Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế thị trường đã được
hình thành ở VN và đang có tốc độ tăng trưởng cao so với khu vực. Việc gia
nhập khu vực Mậu dịch tự do với các nước ASEAN (1995), ASEM (1996),
APEC (1997), bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ, gia nhập WTO (2006), đầu
tư nước ngoài vào VN đã mở ra một thời kỳ mới, tạo nhiều cơ hội phát triển cho
nền kinh tế nước ta, trong đó có dịch vụ logistics. Giao nhận vận tải hàng hòa
bằng đường biển là một khâu quan trọng trong dịch vụ logistic.Trong buôn bán
quốc tế, trên ¾ khối lượng hàng hóa được giao nhận và vận chuyển bằng đường
biển. Đặc biệt đối với Việt Nam là một quốc gia có nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển vận tải biển như: Nước ta có bờ biển dài, có biên giới với Trung Quốc,
Lào, Campuchia; với hệ thống sông ngòi chằng chịt và hệ thống đường bộ dọc
theo đất nước;lại nằm ở vị trí như một lan can nhìn ra biển…thì việc phát triển
vận tải biển là một tất yếu. Song song với những thuận lơi đó là nhũng thách
thức không hề nhỏ do nghành logistic của ta còn non trẻ so với thế giới, cơ sở vật
chất nghèo nàn lạc hậu và các doanh nghiệp logistic Việt Nam lại đang chịu sức
ép rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy vậy nhưng trong bối cảnh
logistic thế giới và Việt Nam những năm gần đây phát triển sôi động thì giao
nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển của ta còn rất tiềm nằng. Vì tính chất
quan trọng trên nên em đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài đồ án tốt nghiệp đại học:
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại
công ty cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
1
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
Báo cáo thực tập của em gồm:
-VCCI
-VIFFAS
-FIATA
-AMSA
*Vinalink HaNoi
Trụ sở: tầng 11 cao ốc 14 láng Hạ, Quận Ba Đình
Công ty cổ phần giao nhận vận tải và thương mại - tên giao dịch Vinalink
chính thức hoạt động từ ngày 01/09/1999
Trong quá trình hình thành và phát triển đã trải qua một số sự kiện
Năm 1978: Công ty Vietrans Saigon (nay là Vinatrans ) nhận bàn giao và
đưa vào khai thác khu kho hàng tại 145 Nguyễn Tất Thành,phường 13, Quận 4.
3
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
Năm 1981: Công ty Vietrans Saigon (nay là Vinatrans ) nhận bàn giao và
đưa vào khai thác khu kho và văn phòng tại 147 Nguyễn Tất Thành, phường 13,
Quận 4.
Kể từ 11/1981 Khu kho và văn phòng 145 - 147 Nguyễn Tất Thành được
thống nhất khi khai thác kinh doanh bảo quản hàng hoá bởi một đơn vị là kho
145 với quy mô diện tích hơn 16 000 m2, trong đó diện tích kho kiên cố là 10
000 m2.
năm 1993: Công ty Vietrans Saigon ( nay là Vinatrans ) thành lập phòng đại
lý Hapag - Lloyd với tên giao dịch Vinalink, nhiệm vụ chủ yếu là làm đại lý cho
hãng tàu Hapag - Lloyd (Đức)
Năm 1995: Công ty Vinatrans đưa toà nhà văn phòng tại 147 Nguyễn Tất
Thành với quy mô 1 trệt 3 lầu với diện tích sử dụng gần 2000 m2 vào sử dụng.
Năm 1996: Công ty Vinatrans đăng kí và được cục sở hữu công nghiệp cấp
-Tháng 6 Vinalink góp vốn trở thành 1 trong 3 bên phía Việt nam trong công
ty liên doanh vận tải Việt - Nhật (Konoike Vina).
-Tháng 8: Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen cho công ty, Chủ tịch nước
thưởng Huân chương Lao động hạng ba cho Ban giám đốc công ty.
-Tháng 10: Vinalink cùng Freight Consolidators Pte.Ltd (Singapore) thành
lập công ty liên doanh đại lý vận chuyển FC (Vietnam) chuyên kinh doanh dịch
vụ đại lý cho các hãng hàng không quốc tế như British Airways, Roy Brunei
Airlines...
Năm 2004:
-Văn phòng công ty tại khu công nghiệp Việt Nam- Singapore (Bình Dương)
chính thức hoạt động
--Tháng 9, công ty kỷ niệm 5 năm hoạt động và đón nhận huân chương Lao
động hạng ba do Chủ tịch Nước thưởng về những thành tích xuất sắc trong 5
năm 1999-2003 góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
5
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
-11/10 Tổng cục hải quan cấp phép thành lập Kho ngoại quan Vinalink tại
145 Nguyễn Tất Thành. Tháng 12 Kho ngoại quan Vinalink tiếp nhận lô hàng
đầu tiên của khách hàng Schneider Electric Overseas Asia Pte.Ltd
-Tháng 12, Vinalink tham gia thành lập Công ty TNHH 3 thành viên vận tải
ô tô V-Truck.
Năm 2004 :
-01/01 Chi nhánh công ty tại Hà Nội chính thức hoạt động tại số 2 Bích
Câu,Q.Đống Đa.
Năm 2005:
-01/08 Công ty TNHH RCL (Việt Nam)- Công ty liên doanh giữa Vinalink
7
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
Ban Giám Đốc
Giám đốc
điều hành
Phó Giám
Đốc
Kế toán
Trưởng
Khối Hành ChínhQuản Trị
Khối Kinh Doanh
Phòng Đại Lý Vận Tải
&Gom Hàng
Giao Nhận
Đại lý tàu biển
Phòng Giao nhận Hàng
không
Phũng logistic
Chi nhánh Hà Nội
doanh và khối hành chính- quản trị.
Vinalink Hanoi do thực hiện tổ chức quản lý theo chế độ 1 thủ trưởng nên:
Đứng đầu công ty là người lãnh đạo cao nhất, là người chịu trách nhiệm toàn
diện trước ban lãnh đạo, trước pháp luật và toàn bộ công nhân viên về mọi hoạt
động sản xuất- kinh doanh của công ty
+ Ban giam đốc gồm cú
Giám đốc điều hành:
có nhiệm vụ quyết định các chủ trương, chương trình kế hoạch và biện pháp
công tác của công ty, lãnh đạo và điều hành đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính
trị của mình và nộp ngân sách nhà nước đầy đủ. Tổ chức và sử dụng có hiệu quả
lao động, vật chất kỹ thuật, vật tư tài sản, bảo toàn và phát triển nguồn vốn kinh
doanh.
Giám đốc có quyền tuyển dụng, đề bạt, cách chức, cho thôi việc, kỷ luật,
tăng lương đối với CBCNV trong toàn công ty. Ký kết các hợp đồng kinh tế về
sản xuất-kinh doanh, ký kết các bản kế hoạch thống kê, báo cáo, giao dịch...đào
tạo bồi dưỡng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho CBCNV
Phó giám đốc:
Giúp giám đốc chỉ đạo và điều hành trực tiếp một số lĩnh vực công tác hoặc
một số phòng ban, chi nhánh, xưởng thuộc công ty và chịu trách nhiệm kết quả
công tác được giao
Khi giám đốc đi vắng, phó giám đốc thay mặt giám đốc giải quyết các công
9
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
việc chung của công ty và phải báo cáo lại Giám đốc những việc đã giải quyết
khi giám có mặt.
Chỉ đạo trực tiếp công tác chính trị tư tưởng của phòng kinh doanh và các tổ
sản xuất quản lý theo mô hình tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả, hiện đại, có lãi theo
phòng còn tham mưu cho Ban giám đốc trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy, bố
trí quản lý nhân sự và thực hiện các chính sách về lao động,tiền lương và chế độ
đối với cán bộ CNV trong toàn công ty
Có chức năng quản lý nguồn tài nguyên nhân sự, lao động. Cụ thể hoá chủ
trương, chương trình công tác của công ty hàng tháng, tuyên truyền, phổ biến và
hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp quy của Nhà nước, của công ty.Đồng thời
thu thập ý kiến, nguyện vọng của quần chúng người lao động.
Phòng quản lý chất lượng (phòng QC):
Có nhiệm vụ triển khai, quản lý và kiểm tra việc thực hiện hệ thống tiêu
chuẩn ISO 9002 về chất lượng sản phẩm thông qua hệ thống KCS.
Phòng quản trị thông tin:
Đảm bảo công tác phân tích, nghiên cứu và phát triển thị trường trong nước
và nước ngoài. Phòng là chiếc cầu nối giữa khách hàng với Công ty.Công ty
quảng cáo, tiếp thị, tổ chức và quản lý mạng lưới đại lý và các cửa hàng giới
thiệu sản phẩm cũng do phòng thực hiện .
+ Khối kinh doanh gồm cú
Phòng Giao nhận:
tổ chức việc vận chuyển và giao nhận hàng hoá, bằng các phương thức vận
chuyển, làm đại lý vận chuyển hàng cho các công ty có nhu cầu thuê vận chuyển
hàng hoá : hàng không hoặc đường bộ, có các chi nhánh :Bình Dương, Hà Nội,
Logistics, phòng đại lý vận tải và gom hàng.
Đại lý tàu biển :
Làm đại lý cho các hãng tàu trong việc giao nhận và vận chuyển hàng hoá,
Công ty đặt chi nhánh đại lý tàu biển tại thành phố Hải Phòng.
Dịch vụ lưu kho bảo quản hàng hóa:
11
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO NHẬN VẬN TẢI
HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI CÔNG TY
1-Thực trạng về thị trường và hàng hóa
Trong gần 10 năm hoạt động công ty đã trở thành một trong số những công
ty uy tín của việt nam và bắt đầu gây được sự chú ý trên trương quốc tế với cánh
tay vươn ra các thị trường với mạng lưới dịch vụ đa dạng
VỀ THỊ TRƯỜNG
a- Thị trường trong nước:
Thị trường truyền thống của VINALINK là thành phố HCM với 25% thị
phần so với cả nước, 47% thị phần so với tổng thể của công ty.Ngoài ra Bình
Dương chiếm 10% so với tông thể của công ty, Hà Nội 20% so với tổng thể công
ty, các tỉnh và thành phố khác là 23%. Hiện nay công ty đang tiến hành phát triển
mở rộng ra thị trường Đà Nẵng, Hải Phòng với hy vọng sẽ khai thác được thị
trường tiềm năng này.Trong tương lai không xa sẽ tiến hành mở rộng thị trường
sang các tỉnh và thành phố khác như Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Quy
Nhơn…
Cơ cấu thị trường của công ty được thể hiện ở bảng sau
Năm
1999
2000
2001
2002
2003
2004
Bình Dương
1
1.4
5.4
6.3
7
8.5
9
10
Khác
0
0.8
4.6
9.7
18
Ở châu âu là: Nga, Anh, Đức, Ý, Pháp, Ba Lan
Ở châu mỹ: Mỹ, Braxin
Châu phi: Nam phi, Nigeria
Ngoài ra còn có thị trường Australia, Neu-di-len.
Cơ cấu thị trường được thể hiện trong bảng sau (đv: %)
năm
20
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
Châu á
Châu âu
84
78
1
3
7.3
15
16.5
12.9
19.3
6
Châu mỹ
4
7
14
18
20.5
22
+ Dịch vụ chia lẻ hàng nhập khẩu
+ Dịch vụ giao hàng tận nhà
+ Môi giới bảo hiểm hàng hóa
+ Dịch vụ hỗ trợ hàng xuất nhập khẩu
- Dịch vụ vận tải đa phương thức
- Dịch vụ Logistics, giao nhận nội địa:
+ Khai thuê hải quan
+ Đại lý hải quan
15
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
+ Giao nhận hàng triển lãm và công trình
+ Giao nhận hàng hóa tận nhà
+ Đóng gói bao bì hàng hóa
+ Dịch vụ kiểm kiện
+ Đại lý gom hàng lẻ
+ Đại lý lưu kho và phân phối hàng hóa
+ Gom hàng lẻ xuất khẩu và chia hàng lẻ nhập khẩu qua kho CFS
+ Di dời văn phòng, nhà xưởng và tài sản cá nhân
- Dịch vụ kho ngoại quan và lưu kho bảo quản hàng hoá
- Đại lý tàu biển
-Tổng đại lý bán cước
- Đại lý bán vé máy bay
- Kinh doanh Xuất nhập khẩu
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và kinh doanh nhà
- Dịch vụ giao nhận vận chuyển bằng đường hàng không:
+ Giao nhận từ kho chủ hàng hoặc sân bay đến sân bay hoặc kho người
nhận
+Đội xe container và xe tải nhẹ vận chuyển hàng hoá: 30 xe container
(chiếm 30%),50 xe tải nhẹ (chiếm 50%)
-Hệ thống thông tin:hệ thống vi tính kết nối toàn bộ các văn phòng trong
công ty và các đối tác nước ngoài
- Đội tàu có 31 tàu, trong đó tàu nhỏ 15 chiếc ( chiếm 48,4%), tàu vừa 10 chiếc
( chiếm 32,3%), tàu trọng tải lớn 6 (chiếm 19,3%)
17
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
Tới đây công ty tiến hành đầu tư cơ sở hạ tầng như:
-
Đầu tư xây dựng phát triển kho tàng bến bãi ở các khu vực
như: Hà Tây, Bắc Ninh, Cái Mép, khu vực TPHCM và lân cận, mỗi nơi khỏang
10,000 – 15,000m2
-
Cùng với đối tác tiếp tục các bước xin chủ trương đầu tư cho
dự án xây dựng Cao ốc tại 145-147 Nguyễn tất Thành
-
Mở rộng Kho Ngọai quan lên gấp 2 lần so với hiện nay
-
2005
2006
Tổng số
23.188 32.586
23.084 18.676
giao nhận vận chuyển đường biển
14.650 21.488
13.647 13.384
giao nhận vận chuyển đường không
1.016
4.167
3.121
1.437
1.228
702
2.825
2.396
700
Trong số các dịch vụ cung cấp ta thấy các mặt hàng giao nhận vận chuyển
đường biển có tỷ trọng lớn nhất do chiếm tỷ trọng lớn nên sự tăng hay giảm của
loại này dẫn đến sự thay đổi trong kinh cơ cấu cung cấp dịch vụ của Công ty. Ta
thấy năm 2004 khi loại dịch vụ này xuất khẩu được lớn hơn khá nhiều so với
năm 2003 thì kéo theo nó là sự tăng vọt của tổng kim ngạch xuất khẩu, năm
19
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
2005, 2006 khi hàng gia công may mặc liên tục giảm và giảm nhiều so với năm
2004 thì dẫn tới cơ cấu cung cấp dịch vụ giảm liên tục và giảm nhiều so với năm
2004
Sự tác động của các dịch vụ kế đó cũng có một ảnh hưởng tương tự như
giao nhận vận chuyển đường không và dịch vụ vận tải đa phương thức. Năm
2003 cung cấp được hơn một triệu $ năm 2004 tăng nên bốn triệu $, năm 2005
giảm xuống còn hơn 3 triệu $, năm 2006 không cung cấp được được dịch vụ
này. Điều này góp phần làm cơ cấu cung cấp dịch vụ năm 2004 tăng nên so với
năm 2003, 2005, 2006 cơ cấu cung cấp dịch vụ giảm so với năm 2004.
3.2. Phân tích tình hình kinh doanh của Công ty ( 2004-2005-2006).
Công ty giao nhận vận tải và thương mại VINALINK đi vào hoạt động từ
tháng 07 năm 1999 và ngay từ đầu, Công ty đã được Bộ giao làm chức năng của
chính dich vụ của công ty, sau một thời gian phát triển mạnh, năm 1999 bắt đầu
rơi vào khủng hoảng tài chính tiền tệ tháng 9 năm 1999.
.Tình hình kinh doanh của công ty qua 3 năm (2004,2005,2006)
So sánh 05/04
ST
T
Chỉ tiêu
ĐV
TH 2004
TH 2005
So sánh 06/95
TH 2006
Số TĐ
TL%
Số TĐ
Tỷ lệ%
1
Doanh thu
1.032
10.031
1.084
3
Lợi nhuận
Trđ
5.308
4.872
5.067
-166
9.687
195
104
4
Nộp
20.379
-
9.429
sách
5
thu
4.480.624
21
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
GNVT
$
23.538.221
32.586.713
32.586.713
9.048.492
Trđ
5.271
5.366
5.516
95
1.018
150
1.028
7
Tổng số LĐ
Ng
575
582
593
7
- Công ty đã chú trọng đầu tư nhằm nâng cao chất lượng của dịch vụ,đầu
tư năng cấp trang thiết bị cơ sở hạ tầng. Chính vì vậy mà mức cung cấp dịch vụ
của Công ty vẫn giữ được ở mức ổn định.
Nhận xét:
Qua phân tích tình hình cung cấp dịch vụ của Công ty qua 3 năm ta thấy
các chỉ tiêu kế hoạch đề ra năm sau cao hơn năm trước. Riêng lợi nhuận năm
2005 có giảm bớt do những nhân tố khách quan: Do chính sách của Nhà nước
thay đổi, do thị trường trong khu vực có phần chậm lại... Song năm 2006 bằng sự
nỗ lực, năng động nhạy bén của mình, Công ty đã mở rộng thêm thị trường tiêu
thụ, đồng thời chính sách khuyến khích hoạt động giao nhận vận tải được tháo
gỡ tích cực nên lợi nhuận năm 2005 cao hơn năm 2005
3.3. Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu hiệu quả.
a. Chỉ tiêu lợi nhuận.
22
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp phản ánh kết quả
cuối cùng của hoạt động kinh doanh. Tổng lợi nhuận được xác định là lợi nhuận
trước thuế được tính bằng công thức:
LN = TR – TC
LN: Lợi nhuận
TR: Tổng doanh thu
TC: Tổng chi phí
Lợi nhuận từ hoạt động xuất nhập khẩu của Công ty ( 1997-2000)
Đơn vị triệu VNĐ
Năm
Chỉ tiêu
1.095
1.591
2.000
Lợi nhuận trước thuế
Qua bảng 12 cho ta thấy lợi nhuận trước thuế tăng dần qua các nănmvới
mức chênh lệch năm 2005 tăng 495.833.000 VNĐ so với năm 2004, năm 2006
tăng 408.891.000 VNĐ so với năm 2005.
Mặc dù năm 2006, 2006 cơ cấu cung cấp dịch vụ giảm dần và đều giảm so
với năm 2004 nhưng lợi nhuận lại tăng lên, năm 2006 tăng cao hơn năm 2005 và
năm 2005 cao hơn 2004 điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của công ty rất
hiệu quả. Công ty đã nghiên cứu tốt thị trường giá cả để có các quyết định đúng
dắn và đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
23
Thực trạng hoạt động giao nhận vận tải hàng hóa bằng đường biển tại công ty
cổ phần giao nhận vận tải và thương mại VINALINK
Công ty đã xây dựng được các dịch vụ chủ lực, quyết định trong cơ cấu
cung cấp dịch vụ do có thị trường ngoài nước là tương đối lớn so với các công ty
khác trong nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi . Công ty đã phát huy
thế mạnh của các dịch vụ chủ lực những dịch vụ đã có chỗ đứng vững chắc trên
thị trường và là những dịch vị chiếm tỷ trọng lớn tạo nguồn lợi nhuận cao như:
GNVT đường biển,hàng không, đại lý tàu biển.
Công ty đã mở rộng và duy trì sự hợp tác với các doanh nghiệp nước
ngoài như
Chỉ tiêu này phản ánh khi bỏ ra 100 đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí (2003- 2006)
Đơn vị triệu VNĐ
Năm 2003
2004
2005
2006
49.101
57.833
59.516
63.763
914
1.095
1.591
2000
1.86%