Biến đổi trong trang phục truyền thống của người H’mông Hoa ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai - Pdf 41

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 3
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
3. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 4
4. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4
6. Bố cục tiểu luận ............................................................................................. 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI
H’MÔNG HOA Ở HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI ....................................... 5
1.1. Một số vấn đề lý luận .............................................................................. 5
1.1.1. Trang phục ............................................................................................................... 5
1.1.2. Biến đổi và biến đổi trang phục ........................................................................ 6
1.2. Khái quát về huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai ................................................... 6
1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ..................................................................... 6
1.2.2. Dân cư ....................................................................................................................... 7
1.2.3. Kinh tế ....................................................................................................................... 8
1.2.4. Văn hóa, xã hội....................................................................................................... 9
1.2. Tổng quan về người H’Mông Hoa ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai ............ 10
1.2.1. Tên gọi và lịch sử tộc người .............................................................................10
1.2.2. Sự phân bố nhóm H’mông Hoa ở Sa Pa .......................................................12
1.2.3. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của người H’Mông Hoa ở huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai .................................................................................................................13
Chương 2: THỰC TRẠNG TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI H’MÔNG HOA TẠI
HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY ............................................... 15
2.1. Trang phục truyền thống của người H’Mông Hoa ................................. 15
2.2. Những giá trị trong trang phục truyền thống của người H’Mông Hoa .... 15
2.2.1 Trang phục phản ánh mối quan hệ của người H’mông Hoa với môi
trường sống .........................................................................................................................15
2.2.2. Trang phục phản ánh tư duy kỹ thuật thủ công người H’mông Hoa ..........16


2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với ngôn ngữ, trang phục là dấu hiệu thông tin quan trọng thứ hai để
chúng ta nhận biết một dân tộc. Trang phục không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ cơ
thể và làm đẹp cho con người mà trang phục còn mang dấu ấn xã hội. Trang
phục chỉ ra nguồn gốc và bản sắc văn hóa của dân tộc đó, cũng là cơ sở là
nguồn tư liệu góp phần nghiên cứu trật tự xã hội của cộng đồng tộc người nào
đó. Cho nên nghiên cứu trang phục của dân tộc để tìm ra những nét riêng, giá trị
văn hóa ẩn chứa trong đó.
Dân tộc H’mông là một trong những dân tộc có dân số đông ở Việt Nam
phân bố tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Đây là dân tộc có nhiều nhóm
địa phương như: H’mông Xanh, H’mông Đen, H’mông Hoa… đã tạo nên nét
văn hóa đặc trưng riêng như tiếng nói, nếp sống, phong tục tập quán và nhất là
trong trang phục. Những nét đặc trưng đó tạo nên cái riêng trong từng nhóm
H’mông ở các địa phương khác nhau.
Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước làm cho
đời sống kinh tế của các dân tộc ngày một cải thiện nhưng mặt trái của nó cũng
đang là một vấn đề bức xúc đối với người làm công tác giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc. Thực tế cho thấy mấy chục năm gần đây nghề trồng dâu nuôi tằm của
người Kinh, nghề dệt thổ cẩm của người Thái, nghề trồng bông dệt vải của
người Nùng ở nhiều nơi bị mai một và nghề trồng lanh của người H’mông cũng
rơi vào tình trạng chung đó. Cùng với đó, sự giao thoa văn hóa tộc người cũng
phần nào ảnh hưởng tới trang phục truyền thống của nhiều tộc người trong đó
có nhóm H’mông Hoa tại Sa Pa. Chính bởi những lý do trên nên em đã quyết
định chọn đề tài: “Biến đổi trong trang phục truyền thống của người H’mông
Hoa ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” làm đề tài tiểu luận năm thứ ba của mình.
2. Mục đích nghiên cứu


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
VỀ NGƯỜI H’MÔNG HOA Ở HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI
1.1.Một số vấn đề lý luận
1.1.1. Trang phục
Trang phục là một trong những yếu tố văn hóa vật chất bao gồm y phục,
trang sức được con người sử dụng trong sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu
và các hoạt động văn hóa xã hội khác.Trang phục thể hiện ứng xử của con
người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nhằm thỏa mãn các chức
năng sinh học của con người.
Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Trang phục- bản sắc văn hóa dân tộc”. Nói tới
văn hóa dân tộc là nói tới một lĩnh vực thật phong phú và đa dạng, từ miếng ăn,
quần áo mặc, nếp nhà ở, cách thức làm ăn, đi lai, vui chơi, ca hát, hội hè, thờ
cúng, tang ma, cưới xin… Người ta hay nói tới bản lĩnh và bản sắc dân tộc tức
là sức sống, sức vươn lên của dân tộc trong quá trình lịch sử, còn bản sắc là có
biểu hiện muôn màu, muôn vẻ của bản lĩnh ra bên ngoài thành sắc thái, đặc
trưng, dáng vẻ riêng, phân biệt dân tộc này với dân tộc khác.
Trang phục không chỉ để bảo vệ cơ thể, chống lại những điều kiện bất lợi
của môi trường, mà ngay từ thời nguyên thủy, trang phục còn là vật dụng trang
trí, làm đẹp cho cơ thể. Do vậy ở loại vật dụng thường xuyên như quần áo ấy,
mỗi dân tộc thường có những cách thức may, trang trí thể hiện tâm lí, truyền
thống thẩm mỹ của mình, có ý thức rõ rệt là thông qua trang phục phân biệt
được dân tộc mình với dân tộc khác.
Bởi vậy hoàn toàn có thể nói rằng, trang phục là một trong những yếu tố
văn hóa vật chất nổi bật nhất của văn hóa dân tộc. Tuy nhiên bản săc văn hóa
dân tộc không phải là nhất thành nhất biến mà là nhất thành vạn biến. Biến đổi
không ngừng tùy theo từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhưng vẫn giữu cái cốt
cách, cái nền tảng ban đầu, đó chính là quy luật kết hợp truyền thống với đổi
mới của văn hóa, của trang phục.

suối Bo cao 400 m so với mặt biển.

6


Sa Pa nằm sát chí tuyến trong vành đai Á nhiệt đới Bắc bán cầu, có khí hậu
ôn đới lạnh với hai mùa điển hình. Mùa hè mát mẻ, mưa nhiều từ tháng 5 đến
tháng 10 hàng năm, mùa đông lạnh giá, ít mưa kéo dài từ tháng 11 năm trước
đến tháng 4 năm sau.
Do ảnh hưởng của các yếu tố địa hình, địa mạo phức tạp, bị chia cắt mạnh
và với vị trí địa lý đặc biệt nên khí hậu Sa Pa có các đặc trưng cơ bản sau :
* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 15,40 C, nhiệt độ trung bình từ
18 - 200 C vào tháng mùa hè, vào các tháng mùa đông 10 - 120 C. Nhiệt độ tối
cao tuyệt đối 330 C vào tháng 4, ở các vùng thấp. Nhiệt độ xuống thấp nhất từ
tháng 2 năm sau, thấp nhất vào tháng 1 là 00 C (cá biệt có những năm xuống tới
-3,20 C). Tổng tích ôn trong năm từ 7.500 - 7.8000 C. Tuy nhiên do đặc điểm địa
hình của các khu vực khác nhau nên tạo ra các vùng sinh thái khác nhau và có
nhiệt độ khác nhau trong cùng một thời điểm.
* Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối bình quân hàng năm từ 85 - 90 %,
độ ẩm thấp nhất vào tháng 4 khoảng 65 % - 70 %. Do sương mù nhiều, càng lên
cao càng dày đặc, đặc biệt trong những thung lũng kín và khuất gió khí hậu ẩm
ướt hơn các khu vực khác.
* Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 2.762 mm, cao
nhất 3.484 mm và phân bố không đều qua các tháng; mưa cũng phụ thuộc vào
địa hình từng khu vực, càng lên cao mưa càng lớn. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5
đến tháng 10, chiếm khoảng 80 % lượng mưa cả năm. Các tháng ít mưa có
lượng mưa trung bình từ 50 - 100 mm/tháng. Mưa đá hay xảy ra vào các tháng
2, 3,4 và không thường xuyên trong các năm.
1.2.2. Dân cư
Dân số năm 2005 là 43.600 người, với 7 dân tộc chính, gồm: H’Mông,

vùng xa. Sa Pa đã được tập trung xây dựng với tốc độ nhanh, đã làm hồi sinh lại
thị trấn du lịch bị tàn phá trong các cuộc chiến tranh; đưa điện lưới quốc gia vào
huyện năm 1994, trước nhiều huyện khác trong tỉnh. Chính nhờ có sự phát triển
cơ sở hạ tầng này nên đã hấp dẫn bè bạn trong nước và khắp năm châu đến Sa
Pa ngày càng đông. Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế, phát huy tiềm năng
thế mạnh của Sa Pa đó là lấy phát triển du lịch – dịch vụ làm ngành kinh tế mũi
8


nhọn, đột phá. Trong những năm qua, sự phát triển của hoạt động Du lịch mang
lại hiệu quả rõ nét trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xoá đói, giảm
nghèo. Du lịch đã có tác động trực tiếp, quyết định đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, đưa tỷ trọng ngành du lịch trong cơ cấu kinh tế của huyện từ 15% những
năm 90 tăng lên 58,7% trong những năm gần đây.
1.2.4. Văn hóa, xã hội
Sa Pa với nhiều dân tộc cư trú xen kẽ, mỗi tộc người có một nét văn hoá
riêng nên mỗi năm có rất nhiều các lễ hội văn hóa diễn ra ở đây. Hơn nữa, du
lịch kết hợp tìm hiểu văn hoá, lịch sử vùng miền đang là xu hướng được nhiều
người ưa chuộng. Thế nên, vẻ đẹp thiên nhiên cùng với cơ sở hạ tầng và sự đa
dạng các sản phẩm du lịch ngày càng làm cho Sa Pa trở thành điểm đến nổi
tiếng của Tây Bắc, của Việt Nam và của cả du khách khắp nơi trên thế giới.
Đời sống văn hóa tinh thần phong phú của đồng bào còn được thể hiện ở
nghề thủ công, mỹ nghệ, thổ cẩm truyền thống của đồng bào đã đạt đến độ tinh
xảo và cuốn hút đến diệu kỳ. Phụ nữ Mông, Dao, Xá Phó rất giỏi trong cảm thụ
màu sắc, những tấm thổ cẩm của họ bao giờ cũng hội đủ sắc màu của thiên
nhiên từ cây thông, đồi núi, hạt ngô, hạt lúa… Tất cả được biểu đạt như chính
bức tranh sống động của đời sống đồng bào.
Các sản phẩm về thổ cẩm của phụ nữ các dân tộc miền núi đã làm cho
khách du lịch phải thán phục. Mỗi họa tiết trên váy áo là một kỳ công, là cả một
công trình nghệ thuật được thêu dệt trên trang phục.

H’mông Si (H’mông Đỏ)
H’mông Dua (H’mông Xanh)
H’mông Lềnh (H’mông Hoa)
1.1.2.1 . Lịch sử tộc người
Người H’mông ở Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc từ phương Bắc.
theo các truyền thuyết Trung Quốc thì người H’mông xuất hiện sớm nhất ở khu
vực trung và hạ lưu sông Trường Giang. Cách đây 5,000 năm đã có liên minh
bộ lạc do tù trưởng Suy Vưu làm thủ lĩnh. Suy Vưu tức là Vua của Cửu Lê.
Cũng trong thời kì này có một liên minh bộ lạc khác do Hiên Viên dứng đầu,
nổi lên ở thượng nguồn sông Hoàng Hà. Hai liên minh bộ lạc này luôn xung đột
10


với nhau cuối cùng Cửu Lê bị bại trận, Hiên Viên xưng Hoàng đế (vào khoảng
2,700 năm TCN).
Ở thời kì của vua Nghiêu Thuấn, Vũ (theo truyền thuyết) lại xuất hiện liên
minh mới là “Tam Miêu” “Hữu Miêu” hoặc “Miêu Dân” và khá hùng mạnh. Họ
đã đừng lên chiến đấu rất kiên cường chống lại các thế lực nhà nước do các vua
đứng đầu.
Trong các thế kỉ 16 đến 11 TCN phần lớn người dân “Tam Miêu” cùng các
dân tộc khác ở miền trung lưu sông Trường Giang được gọi là “ Kinh Sở” có
thời kì còn gọi là “Nam Man”. Đời sống kinh tế khá phát đạt, có một bộ phận
gọi là “Kinh Man” là thù địch. Từ đó trở đi sự đối nghịch giữa Nam Man và
Bắc Địch ngày một gia tăng, làm cho tình hình Trung Quốc không lúc nào được
yên ổn.
Như vậy từ Cửu Lê đến Tam Miêu, Man Nam, Kinh Sở đều có mối liên hệ
về nguồn gốc với nhau. Có thể coi đó là tổ tiên của người H’mông hiện nay.
Lúc đầu người H’mông cư trú ở khu vực phía Bắc của sông Hoàng Hà, giai
đoạn phát triển nhất của họ là giai đoạn Tam Miêu, sau đó do sự phát triển và
mở rộng lãnh thổ của người Hán họ lui dần xuống phía Nam của con sông này.

phù hợp với thời kì phong trào “Thái Bình thiên quốc”, trong đó có người Miêu
tham gia, chống lại nhà Mãn Thanh từ 1840-1868.
Về sau hàng năm vẫn có người H’mông di cư lẻ tẻ sang Việt Nam. Các
con đường di chuyển của đồng bào là vào Đồng Văn rồi xuống Tuyên Quang.
Từ sau ngày đất nước đổi mới (1986) tình hình di chuyển của người H’mông
luôn gia tăng theo hai hướng Bắc – Nam và Đông – Tây.
1.2.2. Sự phân bố nhóm H’mông Hoa ở Sa Pa
Huyện Sa Pa có nhiều dân tộc thiểu số cùng sinh sống từ lâu đời như:
H’mông, Nùng, Giáy, Dao, Tày, Thái, Mường, Kinh… Các dân tộc cùng sinh
sống trên địa bàn các xã và thị trấn. Theo số liệu thống kê trong báo cáo việc
bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Người H’mông Hoa được phân bố rải rác ở hầu hết các xã trên địa bàn
huyện Sa Pa. Khu vực cư trú người H’mông ở Sa Pa tập trung chủ yếu ở khu
vực các núi cao, một số ít cư trú tại thị trấn.
12


Người H’mông Hoa chủ yếu canh tác nương rẫy, nền kinh tế còn mang
tính tự cung tự cấp. Đời sống nói chung còn nhều khó khăn. Chỉ một số nhỏ
người H’mông sống bằng hoạt động du lịch, kinh doanh dịch vụ phụ trợ hoạt
động du lịch tại thị trấn.
1.2.3. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của người H’Mông Hoa ở
huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Về chăn nuôi: ở huyện chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò, ngựa để lấy sức kéo
và phân bón trong sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn làm phương tiện vận
chuyển và đi lại. Đồng bào còn chăn nuôi gia cầm như gà, vịt, ngan và gia súc
nhỏ như lợn, dê, để phục vụ nhu cầu trong những dịp lễ tết cải thiện bữa ăn
hàng ngày.
Ngày nay chăn nuôi gia cầm còn nhằm phát triển kinh tế gia đình.
Công nghiệp tiểu thủ công phát triển chậm, các ngành nghề kinh doanh

du lịch thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến với Sa Pa đã mang
lại cho nơi đây diện mạo mới. Đời sống kinh tế xã hội dần được cải thiện, cuộc
sống của đồng bào người H’mông cũng có nhiều biến chuyển tích cực, nhiều hộ
gia đình người H’mông tham gia vào hoạt động du lịch gia đình, hướng dẫn du
khách…

14


Chương 2
THỰC TRẠNG TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI H’MÔNG HOA
TẠI HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI HIỆN NAY
2.1. Trang phục truyền thống của người H’Mông Hoa
Trang phục của người phụ nữ H’mông rất sặc sỡ, gồm váy, áo xẻ ngực có
yếm lưng, tấm xiêm che trước bụng, thắt lưng, khăn quấn đầu, xà cạp quấn hai
bên. Váy hình nón cụt, xếp nếp xòe rộng chữ thập trong các hình vuông, nhưng
váy mang hình ống khi mặc mới xếp nếp thắt lưng ngoài cạp.Áo mở chếc ngực
về phía bên trái cài một khuy, cánh tay, cổ áo, gấu áo đều có hoa văn… Đồ
trang sức bao gồm: khuyên tai, vòng cổ, vòng tay vòng chân và nhẫn
Phụ nữ Hmông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp
ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng
tóc giả.
Nam giớithường mặc áo cánh ngắn ngang hoặc dưới thắt lưng, thân hẹp,
ống tay hơi rộng. Aáo nam có hai loại: năm thân và bốn thân. Loại bốn thân xẻ
ngực, hai túi trên, hai túi dưới. Loại năm thân xẻ nách phải dài quá mông. Loại
bốn thân thường không trang trí loại năm thân được trang trí những đường vằn
ngang trên ống tay. Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc
trong khu vực. Đầu thường chít khăn, có nhóm đội mũ xung quanh có đính
những hình tròn bạc chạm khắc hoa văn, có khi mang vòng bạc cổ, có khi
không mang.

thủ công lành nghề. Thông qua trang phục của họ, chúng ta có thể thấy ở họ về
trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, nghệ thuật tài hoa và những ý tưởng mà họ gửi gắm
thông qua các hoạ tiết hoa văn trang trí trên trang phục. Cũng như nhiều ngành
thủ công khác, các kỹ năng làm ra trang phục, cách sử dụng và nghệ thuật trang
trí trang phục được các thế hệ người H’mông trao truyền, tiếp nối. Đây chính là
một hình ảnh của mô hình giáo dục cộng đồng được duy trì từ nhiều đời ở nhiều
dân tộc.

16


2.2.3 Trang phục là sản phẩm văn hóa tạo nên đặc trưng văn hóa người
H’mông Hoa
Trong đời sống của người H’mông Hoa, người phụ nữ là những nghệ sĩ
dân gian thể hiện các tác phẩm nghệ thuật trang trí trên vải. Thông qua cách
phối màu, trang trí họa tiết hoa văn, phụ nữ H’mông thể hiện trách nhiệm của
mình trong cộng đồng để tạo ra giá trị văn hóa quan trọng tạo nên bản sắc văn
hóa H’mông Hoa.
Trang phục là kết quả của quá trình lao động cần mẫn của người phụ nữ
tạo nên bộ trang phục. Qua quá trình tồn tại và phát triển lâu dài nó đã trở thành
một sản phẩm văn hóa tiêu biểu, đặc trưng của tộc người. Sự tổng hòa của nhiều
yếu tố khác trong văn hóa vật chất, tổ chức xã hội, đời sống tinh thần tạo thành
nếp sống tộc người.
Việc sử dụng trang phục trong gia đình hay sinh hoạt cộng đồng đóng vai
trò và ý nghĩa riêng của nó. Đó là sự ăn mặc khác nhau giữa ngày thường và lễ
tết, hội hè. Mỗi trang phục phù hợp với từng tâm lí, giới tính, lứa tuổi…Các
quan niệm về đạo đức, tầng lớp xã hội, tâm linh đều được trang phục phản ánh.
Trang phục H’mông Hoa góp phần tạo dựng bản sắc văn hóa tộc người.Trong
nền văn hóa vật chất và tinh thần các tộc người trang phục có một vị trí quan
trọng, là dấu hiệu thông tin quan trọng thứ hai sau ngôn ngữ để nhận diện tộc

ánh, ghi dấu trình độ phát triển cao của thẩm mĩ dân gian của cộng đồng cư dân
nơi đây. Màu sắc trên trang phục được xử lý tinh tế, hài hoà. Bố cục các màu
sáng - tối, nóng - lạnh cân đối, mang phong cách riêng và không kém phần hiện
đại. Với sự kết hợp cả ba hình thức trang trí tạo ra cho trang phục không chỉ
sống động về màu sắc, mô típ hoa văn cũng rất phong phú, phản ánh thế giới
quan sâu sắc của họ. Ngoài các hoạ tiết dưới dạng đường thẳng, đoạn thẳng,
người H’mông còn thành thục trong việc bố cục đồ án hoa văn hình tròn, đường
cong, hình xoáy trôn ốc, hay biến thể của nó là 2 hình xoáy trôn ốc được bố trí
đối xứng tạo thành hình móc, hoặc đối xứng trục quay thành chữ S.
2.2.6. Trang phục trong một số nghi lễ tín ngưỡng
- Trong tang lễ
Có thể nói, bộ y phục mặc cho người chết hiện còn giữ được nhiều yếu tố
truyền thống nhất trong các loại trang phục của người H’mông hiện nay. Ngoài
18


ra, bộ y phục mặc cho người chết cùng các sản phẩm từ may mặc khác phục vụ
trong tang lễ còn có nhiều nội dung, ý nghĩa sâu sắc phản ánh về nhân sinh quan
của người H’mông.
Người chết dù là trẻ em mới 1 ngày tuổi hay người già đều được mặc trang
phục may bằng vải lanh. Theo quan niệm của người H’mông, người chết phải
được mặc vải lanh, kể cả giầy cũng phải được may bằng vải lanh thì khi về với
thế giới bên kia, tổ tiên của họ mới nhận diện được con cháu của mình. Nếu
không có trang phục vải lanh, phần hồn của người chết sẽ không được tổ tiên
chấp nhận, không được siêu thoát, trở thành ma đói, ma ác và sẽ quay trở về
quấy nhiễu gia đình và cộng đồng để “đòi ăn” gây những thiệt hại khó lường
cho những người còn sống. Do đó, người chết nhất thiết phải được mặc trang
phục bằng vải lanh theo đúng phong tục truyền thống.
Khi bố mẹ đã già, con gái có trách nhiệm may cho bố mẹ mỗi người một
bộ và một cái khăn gối đầu thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong để dùng lúc chết.

phúc thêm hồn (yao jin tia hay yao saox jin tơ) là một chiếc áo được cắt may
bình thường, nhưng phía sau lưng áo có đắp thêm 2 miếng vải đen chéo nhau
như hình chữ thập hoặc hình chữ thập chéo. Đồng bào quan niệm: Con người
khi từ trên trời xuống chỉ mang đủ rượu, gạo ăn cho đến 60 tuổi. Vì vậy, muốn
sống thêm nữa thì phải sửa lại áo. Vì vậy, từ 50 tuổi trở lên, những người già
được con dâu hoặc con gái may cho chiếc áo này. Ngày con dâu hay con gái
may áo thêm phúc cho bố mẹ phải mời thầy cúng về làm lễ trước bàn thờ. Áo
đã được chuẩn bị sẵn nhưng chưa được gắn thêm 5 đồng xu đằng sau. Thầy
cúng cầm áo và vải, hướng dẫn con dâu hay con gái vị trí gắn các đồng xu. Vì
vậy, lễ này còn được gọi là lễ sửa lại áo hay vá áo (txưr saox) cho người già
mặc để có thêm sức khoẻ.
2.3. Những biến đổi trong trang phục truyền thống của người H’Mông
Hoa tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
2.3.1. Biến đổi về cách tạo trang phục
2.2.1.1. Trang phục ngày xưa
Đa phần các bộ trang phục được làm trong những lúc rảnh rỗi của người
phụ nữ H’mông. Để có một bộ trang phục người H’mông truyền thống thì trước

20


hết phải có những sợi vải lanh. Đây là nguyên liệu chính để tạo ra trang phục
của người H’mông Hoa truyền thống.
Cây lanh có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đồng bào H’mông Hoa .
Nó không chỉ là nguyên liệu để làm ra trang phục mà nó con mang ý nghĩa rất
lớn trong cuộc sống của họ.
Để tạo ra nguyên lệu sợi, ở một số dân tộc khác trồng bông còn người
H’mông thì trồng lanh. Người H’mông coi cây lanh là biểu tượng của mình. Họ
tự hào nói: “ở đâu có lanh thì ở đó có người H’mông”. Cũng có thể nói: Xưa ở
đâu có người H’mông ở đó có nghề dệt lanh, may vải lanh. Người H'mông gọi

Xe sợi có vị trí quan trọng thứ nhất trong quá trình tạo ra vải. Công cụ quay sợi
là súa màng là một loại công cụ thao tác cá nhân với tư thế ngồi. Nguyên lí kĩ
thuật của công cụ quay sợi là dùng phương pháp chênh lệch vòng quay của hai
vòng to, nhỏ lấy lực qua dây curoa để kéo sợi.
Sau khi được sợi người ta tiến hành guồng sợi lại. Công cụ guồng sợi (cái
dáy) là hai đoạn tre có chiều dài 3 m buộc lại thành hình chữ nhật để quay sợi
lại. Con sợi to hay nhỏ tùy ý muốn của từng người dệt.
Trước khi dệt, sợi dệt được tẩy trắng (han sú) bằng cách đem ngâm sợi vào
nước tro bếp khoảng một đêm và đun sôi lần thứ nhất. Sau đó ủ sợi trắng
khoảng một đêm nữa rồi giặt sạch. Cứ như vậy phải đun sợi, giặt sợi đến ba lần
thì sợi trắng. Sau đó đem phơi khô rồi nhúng vào nước sáp ong (han sú thia),
xong lại đem phơi khô, ép sợi lại. Đây là khâu xử lí kĩ thuật làm cho sợi trắng,
dai, bền, mịn để tạo thành các tay sợi, sợi được kéo (tung sú) và được cuốn vào
những ống lót sợi.
Đồng bào H’mông dệt vải trên khung cửi truyền thống có hai thanh gỗ
dựng đứng có tiết diện khoảng 12cm× 12 cm, dài 60cm ghép với thanh ngang
tạo thành khung cố định. Ngoài ra, dệt vải cần có: con thoi (lúng gào) khá to,
dài 50cm, rộng 12cm, dày 5cm, lược ép sợi (lú dua) và lược tách sợi (tsung gào)
Trước khi đưa sợi vào khung dệt, giăng sợi cho đủ số sợi dọc của khổ vải
sau đó bắt đầu dệt. Dệt theo nguyên tắc đan của lóng, gồm những sợi căng dọc
theo chiều dài khung cửi đan với sợi ngang do các con thoi vận chuyển. Khi dệt
người ta buộc khung cửi cho chắc, người dệt ngồi trên chiếc ghế đẩu.
22


Dệt vải là việc tranh thủ sớm hôm, chủ yếu là mùa đông, khi ít công việc
trên nương. Nhìn chung chị em phụ nữ H’mông thường dệt vải quanh năm, tốn
nhiều công sức, xong ngoài ý nghĩa kinh tế, việc làm này còn có ý nghĩa xã hội.
Khéo tay chăm chỉ dệt vải là một trong những tiêu chuẩn đánh giá tài năng, đạo
đức của người phụ nữ, nhất là chị em trong độ tuổi xây dựng gia đình. Dệt vải

lên có bộ váy áo đẹp di chợ, đi hội, để mặc về làm dâu nhà chồng. khi về nhà
chồng lại phải có váy áo đẹp tặng mẹ chồng. Khi về già phải có váy áo đẹp mặc
về với tổ tiên. Có thể nói người phụ nữ H’mông có sức sáng tạo nghệ thật
chuyển giao văn hóa trang phục.
2.2.1.2. Trang phục hiện nay
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, diện mạo ở Sa Pa đã đổi
thay về mọi mặt, đời sống tinh thần được nâng lên, việc trao đổi giao lưu văn
hóa được mở rộng, du lịch phát triển. Tuy nhiên, cùng với sự đổi mới ấy, những
bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc H’mông ngày càng mất dần đi, trong
đó có trang phục truyền thống của người Mông.
Điều đáng suy ngẫm là nếu như trước đây, khi đến vùng đồng bào H’mông
chúng ta đều thấy nam nữ người H’mông từ già đến trẻ đều mang trên mình
những bộ trang phục truyền thống có nét đặc trưng riêng của dân tộc, thì nay
những bộ trang phục truyền thống ấy ở vùng đồng bào H’mông đã thưa dần. Từ
váy áo của nữ giới đến quần áo của nam giới không còn được may bằng vải
lanh như trước kia mà được thay bằng vải láng.
Hiện nay khung cửi và guồng quay sợi không còn được sử dụng ở đồng
bào H’mông Hoa tại huyện Sa Pa. Họ không còn làm nghề dệt vải như trước
nữa. Những công cụ làm ra vải và trang phục không còn được sử dụng.
Hiện nay đa phần trang phục truyền thống của người H’mông Hoa ở huyện
Sa Pa, Lào Cai mua chủ yếu của Trung Quốc. Họ không còn tự tay mình làm ra
những bộ trang phục. Có chăng cũng chỉ là mua những phụ kiện về và máy lại
với nhau chứ không còn tự tay mình làm ra bộ trang phục của mình từ đầu tới
cuối. Vải làm trang phục cũng chỉ là vải công nghiệp dệt sẵn chứ không còn là
vải lanh tự nhiên như trước đây. Hiện nay các hoa văn in trên vải chủ yếu là in

24


công nghiệp chứ không còn thêu tay như trước nữa. In như thế này hoa văn trở



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status