Thực trạng chỉ đạo hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở
DANH MỤC VIẾT TẮT
CNH Công nghiệp hoá
HĐH Hiện đại hoá
THCS Trung học cơ sở
GD ĐT Giáo dục đào tạo
PPDH Phương pháp dạy học
GV Giáo viên
HS Học sinh
DCH Dân chủ hoá
CSVC Cơ sở vật chất
TBDH Thiết bị dạy học
HĐND Hội đồng nhân dân
XHHGD Xã hội hoá giáo dục
BCHTƯ Ban chấp hành Trung ương
CBCC Cán bộ công chức
CBQL Cán bộ quản lý
QLGD Quản lý giáo dục
THPT Trung học phổ thông
THCN Trung học chuyên nghiệp
2
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp trở thành nước
công nghiệp , hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi
của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực Việt
Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí
được nâng cao. Vì vậy phải chăm lo đến nguồn lực người, chuẩn bị lớp người
lao động có những phẩm chất và đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới và việc
này cần phải bắt đầu từ giáo dục phổ thông. Tinh thần đó được thể hiện qua
chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác quản lý giáo dục cần đổi mới để theo kịp các
yêu cầu, các nhiệm vụ mới, một mặt cần tạo điều kiện cho giáo viên thuận lợi
hơn, phấn khởi hơn trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, một mặt
cần xem chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học là một nội dung của công tác
4
quản lý giáo dục.
Vì thế chúng tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “ Thực trạng chỉ đạo hoạt
động đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở“.
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đề xuất một số biện pháp chỉ đạo hoạt động đổi mới phương pháp dạy học
của hiệu trưởng ở trường THCS nhằm hiện thực hoá chủ trương đổi mới
PPDH của ngành và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý cho cán bộ quản lý
trường THCS.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
3.2 Điều tra, khảo sát và đánh giá thực trạng chỉ đạo hoạt động đổi mới
PPDH ở trường THCS.
3.3 Đề xuất một số biện pháp chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH của hiệu
trưởng ở trường THCS.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đề tài tập trung nghiên cứu những biện pháp chỉ đạo của hiệu trưởng
trường THCS đối với giáo viên để thực hiện đổi mới PPDH theo hướng phát
huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh đáp ứng đổi mới nội
dung chương trình, SGK ở THCS.
Phạm vi khảo sát được thực hiện ở một số trường THCS của Hà Nội, Hà
Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hoá, Hà Giang.
5
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu, thu thập phân
tích thông tin để tìm hiểu một số khái niệm về PPDH, chỉ đạo dạy học
- Điều chỉnh sửa chữa báo cáo kết quả nghiên cứu
- Bảo vệ đề tài nghiệm thu cấp Bộ.
NỘI DUNG CỦA BÁO CÁO
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI PPDH Ở
TRƯỜNG THCS
1.1 Cơ sở pháp lý của việc đổi mới PPDH ở Trường THCS
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông nói chung và THCS nói riêng
thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng IX, Nghị quyết 40/2000/QH 10. Chỉ
7
thị số 14/2001/CT-TTg là đổi mới nội dung giáo dục, sách giáo khoa; đổi
mới phương pháp giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá đồng thời với đổi
mới cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và công tác quản lý giáo dục. Trong đó
đổi mới PPGD giữ vai trò đặc biệt quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo
dục THCS.
Đổi mới phương pháp giáo dục là một chủ trương của Đảng và Nhà
nước. Nghị quyết Trung ương 2 khoá 8 đã nêu rõ: “Phải đổi mới phương
pháp giáo dục-đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành
nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp
tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học bảo đảm điều kiện
và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”.
Luật giáo dục, điều 24 khoản 2 quy định: “Phương pháp giáp dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
THCS là một cấp học phổ cập trong thời gian tới (năm 2010) nhằm
nâng cao mặt bằng dân trí, chuẩn bị đào tạo nguồn cho giai đoạn CNH,
HĐH. Do vậy đã có những đổi mới đồng bộ về mục tiêu, nội dung,
phương pháp, phương tiện để đáp ứng các yêu cầu mới của xã hội, cũng
như yêu cầu mới của người học. Việc biên soạn sách giáo khoa mới với
- Các phương pháp kiểm tra và tự kiểm tra hiệu quả của hoạt động nhận
thức, học tập.
Cách phân loại của Đanilov M.A:
Cách phân loại này dựa trên mục đích và nhiệm vụ dạy học được thể hiện
trong mỗi giai đoạn của quá trình dạy học - ông chia hệ thống phương
pháp dạy học làm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Nghiên cứu tài liệu mới.
- Nhóm 2: ứng dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, củng cố kỹ năng kỹ xảo.
- Nhóm 3: Kiểm tra kiến thức của học sinh.
Cách phân loại của Pêtrôvsky:
Trên cơ sở các phương tiện được sử dụng trong quá trình dạy học, ông
chia hệ thống phương pháp dạy học thành 3 nhóm lớn:
- Nhóm 1: Phương pháp dùng lời
- Nhóm 2: Phương pháp trực quan
- Nhóm 3: Phương pháp thực hành
Cách phân loại của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang:
10
Theo ông phân loại là một quy luật về mối liên hệ qua lại biện chứng
giữa mục đích, nội dung và phương pháp. Theo quan điểm đó, ông phân
loại hệ thống phương pháp dạy học thành 5 nhóm như sau:
- Nhóm 1: Nghiên cứu tài liệu mới.
- Nhóm 2: Củng cố kiến thức
- Nhóm 3: Vận dụng phức hợp kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
- Nhóm 4: Khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức
- Nhóm 5: Kiểm tra đánh giá và uốn nắn kiến thức kỹ năng, kỹ xảo.
Trong những năm gần đây với sự phát triển như vũ bão của khoa học
công nghệ, những yếu tố kỹ thuật hiện đại đã xâm nhập sâu vào tất cả mọi
lĩnh vực đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực khoa học giáo dục. Chính vì
thế trong lý luận dạy học nói chung cũng như trong lĩnh vực phương pháp
dạy học nói riêng đã xuất hiện những xu hướng tiếp cận về phương pháp
phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truiyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
12
phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học,
đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là
sinh viên đại học”
- Định hướng PPDH ở Trường THCS là phương pháp dạy học tích
cực với những đặc trưng cơ bản là:
+ Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn với vai trò trọng tài, cố
vấn.
Học sinh là chủ thể nhận thức, được phát triển trong hoạt động, được
giáo viên hướng dẫn, khuyến khích, động viên học sinh học tập bằng hành
động tuỳ theo hứng thú và khả năng của mình.
+ Sử dụng ngày càng nhiều phương pháp và phương tiện kỹ thuật để
có thể cá thể hoá, phân hoá việc học tập của học sinh.
+ Quan tâm tới việc hướng dẫn học sinh học tập cá nhân.
- Phương pháp dạy học phải :
+ Kế thừa những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền
thống.
+ Lựa chọn, phối hợp các PPDH hiện đại nhằm tích cực hoá hoạt
động nhận thức của từng cá nhân học sinh. Cần tiếp cận với PPDH
giải quyết vấn đề vận dụng tinh thần của lý thuyết dạy học tình
huống, dạy học hợp tác…
- Hệ PPDH được lựa chọn phải:
13
+ có tính thực thi, có khả năng áp dụng vào thực tiễn dạy học của
nước ta và có tác dụng cải tạo dần thực tiễn đó.
+ Các PPDH sẽ phối hợp các hoạt động độc lập của học sinh.
+ HS cần được tạo điều kiện hoạt động học tập độc lập dưới sự kiểm
tra của GV.
+ Phân hoá vừa sức cố gắng của đối tượng.
+ Tăng cường dạy cách tự học, tự hoàn thiện mình cho mỗi học sinh.
- Đầu tư và sử dụng tối ưu các nguồn lực phục vụ cho hoạt động dạy học.
+ Tiềm lực của đội ngũ giáo viên
+ Cơ sở vật chất thiết bị dạy học
15
M N P
+ Môi trường giáo dục tích cực.
- Đổi mới cách quản lý cho phù hợp với sự đổi mới mục tiêu, nội dung
chương trình và phương pháp dạy học.
- Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá.
Nhìn chung, muốn đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả phải thực
hiện một cách có hệ thống đồng bộ trong bản thân các thành tố của quá
trình dạy học cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân trong thời đại
mới.
Trên đây chúng tôi đã trình bầy những vấn đề cốt lõi nhất của vấn đề lý
luận dạy học. Trong đó có kế thừa những giá trị của truyền thống và
những thành tựu mới hiện nay. Những vấn đề lý luận đó một mặt có thể
ứng dụng một cách sáng tạo trong đổi mới phương pháp dạy học ở trường
phổ thông. Mặt khác nó cũng là một trong những cơ sở để chỉ đạo hoạt
động dạy học theo tinh thần đổi mới ở trường THCS .
1.3. Cơ sở tâm lý học của hoạt động Dạy - Học
1.3.1. Hoạt động dạy và các đặc điểm tâm lý của nó
Hoạt động dạy bao gồm các loại công việc: a) công việc chuẩn bị của
giáo viên (vạch kế hoạch giảng dạy cả năm và từng chương, từng phần,
soạn giáo án, v v); b) công việc truyền đạt hay tổ chức sự lĩnh hội nội
dung và c) công việc nhằm bảo đảm mối liên hệ ngược từ học sinh đến
giáo viên, nghĩa là kiểm tra tiến trình và kết quả của hoạt động học.
16
Giáo viên phải hoạch định và thực hiện các loại công việc sau và phải
cũng đòi hỏi phải có 3 - 4 phương pháp dạy học, bao gồm nhiều thủ thuật
khác nhau, để học sinh có thể lĩnh hội được nó. Tính chất mềm dẻo trong
việc xây dựng các thủ thật và phương pháp dạy học tuỳ thuộc vào tính chất
của tài liệu học tập và trình độ của học sinh - đó là một thuộc tính đặc biệt
quan trọng, cần thiết đối với người giáo viên.
Yếu tố tâm lý khi soạn bài cũng giữ một vai trò lớn. Giáo viên phải hình
dung trước được trình độ của lớp học, tâm trạng của lớp, dự kiến phân chia
lớp học thành từng nhóm khác nhau theo khả năng lĩnh hội tài liệu có thể
có ở học sinh, dự kiến thái độ, phản ứng của học sinh với bài giảng,v v ở
giai đoạn này, giáo viên còn phải thiết kế các thủ thuật cá thể hoá việc dạy
học. Sự khéo léo và tế nhị về tâm lý đòi hỏi phải cá thể hoá việc dạy học.
Điều quan trọng là, trong một mức độ như nhau phải bảo đảm những điều
kiện để cho những khả năng cá nhân của từng học sinh - các năng lực,
18
nhịp độ lĩnh hội…được phát huy; đồng thời không hạ thấp học sinh yếu
hơn, cũng không thúc đẩy sự tự phụ của học sinh khá hơn.
Khi nhận xét và đánh giá các câu trả lời của học sinh thường xuất hiện
những tình huống tâm lý phức tạp. Các câu trả lời của học sinh thường
thiếu chính xác, không định hình. Trong những điều kiện đó thì điều cực
kỳ quan trọng là giáo viên phải biết nhận ra cái gì là cái mà học sinh muốn
nói ra nhưng không biết cách biểu đạt. Một kỹ năng cơ bản là kỹ năng cảm
nhận được hạt nhân của một ý nghĩ đúng đắn hoặc đặc sắc trong câu trả lời
không chính xác của học sinh, ủng hộ cái mầm chân lý hay tính độc đáo,
đem lại niềm tin cho học sinh.
Trong một mức độ đáng kể, thành công của việc dạy, học phụ thuộc vào
chỗ: dạy- học như là sự tác động qua lại giữa thầy và trò trên cơ sở một
nội dung dạy học xác định.
Khía cạnh tâm lý của sự tác động qua lại giữa thầy và trò là ở chỗ: nó
chính là sự giao tiếp trong quá trình dạy - học. Sự tác động qua lại giữa
thầy và trò (như là một quá trình giao tiếp với mục đích dạy - học) có mặt
thầy giáo mà không trau dồi trách nhiệm, lương tâm, nâng cao trình độ
chuyên môn, tay nghề, thì tất yếu sẽ bị tụt lùi. Muốn tránh điều đó, thì điều
quan trọng đối với người giáo viên là phải có tâm thế không ngừng tự
hoàn thiện bản thân và sáng tạo: Có thể thấy rõ 3 phạm vi sáng tạo của
người giáo viên: hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục học hoặc
bộ môn giảng dạy; hoạt động thiết kế trong lĩnh vực các thủ thuật, các
phương pháp và phương tiện dạy học; sự sáng tạo trong quá trình tổ chức
và thực hiện việc dạy học và giáo dục.
Những điều đã trình bày ở trên cho ta thấy tâm lí học dạy học giúp
chúng ta hiểu bản chất của hoạt động dạy và hoạt động học. Kết quả của
hoạt động này có những thể hiện bên ngoài có thể quan sát được và đằng
sau những sự kiện có thể quan sát được đó còn ẩn chứa những hiện tượng
tâm lí mà người giáo viên cần tìm hiểu, xem xét, để điều khiển hoạt động
học tập của học sinh, xác lập mối quan hệ giữa các hành động của thầy và
các hành động tương ứng của trò và định hướng kết quả của hoạt động
phối hợp cùng nhau này.
1.3.2. Hoạt động học và các đặc điểm tâm lí của nó
Hoạt động học là hoạt động của học sinh nhằm lĩnh hội nội dung kinh
nghiệm xã hội. Để lĩnh hội các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo (kinh nghiệm xã
hội) nhất định, học sinh có thể có hai cách học, và do đó có hai dạng hoạt
động học khác nhau. Cách thứ nhất chỉ nhằm nắm các khái niệm và kỹ
21
năng mới, xem đó là mục đích trực tiếp. Cách thứ hai là tiếp thu các tri
thức và kĩ năng trong khi thực hiện các mục đích khác. Học tập theo cách
thứ hai không phải là một hoạt động độc lập, mà là một quá trình được
thực hiện như là một thành phần và kết quả của một hoạt động khác.
Thông thường việc học của học sinh được diễn ra theo cả hai cách. Còn
hoạt động học mà ta nói ở trên đây là hoạt động có mục đích theo cách học
thứ nhất hướng trực tiếp vào việc nắm các tri thức và kĩ năng nhất định.
Các hoạt động khác trong nhà trường (vui chơi, lao động) cũng giúp cho
trách nhiệm và nghĩa vụ cũng giữ vai trò quan trọng đối với việc học tập.
1.4. Cơ sở lý luận quản lý giáo dục
Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của chủ thể quản lý nhằm thực
hiện tổ hợp các chức năng quản lý, đưa hệ quản lý tới mục tiêu. Quá trình
quản lý bao gồm 4 chức năng:
• Kế hoach hoá
• Tổ chức
23
• Chỉ đạo
• Kiểm tra
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi tập chung vào chức năng
chỉ đạo.
1.4.1. Khái niệm chức năng chỉ đạo:
- Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ
của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu chất lượng cao.
1.4.2. Vị trí, vai trò của chức năng chỉ đạo:
Chức năng chỉ đạo là chức năng thứ 3 trong 1 quá trình quản lý, nó có
vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu. Chức
năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành và hướng dẫn các hoạt động
nhằm đạt được mục tiêu có chất lượng và hiệu quả. Thực chất của chức
năng chỉ dạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới
những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống
giáo dục và nhà trường thành nhu cầu của mọi cán bộ công chức, trên cơ
sở đó mọi người tích cực tự giác và mang hết khả năng để làm việc. Do đó
chức năng chỉ đạo là cơ sở để phát huy các động lực cho việc thực hiện
các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của
các hoạt động.
1.4.3. Nội dung chủ yếu của chức năng chỉ đạo
Chức năng chỉ đạo là một chức năng quản lý quan trọng và cần thiết cho
việc hiện thực hoá các mục tiêu, do trong chỉ đạo giáo dục quán triệt