Tác động của du lịch đối với đời sống một số dân tộc ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOAHỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ HUỆ

TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH ĐỐI
VỚI ĐỜI SỐNG
MỘT SỐ DÂN TỘC Ở HUYỆN SA PA,
TỈNH LÀO CAI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH DÂN TỘC HỌC
Mã số: 50310

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS HOÀNG LƢƠNG
5
MỤC LỤC
TRANG
DẪN LUẬN 8
1. Lí do chọn đề tài. 8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 10
3. Mục đích nghiên cứu. 13
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. 14
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu. 15
6. Đóng góp của luận văn. 17
7. Kết cấu luận văn. 17
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TỰ NHIÊN VÀ CON NGƢỜI Ở
HUYỆN SA PA TỈNH LÀO CAI 19
1.1-Điều kiện tự nhiên của huyện Sa Pa. 19
1.1.1- Vị trí địa lý. 19
1.1.2- Đặc điểm tự nhiên. 19
1.2- Các dân tộc ở huyện Sa Pa. 21
1.2.1- Sự phân bố các dân tộc. 21
1.2.2- Đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội. 22
CHƢƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DU
LỊCH Ở HUYỆN SA PA. 31
2.1-Vị trí điểm du lịch Sa Pa trong tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam. 31
2.2- Sa Pa trong cơ cấu du lịch của tỉnh Lào Cai. 32

7
3.3.3- Khôi phục và phát triển văn hoá truyền thống. 121
3.3.4- Đào tạo và sử dụng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch người dân tộc ít
người. 124
3.3.5- Khắc phục những tiêu cực. 125
KẾT LUẬN 129
THƢ MỤC 132
DANH SÁCH NHỮNG NGƢỜI CUNG CẤP TƢ LIỆU 137

PHỤ LỤC 139
1. Bản đồ, biểu đồ và sơ đồ:
1.1- Bản đồ hành chính huyện Sa Pa. 140
1.2- Biểu đồ dân số và mật độ dân số huyện Sa Pa. 141
1.3- Sơ đồ phạm vi ảnh hưởng của du lịch Sa Pa. 142
1.4- Sơ đồ dự kiến các tuyến và phạm vi khai thác du lịc khu vực Sa Pa. 143
2. Một số hình ảnh liên quan đến đời sống của người H’mông và người
Dao đỏ. 144
3. Các kiểu chạm khắc hình người ở khu đá cổ Tả Van. 162
4. Một số khái niệm về du lịch. 163
5. Kế hoạch triển khai thực hiện chương trình hành động
du lịch Lào Cai giai đoạn 2001-2005. 167
6. Đề án phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào Cai giai đoạn
2001-2005-2010 và định hướng đến năm 2020. 178
7. Bảng số liệu về số lượng khách du lịch đến huyện
Sa Pa-Lào Cai (1994-1998). 205
8. Bảng số liệu về công xuất sử dụng phòng khách sạn trên địa bàn
huyện Sa Pa-Lào Cai (1994-1998). 206
9. Bảng số liệu về doanh thu từ hoạt động du lịch trên địa bàn

8

đổi lớn lao của các nền văn hoá. Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay trên
mọi lĩnh vực, sự giao lƣu ảnh hƣởng giữa các nền văn hoá cũng phát triển
mạnh mẽ. Trong đó, các hoạt động du lịch của con ngƣời đóng vai trò quan
trọng, là cầu nối cho sự giao lƣu, tiếp biến và ảnh hƣởng văn hoá, kinh tế, xã
hội của các nền văn minh trên thế giới, của các quốc gia, dân tộc, đƣa đến sự
biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân loại. Hàng trăm
triệu ngƣời tham gia vào các luồng du lịch làm cho các nền văn hoá ở khắp
mọi nơi trên trái đất có cơ hội để gặp gỡ, giao lƣu với nhau. Có thể nói, trên
phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu
được trong đời sống xã hội và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh. Trong
vòng 30 năm (từ 1960 đến 1991), số khách du lịch trên thế giới tăng khoảng
64 lần, thu nhập quốc dân từ du lịch tăng khoảng 38 lần. Sự phát triển có tốc
độ chóng mặt của du lịch với một lợi nhuận lớn thu đƣợc đã khiến nhiều
nƣớc nhƣ Singapore, Thái Lan, Malaysia coi du lịch nhƣ một ngành kinh
tế mũi nhọn trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình.
Từ đó cũng mở ra cho họ nhiều khả năng tạo việc làm cho phần đông số dân
thất nghiệp đồng thời mở rộng giao lƣu văn hoá hội nhập với thế giới. [47-
579]
Nằm ở vị trí cửa ngõ giao lƣu quốc tế, Việt Nam có điều kiện để phát
triển giao thông cả về đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng biển, đƣờng hàng không
với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Hơn nữa, Việt Nam có
nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, giàu bản sắc cả về thiên nhiên

10
lẫn nhân văn, tạo điều kiện cho chúng ta phát triển nhiều loại hình du lịch
phong phú, hấp dẫn nhƣ nghỉ dƣỡng, thể thao, nghiên cứu khoa học, hội chợ,
hội nghị, festival dài ngày và ngắn ngày. Vì vậy, trong chính sách phát
triển của mình, Việt Nam cũng đã xác định du lịch là "ngành kinh tế quan
trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc"[23]. Và du
lịch "là một hƣớng chiến lƣợc quan trọng trong đƣờng lối phát triển kinh tế -

cứu của dự án giới hạn ở ba dân tộc H'mông, Dao và Thái - là những dân tộc
đều có mặt, sinh sống ở Thái Lan và Việt Nam, rất thuận tiện cho những
nghiên cứu so sánh. Có thể nói, đƣợc tham gia vào dự án tạo ra điều kiện tốt
giúp tôi thực hiện luận văn này. Vì vậy, tôi đã chọn nghiên cứu vấn đề du
lịch và những tác động của du lịch đối với đời sống một số dân tộc ở Sa Pa
(Lào Cai), trong đó chủ yếu đi sâu nghiên cứu về ngƣời H'mông và ngƣời
Dao đỏ ở đây.
Tóm lại, việc nghiên cứu để thấy đƣợc những tác động ảnh hƣởng của
du lịch đối với đời sống của các dân tộc ở Sa Pa không chỉ có ý nghĩa trong
việc góp phần hạn chế những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn
hoá, xã hội của đồng bào các dân tộc nơi đây mà còn định hƣớng phát triển
cho các hoạt động du lịch ở Sa Pa, nhằm phát huy bản sắc văn hoá tộc
ngƣời, đồng thời góp phần giúp đồng bào các dân tộc xoá đói, giảm nghèo,
nâng cao trình độ dân trí, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc
và góp phần bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Từ đó, đề tài nghiên cứu cũng
mong có những đóng góp nhỏ bé vào việc nghiên cứu giải quyết vấn đề về
chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nƣớc.

12
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Nhƣ chúng ta đều biết, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, xã hội. Ngành du lịch Việt Nam là một ngành công nghiệp non
trẻ. Vì thế mà từ trƣớc đến nay có rất ít những nghiên cứu chuyên sâu về
những tác động của du lịch đối với đời sống các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
của các học giả cả trong và ngoài nƣớc. Các tài liệu nói về Du lịch của các
nhà nghiên cứu trong nƣớc chủ yếu mới chỉ là những nghiên cứu mang tính
lý thuyết [18; 1; 48; 49; 5; 2; 6; 41; 22; 8]. Riêng những nghiên cứu về du
lịch ở huyện Sa Pa, trong vài năm trở lại đây, có một số công trình nghiên
cứu và một số các bài nghiên cứu nhỏ đề cập đến vấn đề nghiên cứu này
nhƣ: Các nghiên cứu của các nhóm sinh viên Khoa Du lịch, Trƣờng

Sa Pa" của Michael Dirgegorio và những ngƣời khác năm 1996 và "Nghiên
cứu ban đầu về Du lịch trong và vùng xung quanh thị trấn Sa Pa" của Mark
E. Grindley, thuộc tổ chức Frontier - Việt Nam năm 1997. Những nghiên
cứu này đồng nhất với nhau ở quan điểm cho rằng du lịch có thể làm tổn hại
đến dân tộc thiểu số nhiều hơn so với những lợi ích mà nó mang lại; cho
rằng khi du lịch ngày càng chiếm vị trí lớn hơn trong cơ cấu kinh tế của
huyện Sa Pa thì vấn đề công bằng xã hội (công bằng trong phân công lao
động cũng như phân chia lợi ích giữa dân tộc thiểu số và người Kinh) càng
trở nên nghiêm trọng hơn. Nghiên cứu của Michael Digregorio cho rằng
cùng với sự phát triển của du lịch văn hoá thì việc thƣơng mại hoá một số
yếu tố văn hoá của dân tộc thiểu số là điều không tránh khỏi và điều này sẽ
làm giảm tính hấp dẫn đối với du khách. Đặc biệt là đối với những khách
nƣớc ngoài trẻ tuổi, thích phiêu lƣu và ƣa tìm những điều mới lạ, hiện đang
là loại khách nƣớc ngoài chủ yếu của Sa Pa, sẽ đƣợc thay thế bởi những
khách nƣớc ngoài ít phiêu lƣu hơn, tuy giàu có nhƣng ít quan tâm đến đời

14
sống của các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, những nghiên cứu của Mark E.
Grindley cho rằng du lịch chƣa mang lại lợi ích cho dân tộc thiểu số (những
ngƣời gây áp lực chủ yếu lên tài nguyên rừng), cũng nhƣ chƣa trực tiếp đóng
góp trở lại cho việc bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng (yếu tố hấp dẫn
khách du lịch mang tính lâu bền hơn). Các nghiên cứu trên phần nào đã nêu
bật đƣợc thực trạng việc phát triển du lịch và những tác động của nó lên đời
sống xã hội. Tuy nhiên, do quan điểm nhận thức và cách lập luận vấn đề của
các học giả trên không phù hợp trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện chính trị
của Việt Nam dẫn đến có nhiều kết luận không chính xác.
Qua những nghiên cứu trên của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nƣớc cho thấy, các nghiên cứu đó tuy có đề cập đến vấn đề những tác động
của du lịch đối với các dân tộc thiểu số ở Sa Pa nhƣng đã không thống nhất
đƣợc với nhau về quan điểm khi đánh giá một vấn đề. Riêng về nghiên cứu

động và ảnh hƣởng của quá trình phát triển du lịch đối với các cƣ dân dân
tộc thiểu số sinh sống tại Sa Pa. Qua đó, đƣa ra một số giải pháp nhằm góp
phần định hƣớng phát triển du lịch, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và
gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc trên địa bàn huyện Sa Pa.
Trƣớc hết, đề tài nhằm tìm hiểu về tiềm năng du lịch của Sa Pa, quá
trình phát triển, nói cách khác là lịch sử phát triển của du lịch ở Sa Pa;
Tiếp đến, nêu lên thực trạng phát triển du lịch và những tác động của
nó đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trƣờng sinh thái của một số
dân tộc thiểu số ở Sa Pa, Lào Cai;

16
Trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp cho việc phát triển du lịch sinh
thái, giữ gìn bản sắc văn hoá tộc ngƣời và bảo vệ môi trƣờng sinh thái ở Sa
Pa, Lào Cai. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tƣợng nghiên cứu của bản luận văn này là những tác động của
du lịch đối với đời sống một số dân tộc ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, trong
đó nghiên cứu tập trung nhiều hơn đến hai tộc ngƣời H'mông và ngƣời Dao
đỏ dƣới tác động của du lịch. Sở dĩ có sự lựa chọn này, bởi qua những khảo
sát thực tế tại địa bàn cũng nhƣ qua một vài nguồn tƣ liệu thành văn và
không thành văn, chúng tôi biết rằng ngƣời H'mông và ngƣời Dao đỏ là
những cƣ dân có tỉ tệ phần trăm dân số đông nhất ở huyện Sa Pa, tham gia
nhiều nhất vào các hoạt động kinh tế du lịch tại đây, và cũng là những đối
tƣợng chịu nhiều tác động, ảnh hƣởng nhất từ những hoạt động du lịch.
Về địa bàn nghiên cứu: Để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình,
chúng tôi lựa chọn địa bàn nghiên cứu nhƣ sau: Ngoài thị trấn Sa Pa là nơi
tập trung chủ yếu các hoạt động du lịch thì 4 xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả
Van và Tả Phìn đƣợc chọn để tiến hành những nghiên cứu sâu. Sở dĩ chọn

nƣớc liên quan đến vấn đề du lịch, đặc biệt là du lịch miền núi và những
nghiên cứu chuyên về du lịch ở Sa Pa, Lào Cai (bao gồm sách, báo, tạp chí,
báo cáo khoa học ). Bên cạnh đó, chúng tôi còn tìm đọc các luận văn cũng

18
nhƣ luận án khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài đƣợc lƣu
giữ tại Thƣ viện Quốc gia Hà Nội.
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-
Lê-nin, chúng tôi xác định nền tảng tƣ tƣởng và phƣơng pháp luận cho
những luận cứ khoa học trong bản luận văn này. Trong quá trình thu thập tài
liệu tại địa bàn nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu sử dụng phƣơng pháp truyền
thống là "điền dã dân tộc học" (bao gồm quan sát trực tiếp, phỏng vấn, ghi
chép và chụp ảnh ).
+ Quan sát trực tiếp: Thông qua quan sát trực tiếp chúng tôi có đƣợc
những nhận định ban đầu về thực trạng phát triển du lịch ở Sa Pa. Đồng thời
qua việc thâm nhập vào cộng đồng các dân tộc, bằng quan sát trực tiếp,
chúng tôi có đƣợc những đánh giá về những tác động ảnh hƣởng của du lịch
đến đời sống của ngƣời dân nơi đây. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng phƣơng
pháp quan sát trực tiếp, chúng tôi sẽ không thể định lƣợng hết những tác
động, ảnh hƣởng của du lịch cũng nhƣ không thể hiểu hết đƣợc quá trình
phát triển của du lịch tại địa bàn nghiên cứu, không thể tìm ra đâu là nguyên
nhân của những bất cập mà du lịch Sa Pa đang gặp phải hiện nay, để từ đó
đƣa ra những kết luận chính xác và tìm giải pháp cho những bất cập đó. Vì
vậy, đồng thời tiến hành với phƣơng pháp quan sát trực tiếp, chúng tôi sử
dụng phƣơng pháp phỏng vấn.
+ Phỏng vấn: Có thể nói đây là một trong những phƣơng pháp quan
trọng nhất mà chúng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu. Đối tƣợng
phỏng vấn bao gồm nhiều thành phần khác nhau. Trƣớc hết là những ngƣời
đại diện cho các cấp chính quyền, những ngƣời trực tiếp liên quan đến công
tác quản lý các hoạt động du lịch tại huyện Sa Pa, Công an huyện Sa Pa, các

20
cứu về những tác động của du lịch đối với đời sống của một số dân tộc thiểu
số ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đóng góp thêm những nguồn tƣ liệu điền dã về thực trạng phát triển
du lịch tại Sa Pa, tìm hiểu đƣợc lịch sử quá trình phát triển du lịch đồng thời
góp phần đánh giá khách quan về thực trạng phát triển du lịch tại huyện Sa
Pa và những tác động của nó đến đời sống các cộng đồng cƣ dân nơi đây.
- Luận văn bƣớc đầu đƣa ra những giải pháp có lợi cho phát triển du
lịch đồng thời bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống và bảo vệ môi
trƣờng sinh thái nhân văn tộc ngƣời.
7. Kết cấu luận văn:
Luận văn gồm 208 trang, chia thành 4 phần
+ Dẫn luận : 10 trang
+ Nội dung : 118 trang
+ Phụ lục : 69 trang
+ Tài liệu tham khảo : 05 trang
Trong đó, phần nội dung gồm có ba chƣơng chính và kết luận:
Chương 1: Khái quát về tự nhiên và con ngƣời ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào
Cai.
Chương 2: Tiềm năng và quá trình phát triển du lịch ở huyện Sa Pa.
Chương 3 : Tác động của hoạt động du lịch đối với đời sống kinh tế, văn
hoá, xã hội và môi trƣờng sinh thái các dân tộc ở Sa Pa.
Ngoài ra, luận văn còn có: 36 ảnh (30 ảnh tự chụp, 6 ảnh chụp lại); 01
bản đồ; 01 biểu đồ; 02 sơ đồ và 01 bản vẽ.
Dƣới góc độ của nghiên cứu dân tộc học, đề tài xem xét các tác động
của du lịch đối với đời sống các dân tộc ở huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai gặp phải

21
không ít những khó khăn. Đây là một vấn đề nghiên cứu vẫn còn rất mới mẻ
cả ở Việt Nam và trên thế giới. Do vậy, chƣa hình thành đƣợc một hệ thống

lộ 4D cách thị xã Lào Cai 35 km về phía Tây Nam. Trung tâm huyện Sa Pa
cách Hà Nội 359 km. Về địa giới hành chính, Sa Pa đƣợc xác định nhƣ sau:
- Phía Bắc giáp huyện Bát Xát;
- Phía Nam giáp huyện Văn Bàn;
- Phía Đông giáp huyện Bảo Thắng và thị xã Cam Đƣờng;
- Phía Tây giáp huyện Than Uyên và huyện Phong Thổ (tỉnh Lai
Châu).
Về địa hình: Nằm trên triền đông dãy núi Hoàng Liên Sơn, với tổng
diện tích 67.864 ha, Sa Pa ở vào khoảng vĩ độ 22,22 kinh độ 103,51. Độ cao
trung bình từ 1200 - 1800m so với mặt biển. Đỉnh cao nhất là Phan xi păng
(3143m), thấp nhất là suối Bo 400m. Địa hình huyện Sa Pa nghiêng theo
hƣớng Tây - Tây Nam đến Đông Bắc. Địa giới hành chính qui định chiều dài
của huyện gần 40 km, chiều rộng 24 km, là nơi địa hình có sự chia cắt lớn,
độ dốc trung bình từ 30 đến 350, có nơi dốc hơn 450. Các sông suối chảy
theo hƣớng tây bắc - đông nam, lòng suối hẹp, nhiều ghềnh thác. Chính
những điều trên đã tạo nên một Sa Pa với cảnh sắc thiên nhiên vừa hùng vĩ
vừa nên thơ.
1.1.2- Đặc điểm tự nhiên:
Về khí hậu: Do vị trí địa lý nằm sát chí tuyến trong vành đai á nhiệt
đới Bắc bán cầu, khí hậu ở Sa Pa có những biểu hiện rất phong phú và đa
dạng: mát mẻ trong mùa hè và giá lạnh trong mùa đông, xuân. Thậm chí,
trong một ngày, vào các buổi sáng, trƣa, chiều tối, chúng ta có thể cảm nhận
đƣợc thời tiết của các mùa trong năm. Nhiệt độ trung bình năm từ 15ºC -
16ºC, có 5 tháng nhiệt độ trung bình dƣới 15ºC, tổng tích ôn trong năm từ

23
7500ºC - 7800ºC [40]. Sa Pa là huyện có lƣợng mƣa cao nhất Lào Cai,
lƣợng mƣa trung bình năm từ 2.861mm, cao nhất là 3.484mm. Trong các
tháng mùa khô lƣợng mƣa trung bình từ 50 - 100mm, số giờ nắng trong năm
đạt 1440 giờ.

Hoa xã Tả Van
1
và nhiều nguồn sử liệu khác, các nhà khoa học cho rằng
mảnh đất Sa Pa từ lâu đã là địa bàn sinh sống lâu đời của cƣ dân có nguồn
gốc Lạc Việt. Trên cơ sở đó, quá trình hội tụ của cƣ dân nơi đây ngày càng
đông đúc hơn. Cách ngày nay khoảng 300 năm, các luồng dân di cƣ của các
dân tộc, từ nhiều con đƣờng khác nhau đã tụ họp về Sa Pa. Ở đây, nhiều bản
làng của các dân tộc đã đƣợc hình thành, nhất là vào đầu thế kỷ XX, quá
trình hội tụ này ngày càng lớn.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Sa Pa có nhiều thay đổi về địa danh, địa
giới khác nhau. Theo các tài liệu lịch sử để lại, vào thời phong kiến, địa phận
Sa Pa ngày nay và một số nơi khác thuộc châu Thuỷ Vĩ, phủ Quy Hoá, tỉnh
Hƣng Hoá. Đến đời Minh Mạng, (Triều Nguyễn) châu Thuỷ Vĩ đƣợc chia
thành nhiều tổng. Địa phận Sa Pa đƣợc tách ra lập thành tổng Hƣớng Vinh,
gồm 15 làng. Sau khi tỉnh Lào Cai đƣợc thành lập (12-7-1907), khu vực Sa
Pa đƣợc hình thành gồm hai xã là Bình Lƣ và Hƣớng Vinh. Đến những năm
đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX, Sa Pa đổi thành Hạt, bao gồm 37 làng, một
phố với tổng số 1020 hộ [3-9].
Tiếp đến, ngày 9-3-1944, Thống sứ Bắc kỳ ra Nghị định thành lập
Châu Sa Pa bao gồm hai xã: Mƣờng Hoa, Hƣớng Vinh và khối phố Xuân

1
Bãi đá cổ ở xã Tả Van, nằm cách trung tâm huyện Sa Pa 7 km về phía đồng nam, do một học giả ngƣời
Pháp(V. Gulubép) phát hiện vào đầu thế kỷ XX. Qua mấy chục năm nghiên cứu khảo sát, ngày 20-7-1994,
Bộ Văn hoá đã quyết định công nhận bãi đá cổ Tả Van là một Di tích Lịch sử Văn hoá đƣợc xếp hạng của
Nhà nƣớc. Bãi đá cổ gồm gần 200 hòn đá to, nhỏ khác nhau, trên mỗi hòn đá khắc nhiều kí tự hình học, hoa
văn độc đáo của ngƣời cổ xƣa. Cho đến ngày nay, những kí tự đƣợc khắc trên đá đó vẫn còn là điều bí ẩn
đối với các nhà khoa học Việt Nam và thế giới.

25

chủ yếu ở 17 xã vùng nông thôn
2
, sống bằng nghề nông nghiệp và nghề rừng
[3-10]. Cả 17 xã vùng nông thôn đều đƣợc xếp vào diện các xã đặc biệt khó
khăn của huyện Sa Pa và của tỉnh Lào Cai.
1.2.2- Đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội:
Nhìn chung, kinh tế Sa Pa chƣa phát triển đúng với tiềm năng sẵn có
của nó. Ngƣời dân phần nhiều vẫn theo các phƣơng thức lao động sản xuất
truyền thống. Cơ cấu ngành nghề khá đơn giản, chủ yếu dựa vào nông - lâm
nghiệp. Đất canh tác nông nghiệp hiện nay của cả huyện chỉ chiếm 10,8%
diện tích tự nhiên, trong đó 45% là đất trồng lúa nƣớc (1400 ha) và 39% là
đất nƣơng mà chủ yếu là nƣơng ngô [34]. Phần lớn đất bị rửa trôi bạc màu.
Điều kiện khí hậu rất khắc nghiệt về mùa đông, trong 1 năm chỉ trồng đƣợc
1 vụ lúa (cây lƣơng thực chủ đạo). Vì thế, lƣơng thực bình quân chỉ đủ cung
cấp từ 6 đến 10 tháng cho các hộ nông dân ở đây.
Theo phƣơng thức sản xuất trƣớc đây, vào thời điểm giáp hạt, ngƣời
nông dân dựa chủ yếu vào các sản phẩm khai thác đƣợc từ rừng tự nhiên
nhƣ: gỗ, nấm, măng, các loại cây dƣợc liệu, cây cảnh, mật ong, củi, thịt thú
rừng một phần để sử dụng, một phần đem bán lại hoặc trao đổi lấy những
vật dụng cần thiết khác. Vì thế, tài nguyên rừng ở Sa Pa bị giảm sút một
cách nhanh chóng.
Nắm bắt đƣợc tình hình trên, nhằm hạn chế nạn phá rừng, cải thiện
đời sống cho ngƣời dân miền núi, Nhà nƣớc và chính quyền huyện Sa Pa đã
cố gắng tìm nhiều biện pháp giúp dân xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống
và nâng cao thu nhập. Nhiều dự án đầu tƣ của các chƣơng trình định canh

2
Ngoài thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa còn bao gồm 17 xã: Lao Chải, Tả Van, Hầu Thào, Sử Pán, Trung Chải,
Sa Pả, Tả Phìn, Bản Khoang, Tả Giàng Phình, Thanh Kim, Bản Phùng, Bản Hồ, Thanh Phú, Nậm Sài, Nậm
Cang, Suối Thầu, San Sả Hồ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status