hứng thú và khơi nguồn cảm xúc cho
các em khi học phần cảm thụ văn học.
Minh họa cụ thể bằng một ví dụ: (Giáo viên phân tích).
Ví dụ:
“Phân tích bài Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy
Phân tích: Bài “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy được sang tác trong
thời kỳ đế quốc Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh hủy diệt đất nước ta.
Mở đầu bài thơ là một câu tu từ:
Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Và liền sau đó là một câu trả lời:
“ Chuyện ngày xưa…đã có bờ tre xanh”.
Chuyện về cây tre thì đã có từ ngàn xưa, nào chuyện Thánh Gióng nhổ tre
đánh tan giặc Ân, nào chuyện “Cây tre trăm đốt”,… Cây tre đã từ xa xưa là
người bạn thủy chung của con người Việt Nam yêu nước. Cây tre đã trở thành
một trong những biểu tượng đẹp đẽ về sức sống và phẩm chất của con người
Việt Nam. Cái không khí huyền thoại của khổ thơ đầu đã làm cho người đọc
trong suốt cả bài thơ sẽ hiểu các ý nghĩa biểu trưng của cây tre Việt Nam. Từng
bước, từng bước qua mỗi khổ thơ, tác giả sẽ mô tả cây tre với những đức tính
của dân tộc: cần cù, lạc quan, thương yêu, đùm bọc và kiên cường, bất khuất.
Cái nét kỳ diệu đầu tiên làm cho bài thơ phải ngỡ ngàng, sao động là cái
thực tế đầy mâu thuẫn của tre:
Thân gầy guộc, là mong manh

gió. Nghĩa là trong sự chịu đựng này, tre có một ý thức giáo dục con cháu của
mình, trong một đất nước ở vùng nhiệt đới nắng nhiều, tre còn là biểu tượng của
sức sống hiên ngang thần kỳ.
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.
Đây là một khổ thơ chỉ gồm có hai câu đứng tách riêng ra. Hình thức của
khổ thơ rất phù hợp với biểu tượng nói trên.
24
Khổ thơ tiếp theo là khổ dài nhất, gồm 14 câu nói đến những phẩm cách
còn quý giá hơn của tre.
Tre biết thương nhau, đùm bọc lấy nhau, tre biết truyền cho con cháu
“Cái gốc” để con cháu noi theo, tre biết chịu đựng mọi gian khổ, dám hy sinh tất
cả cho con cái. Kết quả là lớp măng non đã tiếp thu được truyền thống bất khuất
của ông cha, những phẩm cách này của tre cũng chính là của con người Việt
nam. Tre tiếp tục được nhân hóa sâu sắc hơn theo những quan hệ gia đình, cộng
đống của con người.
Bão bùng than bọc lấy than
Tay ôm, tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người
Miêu tả những khóm tre trong gió bão mà dùng những hình ảnh “ Thân
bọc lấy thân”, “Tay ôm tay níu” của thân tre, cành tre, thì thật là sát đúng với
thực tế mà lại còn nói lên được sự thân yêu đoàn kết giữa những con người với
nhau. Tre có thể liên kết với nhau thành lũy là trường hợp duy nhất trong các
loại cây được con người gọi kèm với từ “ Lũy”: Lũy tre.
Tre còn là biểu tượng cho niềm kiêu hãnh, hiên ngang và sự hy sinh cao
đẹp:
“Chẳng may thân gãy cành rơi
Vẫn mang cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status