vi
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục ký hiệu viết tắt iv
Danh mục sơ đồ, bảng biểu v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.2.1. Quản lý, biện pháp quản lý 7
1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 11
1.2.3. Quản lý trường Trung học phổ thông 14
1.2.4. Quản lý sự thay đổi 15
1.2.5. Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học 17
1.3. Dạy học và đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông 20
1.3.1. Đặc điểm dạy học ở trường Trung học phổ thông 20
1.3.2. Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông theo
hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh 25
1.4. Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học ở trường Trung học
phổ thông 28
1.4.1. Đặc điểm và yêu cầu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
Hóa học ở trường trung học phổ thông 28
1.4.2. Nội dung quản lý đổi mới phương pháp dạy học 31
1.4.3. Vai trò của các chủ thể quản lý trong nhà trường đối với quản lý hoạt
động đổi mới phương pháp dạy học 37
1.4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở
trường Trung học phổ thông 39
viii
2.5. Đánh giá thực trạng 66
2.5.1. Mặt mạnh 66
2.5.2. Những hạn chế 68
2.5.3. Nguyên nhân của thực trạng 70
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MÊ
LINH, HÀ NỘI 72
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp 72
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học 72
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn của nhà trường 72
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 73
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học
ở Trường THPT Mê Linh, Hà Nội 73
3.2.1. Biện pháp 1: Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho
GV hóa học Trường THPT Mê Linh 73
3.2.2. Biện pháp 2: Đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn phù hợp với
đặc trưng môn hoá học 76
3.2.3. Biện pháp 3: Tổ chức phong trào tự học, tự bồi dưỡng cho đội ngũ
giáo viên Hóa học 78
3.2.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo ứng dụng đa phương tiện trong dạy học hóa học
ở trường THPT 79
3.2.5. Biện pháp 5: Quản lý hoạt động học hướng vào rèn luyện cho học sinh
năng lực tự học 82
3.2.6. Biện pháp 6: Chỉ đạo việc tăng cường thí nghiệm thực hành trong dạy
học môn hoá học 85
3.2.7 Biện pháp 7: Tổ chức bồi dưỡng cho học sinh phương pháp giải các
dạng bài tập trắc nghiệm môn hoá học. 86
Giáo viên
GCCN
Giáo viên chủ nhiệm
GVBM
Giáo viên bộ môn
HS
Học sinh
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
TBDH
Thiết bị dạy học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông v
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Quản lý các thành tố của quá trình dạy học 14
Bảng 2.1: Số lớp, học sinh của nhà trường theo năm học. 47
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại học sinh và kết quả tốt nghiệp của nhà trường 3 năm
gần đây. 48
Bảng 2.3: Quản lý khâu soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên 51
Bảng: 2.4: Quản lý giờ dạy trên lớp. 53
Bảng 2.5: Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý nhà trường và mức độ thực
hiện chương trình giảng dạy. 57
ngành tự khẳng định sự đổi mới vì sự phát triển của đất nước, của ngành.
Trong tiến trình đổi mới giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục luôn là giải pháp
cơ bản, là khâu đột phá.
Nói đến giáo dục đào tạo chúng ta đều nghĩ ngay đến nhà trường. Dạy
học là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường. Quản lý nhà trường thực tế là
quản lý hoạt động dạy và học. Đứng trước yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ
thông, việc đổi mới phương pháp là vấn đề tiên quyết, đổi mới quản lý giáo
dục mang tính then chốt.
2
Chất lượng giáo dục không chỉ phụ thuộc vào việc giảng dạy của từng
GV bộ môn mà còn phụ thuộc vào năng lực của người quản lý. Công tác
quản lý giáo dục nói chung và quản lý dạy học ở trường THPT hiện nay có
nhiều mặt tích cực song cũng bộc lộ những hạn chế nhất định.
Đổi mới hoạt động là xu thế của thời đại, là trào lưu chung của loài
người, là yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng đất nước ta trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là đòi hỏi của sự đáp ứng yêu cầu về đào
tạo con em chúng ta thành những người trưởng thành có thể tham gia vào thị
trường lao động đầy cạnh tranh và nhiều thay đổi.
Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy học của Ngành trong
những năm qua, trường THPT ở huyện Mê Linh, Hà Nội đã tích cực đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo
của học sinh. Chất lượng giáo dục đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy
nhiên, ở một số bộ môn như: Vật lý, Hóa học, …chất lượng giáo dục còn
thấp, vấn đề đổi mới phương pháp và quản lý đổi mới phương pháp ở những
bộ môn này còn nhiều hạn chế, đại bộ phận học sinh đều ngại học những
môn này.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt
động đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học ở trường trung học phổ
thông Mê Linh - Hà Nội” với mong muốn tìm ra được những biện pháp quản
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đổi mới PPDH Hóa học theo
hướng phát huy tính tích cực của học sinh ở trường THPT.
- Khảo sát đánh giá thực trạng đổi mới PPDH và quản lý đổi mới
PPDH hóa học ở Trường THPT Mê Linh.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH Hóa học ở
Trường THPT Mê Linh - Hà Nội.
4
6. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp lý luận: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân
loại tài liệu nghiên cứu làm cơ sở lý luận của đề tài.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều
tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn đối với học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý;
hỏi ý kiến các chuyên gia; phương pháp quan sát, tổng kết các kinh nghiệm
giáo dục.
- Phương pháp thống kê toán học để sử lý những số liệu thu được từ
khảo sát thực tế.
7. Phạm vi nghiên cứu
- Số liệu khảo sát từ năm học 2007-2008 đến 2011-2012 tại Trường
THPT Mê Linh.
- Xác định các biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn
hóa học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý đổi mới phương pháp dạy học Hóa
học THPT.
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý đổi mới phương pháp dạy môn
học Hóa học ở Trường THPT Mê Linh – Hà Nội.
Chương 3. Biện pháp quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
công tác quản lý giáo dục nói chung, còn ở phương diện quản lý cụ thể một
môn học trong trường trung học phổ thông trong đó có môn hóa thì chưa
6
được đề cập nhiều. Trong những năm gần đây lý luận về quản lý các môn
học trong trường trung học phổ thông đã được quan tâm, nhất là trong các
luận văn thạc sỹ về quản lý giáo dục.
Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn cho rằng: “Trong thực hiện mục tiêu đào
tạo, việc quản lý dạy và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường”. Đặc biệt
với sự tâm huyết của mình với công tác giáo dục, các tác giả đã nhấn mạnh:
Hiệu trưởng phải là người “ biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và
học (theo nghĩa rộng) với sự quản lý các quá trình bộ phận, hoạt động dạy và
học các môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho các hoạt động dạy và học
nhằm làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh chọn vẹn”. Các tác giả Lê
Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thanh đã nhấn mạnh vai trò công tác quản lý trong
việc nâng cao chất lượng giáo dục như sau: ” Các nhà làm công tác quản lý
giáo dục phải không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng điều hành và quản
lý của mình để qua đó tác động một cách hiệu quả vào quá trình cải tiến chất
lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ thống giáo dục ở cấp vi mô cũng như
vĩ mô.
Trong những năm gần đây, nhiều cán bộ quản lý trường trung học phổ
thông trong cả nước đã tập trung nghiên cứu về các biện pháp quản lý nhà
trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học, chẳng hạn như các luận văn thạc
sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục của các tác giả: Trần Xuân Thuấn với đề
tài: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại trường trung học
phổ thông Mỹ Đức B –Hà Nội ”(2009). Tác giả: Phạm Hồng Mai với đề tài:
“Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng anh tại trường trung học
phổ thông Thủy Sơn thành phố Hải Phòng” (2011). Tác giả: Nguyễn Thị
Bình với đề tài: “Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng anh
các trường trung học phổ thông quận Lê Chân –thành phố Hải Phòng”.
Theo tác giả H.Fayon người Pháp: “Quản lý hành chính là sự dự đoán
và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển và phối hợp kiểm tra”. [18]
8
Tác giả Hanord Koontz người Mỹ cho rằng: “Quản lý là duy trì một
môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm để có thể
thực hiện các mục tiêu đã định”.
Theo Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến sự chỉ đạo để
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những
khách quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [4,tr15]. Như vậy Mác đã lột tả
được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô
cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người.
Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa
học quản lý và khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của các chủ thể những người lao động (nói chung là khách thể
quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [25, tr.35].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “ Hoạt
động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người quản lý) trong một tổ chức
nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức “[8, tr.9 ].
Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định: “Quản lý là quá trình lập kế
hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một
hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục đích đã
định” [21,tr.6].
Giáo trình khoa học quản lý của Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh do GS-TS Hồ Văn Vĩnh chủ biên viết: “Quản lý là sự tác động có tổ
kinh tế, thông qua nó để tác động vào tâm lý đối tượng. Nội dung của biện
10
pháp này là nhà quản lý đưa ra các nhiệm vụ, kế hoạch ….tương ứng với các
mức lợi ích kinh tế. Đối tượng bị quản lý có thể lựa chọn phương án thích
hợp để vừa đạt được lợi ích kinh tế cá nhân. Khi sử dụng biện pháp này cần
tránh dẫn đến chủ nghĩa thực dụng hay sự mất đoàn kết nếu thiếu công bằng.
Biện pháp tâm lý –giáo dục: Là cách tác động vào đối tượng quản lý
thông qua tâm lý, tình cảm, tư tưởng con người. Cơ sở của biện pháp này là
dựa vào quy luật tâm lý và chức năng tâm lý con người. Nội dung của biện
pháp là kích thích tinh thần tự giác, sự say mê của con người. Muốn quản lý
thành công nhà quản lý cần phải hiểu rõ tâm lý của bản thân mình và đối
tượng quản lý.
1.2.1.3. Các chức năng quản lý
Qua nghiên cứu lý luận và thực tế công tác quản lý nói chung, có thể
tóm lược rằng: quản lý bao gồm bốn chức năng cơ bản là kế hoạch hóa, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá.
Chức năng kế hoạch hóa: Xác định chức năng, nhiệm vụ và các công
việc của đơn vị, dự báo, đánh giá triển vọng, đề ra mục tiêu, chương trình,
xác định tiến độ, xác định ngân sách, xây dựng các nguyên tắc tiêu chuẩn,
xây dựng các thể thức thực hiện …
Chức năng tổ chức: Xây dựng các cơ cấu, nhóm, tạo sự hợp tác liên
kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp bồi dưỡng cho phù hợp, phân
công nhóm và cá nhân.
Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): Trong chỉ đạo chú ý kích
thích động viên, thông tin hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế.
Chức năng kiểm tra: Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số
công việc, phương pháp đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh.
Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa
con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống
12
mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và
biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất
nước” [13, tr.9].
Theo tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc –Nguyễn Quốc Trí cho rằng: “Quản
lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách
quan của các nhà quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục
nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó” [9].
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ
thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể
quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt được
những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lượng xã hội thúc đẩy
mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục
không còn giới hạn ở thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người cho nên quản
lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực
hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài, hình
thành đội ngũ nhân lực có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự
chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng tinh thần yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội”.
1.2.2.2. Khái niệm quản lý nhà trường
Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng,
chủ yếu. Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà
thông qua hệ thống nhà trường. Nhà trường là tế bào chủ chốt của hệ thống
giáo dục từ trung ương đến cơ sở. Theo đó quan niệm quản lý giáo dục luôn
đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường.
13
Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào
Sơ đồ 1.1. Quản lý các thành tố của quá trình dạy học
Vai trò của người quản lý là phải làm sao cho hệ thống các thành tố
vận hành liên kết chặt chẽ với nhau đưa tới kết quả mong muốn.
Như vậy quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có
kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt
động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
Do vậy công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng,
gồm quản lý các hoạt động trong nhà trường và quản lý các quan hệ giữa nhà
trường với xã hội.
1.2.3. Quản lý trường Trung học phổ thông
1.2.3.1. Trường trung học phổ thông
Trường trung học phổ thông là cấp cuối cùng của hệ thống giáo dục
phổ thông gồm 3 năm học, trường THPT là cấp học hoàn thiện kiến thức phổ
thông cho học sinh, là cấp học tạo nguồn lực cho các yêu cầu đào tạo của xã
hội, đồng thời chẩn bị tích cực cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội và lao
động sản xuất. Do vậy trường THPT có mục tiêu, nội dung phương pháp
giáo dục mang tính phổ thông cơ bản, toàn diện với những đặc thù riêng
nhằm thực hiện nhiệm vụ của cấp học. Nhiệm vụ và cấp học của trường
HS
N
ĐK
các hoạt động quản lý đối với “sự thay đổi” của bối cảnh và của chính đối
tượng quản lý trong quá trình phát triển. Quản lý sự thay đổi thực chất là kế
hoạch hóa, điều hành và chỉ đạo triển khai sự thay đổi để đạt được mục tiêu
đề ra cho sự thay đổi đó. Thông thường quản lý sự thay đổi phải trải qua 3
giai đoạn chính, đó là giai đoạn nhận diện trạng thái hiện hành của tổ chức
hay còn gọi là giai đoạn “Rã đông”, ở giai đoạn này cần phải chuần bị cho
đội ngũ thay đổi về thái độ, kiến thức, kỹ năng …; giai đoạn 2, mô tả trạng
thái mong đợi của tổ chức; giai đoạn 3, kế hoạch hóa cho sự thay đổi. Trong
lý thuyết quản lý sự thay đổi thường nêu ra 4 bước đó là: Chuẩn bị cho sự
thay đổi; Kế hoạch hóa sự thay đổi; Tiến hành sự thay đổi và cuối cùng là
đánh giá duy trì sự thay đổi.
16
Trong quá trình quản lý sự thay đổi người quản lý cần phải quyết
định xem mình muốn đạt được gì và khi nào. Tuy nhiên, trước khi ra quyết
định họ phải hiểu rõ nội dung của sự thay đổi và đặc điểm của sự thay đổi
này. Trong quá trình hoạch định sự thay đổi nên xác định những điểm cần
cân nhắc khi thực hiện sự thay đổi trong bối cảnh cụ thể của đơn vị mình,
lập danh sách cho những việc cần làm và cách làm chúng. Khi thực hiện sự
thay đổi cần quan tâm đến thông tin phản hồi và cập nhật thông tin, sau khi
đã quán triệt cho mọi thành viên của đơn vị nhận thức được mục đích, nội
dung và thống nhất cách làm. Thực hiện kiểm tra, đánh giá các kết quả đạt
được và duy trì “sự thay đổi”. Không có một sự thay đổi nào lại hoàn toàn
kết thúc vì thay đổi thường là một quá trình phát triển theo quy luật của duy
vật biện chứng, những kết quả đạt được ở mỗi giai đoạn là tiền đề cho
những thay đổi sau.
Đổi mới PPDH là đổi mới một khâu trong quá trình dạy học. Thông
thường đổi mới PPDH được tiến hành theo 4 bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị gồm
- Tác động nhận thức, tạo tâm thế và điều kiện sẵn sang tham gia đổi mới
người học.
Điều 24 – Luật giáo dục chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sang tạo của học sinh phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, môn học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú học
tập cho học sinh”.
Đổi mới PPDH là quy luật phát triển tất yếu của thời đại và của mỗi
quốc gia trên đường phát triển xã hội, của giáo dục, của chính bản thân
người làm công tác giáo dục, của giáo viên và học sinh trong điều kiện mới.
Đổi mới PPDH không phải là thay cái cũ bằng cái mới, thay các PPDH
truyền thống bằng PPDH mới, hiện đại. Đổi mới PPDH là sử dụng có hiệu
18
quả các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng
tạo của người học.
Trong đổi mới PPDH phải tăng cường khai thác, ứng dụng và sử dụng
công nghệ thông tin trong dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục. Đổi mới
phương pháp dạy học phải được tổ chức, chỉ đạo một cách có hệ thống, khoa
học, đồng bộ và phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự đổi mới các
thành tố khác trong quá trình dạy học: mục tiêu, nội dung, phương pháp,
phương tiện, hình thức tổ chức.
1.2.5.2. Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học
Quản lý hoạt động đổi mới PPDH là vấn đề cốt lõi trong quản lý hoạt
động dạy học. Quản lý hoạt động đổi mới PPDH được hiểu là hệ thống
những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý
trong hệ thống giáo dục; là hệ thống điều hành hệ thống giáo dục quốc dân,
các cơ sở giáo dục trong quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích đổi mới
PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Để hoạt động đổi mới PPDH thành công, Hiệu trưởng cần tập trung
vào những nội dung sau:
- Xây dựng môi trường học tập tích cực tương tác đa thông tin cho
người học.
- Tổ chức hội thi GV dạy giỏi, báo cáo kinh nghiệm trong giảng dạy
bằng ứng dụng công nghệ thông tin.
- Tổ chức phong trào thi đua về đổi mới PPDH, có chính sách khen
thưởng kịp thời nhằm động viên các tập thể, cá nhân tích cực, đạt hiệu quả
cao trong hoạt động đổi mới PPDH
- Tổ chức đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sang tạo của HS đồng thời cũng phải đánh giá
được chuẩn kiến thức bộ môn.