MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
ThS. Ngô Lê Quân
Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt - Hàn
Điện thoại: 0905.710 048 - Email:
Địa chỉ: 05 Núi thành, TP Đà Nẵng
ThS. Nguyễn Ngọc Huyền Trân
Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt – Hàn
Điện thoại: 0905.330487- Email:
ThS. Nguyễn Thị Kim Ánh
Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin hữu nghị Việt – Hàn
Điện thoại: 0905.470830- Email:
--------------------------------------------Tóm tắt:
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người, làm biến đổi sâu sắc cách thức
làm việc, giải trí và thay đổi các nguyên tắc tiến hành kinh doanh. Trên bình diện
chính phủ, các ứng dụng ICT hứa hẹn việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cho
người dân sẽ trở nên tốt hơn không chỉ thông qua việc cải tiến các thủ tục và cách
thức quản lý của chính phủ mà còn qua việc xác định lại các khái niệm truyền thống
về quyền công dân và dân chủ. Bài viết tập trung nghiên cứu, tìm hiểu mô hình kiến
trúc chính phủ điện tử và thực trạng phát triển chính phủ điện tử ở nước ta. Từ đó đề
xuất một số giải kiến nghị để xây dựng và phát triển kiến trúc chính phủ điện tử ở
Việt Nam
Abstract:
Information and communications technology (ICT) plays an important role
in the daily lives. It changes the way to work, entertainment and the rules of
conducting business. On the governmental perspective, ICT applications help the
supply goods and public services will become better not only through the
improvement of procedures and management practices of the government but also
through redefining the traditional concept of citizenship and democracy. The
Thông tin và truyền thông (CNTT&TT) đang làm biến đổi sâu sắc đời sống, kinh
tế, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Phát triển và
ứng dụng CNTT&TT đang là cơ sở cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân, từ cơ sở
này cùng với sự điều hành Nhà nước, khái niệm Chính phủ điện tử (CPĐT) đã ra đời.
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (World Bank) “Chính phủ điện tử là
việc các cơ quan của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống CNTT&TT để thực hiện
quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhờ đó giao dịch của các
cơ quan chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng.
Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi,
góp phần vào sự tăng trưởng và giảm chi phí”[1]
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (UN) “Chính phủ điện tử được định nghĩa
như là việc sử dụng Internet để truyền tải cũng như cung cấp thông tin và dịch vụ của
chính phủ tới người dân và doanh nghiệp”[2]
Như vậy, hiện có nhiều định nghĩa về CPĐT, có một cách cách hiểu chung phổ
biến về CPĐT: CPĐT là việc ứng dụng CNTT&TT, cung cấp dịch vụ công cho người
dân và doanh nghiệp 24/24, 7 ngày trong tuần, tạo ra sự liên tục, thông tin được trao
đổi một cách công khai minh bạch.
2.1.2. Sự khác nhau giữa Chính phủ truyền thống và Chính phủ điện tử
Với mô hình Chính phủ truyền thống, chính phủ hoạt động theo mô hình lấy các
sở ban ngành làm trọng tâm khiến người dân khó có thể tiếp cận các dịch vụ công một
cách chất lượng. Nhưng đối với mô hình CPĐT thì đây là một mô hình lấy công dân
làm trọng tâm, các sở ban ngành có thể kết nối với nhau để chia sẻ thông tin, cùng
phối hợp giao dịch một cách hiệu quả hơn với công dân, doanh nghiệp. Cách tiếp cận
lúc đó sẽ tập trung hơn vào người dân, bớt sự tập trung vào sở ban ngành.
1
E-Government and E-Governance: Definitions/Domain Framework and Status around the World by C. Jain
Palvia and S. Sharma, 2007.
2
E-Government and E-Governance, sđd.
quan, tổ chức cung cấp dịch vụ[5].
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho
phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung
cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực
hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực
hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ[6].
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho
phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết
quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người
sử dụng[7].
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 5: Là dịch vụ công trực tuyến đạt đến mức độ
hoàn toàn tự động hóa việc cung cấp dịch vụ, không cần thiết phải chờ cán bộ xử công
văn rồi phản hồi nữa. Nó đẩy mạnh tính hiệu quả của quá trình cung cấp dịch vụ, hoàn
3
E-Government Service Development – A Vital Factor in Business Environment Improvement in Viet Nam by
Nguyen Dang Tuan Minh (MSc Digital Enterprise Management), 2009.
4
E-Government Service Development – A Vital Factor in Business Environment Improvement in Viet Nam by
Nguyen Dang Tuan Minh (MSc Digital Enterprise Management), 2009.
5
E-Government Service Development, sđd.
6
E-Government Service Development, sđd.
7
E-Government Service Development, sđd.
toàn tự động, tốc độ xử lý nhanh và chính xác, người dùng sẽ không mất thời gian chờ
nghiệp khi truy cập và sử dụng dịch vụ của chính phủ thông qua việc tự động hóa và
đơn gian hóa các thủ tục hành chính và tăng tính hiệu quả của quá trình xử lý công
việc. Cho phép người dân và doanh nghiệp tham gia vào hoạt động của Chính phủ,
làm tăng mối liên kết giữa chính quyền và người dân lẫn doanh nghiệp.
2.3. Các mô hình giao dich trong Chính phủ điện tử
Tham gia CPĐT có 3 thực thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp. Trên cơ
sở quan hệ giữa các chủ thể trên, ta có thể phân loại CPĐT ra thành 4 loại, tương ứng
với 4 dạng CPĐT bao gồm:
G2C (Government to Citizens). Được hiểu như khả năng giao dịch và cung cấp
dịch vụ của chính phủ trực tiếp cho người dân, sự ứng dụng G2C cho phép người dân
hỏi và nhận được câu trả lời từ các cơ quan Chính phủ. Ví dụ, thông tin về kê khai
thuế, làm bằng lái xe, phí giao thông, làm chứng minh thư, tạm trú… Mặt khác, Chính
phủ cũng có thể phổ biến thông tin trên website, cung cấp các mẫu văn bản có thể tải
về máy[9].
8
E-Government Service Development, sđd.
E-Government and E-Governance: Definitions/Domain Framework and Status around the World by C. Jain
Palvia and S. Sharma, 2007.
9
G2B (Government to Business): Trong ứng dụng G2B, Chính phủ có vai trò như
là nhà cung cấp cho các doanh nghiệp thông qua sử dụng Internet và các hạ tầng kỹ
thuật CNTT khác. Ví dụ, dịch vụ mua sắm, thanh tra, giám sát doanh nghiệp (về đóng
thuế, tuân thủ luật pháp...); thông tin về quy hoạch sử dụng đất, đấu thầu, phát triển đô
thị, cung cấp các mẫu văn bản, quy định hướng dẫn thực thi pháp luật và chính sách
của nhà nước... cho các doanh nghiệp[10].
G2E (Government to Employees): Chỉ các dịch vụ, giao dịch trong mối quan hệ
giữa Chính phủ đối với công chức, viên chức bảo hiểm, dịch vụ việc làm, trợ cấp thất
văn bản quy phạm pháp luật; Cung cấp thông tin kinh tế, thị trường, xã hội; Cung cấp
dịch vụ cấp phép, xuất khẩu trực tuyến; Cung cấp dịch vụ khai báo thuế trực tuyến;
Cung cấp dịch vụ đăng ký kinh doanh trực tuyến; Cung cấp dịch vụ đăng ký xây dựng,
đấu thầu; Cung cấp dịch vụ chứng nhận kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm; Cung
cấp dịch vụ tra cứu hồ sơ hành chính công; Cung cấp dịch vụ đối thoại trực tuyến;
Cung cấp dịch vụ đóng phí hành chính trực tuyến; Cung cấp dịch vụ hải quan trực
tuyến…
10
E-Government and E-Governance, sđd.
E-Government and E-Governance, sđd.
12
E-Government and E-Governance, sđd.
11
3. Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử ở Việt Nam
3.1. Tổng quan tình hình Chính phủ điện tử tại Việt Nam
3.1.1. Về hạ tầng công nghệ
Hạ tầng công nghệ giữ một vai trò quan trọng trong việc ứng dụng và phát triển
CPĐT. CPĐT là hệ quả tất yếu của sự phát triển CNTT&TT. Hạ tầng CNTT&TT là
điều kiện tiên quyết để phát triển CPĐT. Tính đến tháng 12/2011, thực trạng hạ tầng
công nghệ cho phát triển CPĐT tại Việt Nam được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Thực trạng hạ tầng CNTT-TT ở các cơ quan Nhà nước từ năm 2008 - 2011
2008
2009
2010
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố
trực thuộc TW
80,33
67,78
88,37
94,29
79,30
71,47
85,53
88,00
TỶ LỆ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ TRANG/ CÔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ (%)
Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố
trực thuộc TW
26/30
--
--
100
100
TỶ LỆ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC CÓ MẠNG NỘI BỘ (LAN, INTRANET, EXTRANET)(%)
Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố
trực thuộc TW
--
--
100
100
--
--
100
vào thực trạng hiện nay thì vẫn còn rất xa vời, dẫu có đạt được thì chất lượng dịch vụ,
hiệu quả hoạt động có được cải thiện hay không vẫn là câu hỏi cần được đặt ra.
Bảng 2.2: Thực trạng chất lượng dịch vụ công tại các cơ quan nhà nước năm 2011
Tổng số lượng các dịch vụ công trực
tuyến
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương
Mức độ 1,2
Mức độ 3
Mức độ 4
98,439
860
11
3,437
31
3
nước trong cơ chế mới, tuy rằng nước ta hiện có có hơn 28 triệu cán bộ công chức,
nhưng khoảng hơn 30% tổng lượng cán bộ công chức hầu như có cũng được không có
cũng xong. Mặc dù công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường, số lượng cán bộ,
công chức qua các lớp, khoá đào tạo, bồi dưỡng khá lớn, nhưng nhìn chung chất
lượng, nhất là kiến thức quản lý nhà nước mới với kỹ năng nghiệp vụ hành chính phù
hợp thực sự đạt được ở tỷ lệ thấp. Bằng cấp, chứng chỉ tăng, nhưng chất lượng thật sự
của cán bộ, công chức có bằng cấp, chứng chỉ lại đang là vấn đề đáng lo ngại. Nội
dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tuy đã có một số đổi mới,
nhưng nhìn chung vẫn chưa có những cải cách cơ bản như chương trình tổng thể mà
Nhà nước đã đặt ra, đa số vẫn chỉ làm cho có và hình thức, chưa đi vào thực chất.
Ngoài ra, còn xuất hiện một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức suy thoái
phẩm chất, đạo đức, tham nhũng, cửa quyền, thiếu ý thức trách nhiệm và tinh thần
phục vụ, vô cảm trước yêu cầu của nhân dân, của xã hội mà việc kiểm tra, thanh tra
công vụ và xử lý cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật làm không thường xuyên và
không nghiêm. Tính răn đe, làm gương trong xử lý kỷ luật cán bộ, công chức hầu như
không có. Chính vì vậy, đạo đức công vụ, thái độ phục vụ dân, tổ chức của cán bộ,
công chức không được tăng cường.
Thực trạng yếu kém về nguồn nhân lực cán bộ công chức nhà nước đã khiến cho
việc phát triển CPĐT ở Việt Nam hiện đang gặp nhiều khó khăn. Người dân lẫn doanh
nghiệp không phàn nàn nhiều về mảng hạ tầng kỹ thuật mà chủ yếu về thái độ cũng
như năng lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên chức tại các cơ quan nhà nước. Lấy
một ví dụ đơn giản, chính quyền đăng mẫu văn bản đăng ký kinh doanh trên cổng
thông tin điện tử của tỉnh, doanh nghiệp tải về, điền thông tin theo hướng dẫn đính
kèm và gửi về chính quyền qua đường thư điện tử, tuy nhiên doanh nghiệp lại phải chờ
rất lâu mới có phản hồi, mà đôi khi một thời gian mới nhận được email thông báo
“Điền thông tin chưa đầy đủ” – mặc dù đã làm đúng như trong mẫu văn bản có đính
kèm hướng dẫn điền thông tin, như vậy tốn rất nhiều thời gian và chi phí của doanh
nghiệp, lý do đưa ra là nạn nhũng nhiễu, cửa quyền, hạch sách của một bộ phận cán bộ
công nhân viên chức. Có thể kết luận rằng hiện nay nguồn nhân lực cán bộ, công nhân
viên chức cho phát triển CPĐT tại Việt Nam không yếu về lượng nhưng yếu, thậm chí
mức độ người dân tham gia các hoạt động dịch vụ công trực tuyến, có tới gần 60%
người dân nói rằng chưa từng sử dụng dịch vụ công trực tuyến và một nửa trong số đó
không biết tới dịch vụ công trực tuyến.
Hiện chưa có thống kê mới nhất để cập nhật số lượng người dân sử dụng dịch vụ
công trực tuyến. Tuy nhiên, nhiều cán bộ lãnh đạo phụ trách CNTT trong các cơ quan
Nhà nước vẫn khẳng định rằng không ít dịch vụ công trực tuyến vẫn “vắng” người
dùng (ngoại trừ những trường hợp cá biệt như thủ tục hành chính về thuế, hải quan...).
Tuy nhiên để đầu tư xây dựng một dịch vụ công trực tuyến, đặc biệt là những dịch vụ
mức 3 - 4, các cơ quan Nhà nước phải tốn kém khá nhiều chi phí, thời gian và công
sức. Thế nhưng, vẫn đang có hiện trạng sau khi đưa dịch vụ công vào hoạt động thì
chờ mãi không thấy người dân, doanh nghiệp nào đến “xài”.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện trạng ít người dân sử dụng dịch vụ công trực
tuyến. Dễ thấy nhất là do thiếu thốn trang thiết bị tin học. Số liệu công bố trong Sách
Trắng CNTT-TT Việt Nam năm 2012 cho biết năm 2011, cả nước mới có 16,2% hộ
gia đình có máy vi tính. Rất nhiều người dân chưa từng biết máy vi tính, chưa biết
internet là gì. Một khi không có máy móc, thiết bị thì rất khó nói đến chuyện dùng dịch
vụ công trực tuyến.
Ngoài ra, còn nhiều lý do khác nữa như lo ngại về sự mất an toàn thông tin khi sử
dụng dịch vụ công, hoặc sự chưa rõ ràng về cơ quan có thẩm quyền chứng thực cho
các hồ sơ pháp lý trên mạng.
3.1.3.Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
Mức sống của người dân: Mức sống thấp không cho phép đông đảo người dân
tiếp xúc với các phương thức của “kinh tế số hóa”. CPĐT không thể phát triển nếu số
dân có khả năng truy cập Internet thấp, khi mà phí thuê bao Internet, phí truy cập, máy
tính cá nhân … quá lớn so với mức thu nhập bình quân của một người dân. Nhìn
chung, mức sống của người dân Việt Nam hiện nay tương đối ổn định, tuy nhiên vẫn
có sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn khi mà ở nhiều tỉnh, tỷ lệ dân có điều kiện
sử dụng Internet còn thấp, một phần vì trình độ người dân, một phần vì điều kiện địa
hình, vùng sâu vùng xa chưa kết nối được Internet cũng như phát triển kinh tế. Lượng
dân có điều kiện sử dụng Internet đa phần tập trung tại các thành phố lớn hoặc tại các
thách thức.
3.1.5.Cơ sở an toàn bảo mật
Khi tham gia vào internet, vấn đề đặt ra là phải tăng cường các biện pháp an toàn
bảo mật thông tin người dùng. An toàn luôn được coi là vấn đề chủ yếu trong thực
hiện CPĐT. Hiện nay thực trạng quản lý an toàn bảo mật tại các cơ quan nhà nước của
Việt Nam hiện vẫn còn yếu, trên thực tế nhận thức của các cán bộ, công chức về an
ninh mạng còn khá kém; có không ít các lãnh đạo, cán bộ xem nhẹ những lỗ hổng về
bảo mật trong hệ thống mạng của cơ quan mình.
Theo đại diện Hiệp hội An toàn thông tin (VNISA), đánh giá ngẫu nhiên 100
webstite tên miền cơ quan nhà nước (.gov.vn) cho thấy, 78% số website có thể bị tấn
công “thay đổi nội dung” hoặc có thể bị “đánh sập” bất cứ lúc nào. Ngoài ra, VNISA
phát hiện được 3.697 lỗi trên 100 website .gov.vn, bao gồm 489 điểm yếu (lỗi) ở mức
độ nghiêm trọng (chiếm 13%), 396 điểm yếu ở mức cao (chiếm 11%) và 2.812 điểm
yếu ở mức trung bình/thấp (chiếm 76%). Trong đó, có 2.012 lỗi được phát hiện trên
ứng dụng web và 1.685 lỗi được phát hiện trên ứng dụng hệ thống.
Cũng theo đánh giá của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện thực trạng quản lý
an toàn thông tin, mức độ áp dụng các giải pháp công nghệ đảm bảo an toàn thông tin
cũng như khả năng nhận biết một số loại tấn công cơ bản trong các cơ quan chính phủ
còn rất hạn chế nếu không muốn nói là yếu.
Hình 2.1: Thực trạng quản lý an toàn thông tin trong các cơ quan nhà nước
Nguồn: Sách trắng CNTT-TT 2012 của Bộ TT&TT
Hình 2.2: Mức độ áp dụng các giải pháp công nghệ đảm bảo an toàn thông tin tại các cơ quan nhà nước
Nguồn: Sách trắng CNTT-TT 2012 của Bộ TT&T
Hình 2.3: Tỷ lệ các đơn vị nhận biết được có bị tấn công mạng xét theo một số loại tấn công cơ bản
Nguồn: Sách trắng CNTT-TT 2012 của Bộ TT&TT
3.2.1. Một số kiến nghị đối với chính quyền
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, xây dựng những chế định pháp lý giúp định
hướng cho các mô hình CPĐT đi vào ứng dụng một cách thực chất là một yêu cầu bức
thiết. Trước mắt cần phải: Xác lập điều kiện để các doanh nghiệp nếu muốn tham gia
đối thoại trực tuyến với chính quyền địa phương, phải đảm bảo về trình độ, năng lực
CNTT tối thiểu để có thể đảm bảo vấn đề an toàn thông tin cũng như có thể sử dụng
tốt các tính năng trên mô hình; Xác lập phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của UBND,
các sở/ban/ngành địa phương trong việc trả lời những câu hỏi đặt ra từ phía các doanh
nghiệp; Xác định quyền hạn, phạm vi cũng như trách nhiệm của các doanh nghiệp khi
tham gia vào mô hình. Cụ thể như quyền khiếu nại, tố cáo khi phát hiện thấy có dấu
hiệu tiêu cực, cửa quyền, tránh né trả lời câu hỏi chính đáng của doanh nghiệp; quyền
ra câu hỏi; quyền chất vấn công khai… Ngoài ra cũng phải xác định phạm vi được đặt
câu hỏi; lượng câu hỏi tối đa mà doanh nghiệp có thể hỏi trong một ngày (vì đảm bảo
không bị quá tải đường truyền), câu hỏi đặt ra phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu, không
trùng lắp để không gây mất thời gian của chính quyền. Cuối cùng là đảm bảo tính bảo
mật an toàn thông tin về tài khoản, mật khẩu, khóa công khai đã được cấp, không được
để lọt ra bên ngoài vì bất cứ lý do gì; Xác định hình thức kỷ luật, xử lý vi phạm khi
tham gia đối thoại trực tuyến. Cụ thể nếu cán bộ trả lời chậm thời hạn được quy định
thì phải có hình thức kỷ luật gì? sau đó là hình thức kỷ luật đối với các bộ/ban/ngành
vì đã không đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ. Việc không đảm bảo an toàn thông
tin, để lộ mật khẩu khiến đối tượng xấu lợi dụng phá hoại hệ thống, ăn cắp thông tin,
giả mạo chữ ký phải bị xử lý. Các hình thức kỷ luật phải được quy định cụ thể, ví dụ
như cảnh cáo, phạt tiền, tước bỏ quyền tham gia mô hình, trục xuất, sa thải (với cán bộ
công nhân viên chức mắc sai phạm).
3.2.2. Cải thiện cơ sở hạ tầng CNTT-TT
Muốn phát triển CPĐT, một trong những điều kiện tiên quyết là hạ tầng CNTTTT phải đảm bảo. Chính quyền các tỉnh phải tiếp tục nâng cao chất lượng hạ tầng
CNTT-TT của địa phương mình, phải ban hành những chính sách, quy định về việc
triển khai cũng như hỗ trợ phát triển CNTT-TT nhiều hơn nữa, tập trung thực hiện các
Muốn tham gia và sử dụng hiệu quả các tính năng của mô hình đối thoại trực
tuyến thì yêu cầu về phía các chủ doanh nghiệp là phải có nhận thức đầy đủ về CPĐT,
lợi ích của CPĐT cũng như các hệ thống luật, chính sách liên quan đến CPĐT. Các
doanh nghiệp cần bỏ đi những quan niệm và thói quen theo lối cũ và nên mạnh dạn
tham gia mô hình đối thoại trực tuyến hơn nữa. Có như vậy, doanh nghiệp mới có thể
dần nhận ra lợi ích mà mô hình này mang lại, và từ đó sẽ dần chủ động hơn về các
hoạt động CPĐT nói chung và của mô hình đối thoại trực tuyến nói riêng.
Hiệp hội các doanh nghiệp phải đóng vai trò đáng kể trong việc định hướng cũng
như hướng dẫn các chủ doanh nghiệp trong địa phương mình tích cực tham gia hoạt
động đối thoại trực tuyến, cũng như phải đẩy mạnh việc phổ biến, tuyên truyền các
kiến thức về CPĐT cho chủ các doanh nghiệp.
3.2.5.Đẩy mạnh công tác đào tạo, tuyên truyền về CPĐT cho các doanh nghiệp
và chính quyền địa phương
Then chốt để phát triển và nhân rộng được mô hình thì người sử dụng mô hình
đó (doanh nghiệp và chính quyền) phải có kỹ năng căn bản cần thiết để sử dụng cũng
như thấy rõ được những lợi ích mà mô hình đó mang lại, có như vậy mô hình triển
khai mới có thể mang lại hiệu quả cao, góp phần nâng cao năng lực làm việc chung
của cả chính quyền cũng như các doanh nghiệp. Do đó, cần phải tổ chức các chương
trình đào tạo trung và dài hạn về CPĐT, bảo mật an toàn dữ liệu, chứng thư số, chứng
thực số… cho cán bộ nhà nước và chủ doanh nghiệp, cử thêm cán bộ có kinh nghiệm
và chuyên môn tốt về giảng dạy riêng cho từng địa phương. Chương trình giảng dạy
cần phải có sự bài bản tùy theo mức độ tiếp thu của từng vùng, đi từ tổng quan đến
chuyên sâu, đảm bảo đáp ứng đúng những kiến thức cần có. Việc giảng dạy cần phải
có tính khoa học và có tính tác nghiệp thực tiễn, không thể chỉ dạy suông lý thuyết hay
nóng vội muốn nhanh đạt được mục tiêu mà dạy vượt mức. Vì thay đổi nhận thức,
quan điểm của một cá nhân là rất khó, cần phải có quá trình thích ứng làm quen và
thực tế, có như vậy dần dần họ mới thích ứng được với mô hình đối thoại trực tuyến
của VCCI.
Việc triển khai CPĐT yêu cầu phải có sự lãnh đạo nhất quán và tầm nhìn vững
vàng. Nó cũng yêu cầu phải có một chiến lược toàn diện, không chỉ chú trọng đến các
phương thức triển khai hiệu quả nhất trên phạm vi toàn cầu mà còn phải rất nhạy bén
với các điều kiện tình hình thực tế hiện nay về chính trị và kinh tế.
Để CPĐT trở thành hiện thực, chính phủ, có tham khảo ý kiến của những người
tham gia, nên phát triển một Khung chiến lược quốc gia, trong đó bao gồm tầm nhìn,
mục tiêu và kế hoạch thực hiện của chính phủ, phương pháp và các tiêu chuẩn kỹ thuật
đối với các hệ thống CPĐT. Một khung cơ sở như vậy cần phải giải quyết các vấn đề
về tính riêng tư, an ninh của thông tin, việc bảo dưỡng và các tiêu chuẩn về giao diện.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói ngay từ đầu rằng, một khung chiến lược quốc gia không
phải là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ một dự án CPĐT nào. Nói một cách chính xác
hơn, không được dừng các dự án CPĐT quan trọng tại các bộ/ngành hay các cấp chính
quyền địa phương do thiếu khung chiến lược quốc gia. Quá nhiều chính phủ đã mất
nhiều năm và nhiều nguồn lực quí báu trong việc xây dựng chiến lược quốc gia, trong
khi họ có thể chuyển sang triển khai một số dự án trọng điểm. Những gì mà chính phủ
phải thực hiện là đảm bảo khung chiến lược quốc gia là một quá trình vẫn đang được
tiếp tục triển khai thực hiện chứ không chỉ dừng lại trên văn bản giấy tờ.
Có hai phương pháp để triển khai CPĐT. Phương pháp thứ nhất là phương pháp
từ trên xuống. Phương pháp này có đặc điểm là mức độ kiểm soát cao của chính quyền
trung ương và thường bao gồm cả việc phát triển chiến lược. Phương pháp thứ hai là
phương pháp từ dưới lên, trong đó mỗi một đơn vị hay chính quyền địa phương độc
lập phát triển các dự án riêng của mình, các tiêu chuẩn chung thường rất linh hoạt,
chiến lược tổng thể quốc gia không quan trọng lắm. Singapore và Trung Quốc triển
khai phương pháp từ trên xuống, trong khi Mỹ và Philippine lại áp dụng phương pháp
từ dưới lên. Mỗi một phương pháp có những lợi thế và nhược điểm riêng của mình.
Phương pháp từ trên xuống hỗ trợ việc tích hợp. Tuy nhiên, việc phát triển chiến lược
quốc gia, một vấn đề mà phương pháp này rất quan tâm, phải mất nhiều năm và các
quyết định về công nghệ có xu hướng nghèo nàn về mặt nội dung (do đó thường tốn
kém và khó đảo ngược). Phương pháp từ dưới lên thường không theo thứ tự và có