DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
VÀ MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG KINH TẾ,
CHÍNH TRỊ...
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Một trong những sự kiện quốc tế thu hút sự quan tâm của đông đảo dư
luận trong và ngoài nước, đó là “Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái bình
dương” (viết tắt là APEC), năm 2006 Việt Nam là nước chủ nhà đăng cai tổ
chức. Vậy APEC là gì, quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, mục tiêu nguyên
tắc hoạt động... của nó như thế nào; đồng thời, sự tham gia của Việt Nam vào
APEC cũng như những tác động của nó đến đời sống kinh tế, chính trị... ở
nước ta hiện nay ra sao? Đây là những vấn đề rất cơ bản về APEC, đòi hỏi
mỗi người, nhất là những người làm công tác nghiên cứu, quản lý kinh tế...
(trong đó có, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành kinh tế chính
trị), cần phải nghiên cứu, nắm vững để phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu,
đồng thời góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân bảo đảm việc
tham gia APEC của Việt Nam có tác động tích cực đối với sự nghiệp đổi mới,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
I/ BỐI CẢNH RA ĐỜI, MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG CỦA APEC
1- Bối cảnh và sự ra đời của APEC
- Từ những năm 60 của thế kỷ XX, ý tưởng về liên kết khu vực đã được
một số học giả người Nhật đưa ra. Năm 1965, hai học giả người Nhật là:
Kojima và Kurimoto đã đề nghị thành lập một “Khu vực mậu dịch tự do Thái
Bình Dương” mà thành viên gồm 5 nước công nghiệp phát triển và mở cửa
cho một số thành viên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng
chảo Thái bình dương (TBD) tham gia. Sau đó, một số học giả khác, trong đó
2
các nền kinh tế NIEs. Tiềm lực lớn về xuất khẩu hàng hoá dịch vụ và vốn đầu
tư đòi hỏi phải có thị trường ổn định, rộng mở và hạn chế đến mức tối đa
những hàng rào ngăn trở sự lưu chuyển của hàng hoá, dịch vụ, đầu tư trong
khu vực. Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế ở khu vực trở thành nhu cầu cấp
thiết để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định.
- Trong khi đó, xu thế toàn cầu hoá phát triển mạnh thể hiện qua sự
phân công lao động quốc tế đan xen nhau dưới tác động của những tiến bộ
KH-CN, đặc biệt là công nghệ thông tin. Việc Trung Quốc cải cách và mở
cửa càng làm gia tăng xu thế này ở châu Á - Thái Bình Dương (CA-TBD).
Trong nền kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất, thương mại, tài chính và
dịch vụ ngày càng được quốc tế hoá. Cùng với toàn cầu hoá và như một sự
ứng phó với toàn cầu hoá, xu thế khu vực hoá cũng cũng phát triển mạnh cả
về chiều rộng và chiều sâu. Từ cuối những năm 80, liên kết kinh tế khu vực ở
châu Âu và Bắc Mỹ được đẩy mạnh thêm một bước. Các nước thuộc liên hiệp
châu Âu đã thoả thuận lập ra một thị trường chung vào năm 1992 và ráo riết
lập kế hoạch cho một liên minh tiền tệ với một đồng tiền chung. Còn ở Bắc
Mỹ, tháng 1/1989 Mỹ và Ca-na-đa chính thức ký hiệp định thành lập khu vực
mậu dịch tự do song phương (CAFTA). Trong khi đó, ở CA-TBD tuy có ổn
định tương đối về chính trị và là khu vực năng động, có nhịp độ tăng trưởng
kinh tế tương đối cao nhưng chưa có một hình thức liên kết nào có tính chất
chính thức, liên chính phủ và toàn thể khu vực để đảm bảo lợi ích của các
nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa bảo hộ ở
Tây Âu và Bắc Mỹ.
- Từ những năm 70 – 80, nhất là cuối những năm 80, trong khu vực
CA-TBD đã thấy rõ xu thế là các nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau
một cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt. Chỉ riêng về thương mại, năm 1989 xuất
khẩu của các nước CA-TBD sang Mỹ chiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu của
tăng trưởng và phát triển kinh tế của khu vực đòi hỏi phải thúc đẩy hệ thống
thương mại đa phương mở, tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế
nhằm tăng cường lợi ích chung thông qua việc khuyến khích các luồng
hàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các thành
viên. Tại hội nghị bộ trưởng lần thứ 3 ở Xê-un (Hàn Quốc) năm 1991, đã
thông qua tuyên bố Xê-un, đặt nền móng cho sự phát triển của APEC như
một khuôn khổ hợp tác với 4 mục tiêu là:
- Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung
của các dân tộc trong khu vực và bằng cách đó đã đóng góp vào sự tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới.
- Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế
giới do sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến
khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ.
- Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở vì lợi
ích của các nước CA-TBD và các nền kinh tế khác.
- Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ
và đầu tư giữa các thành viên phù hợp với nguyên tắc của GATT/WTO ở
những lĩnh vực thích hợp và không làm tổn hại đến các nền kinh tế khác.
Đến hội nghị cấp cao Bogor (In-đô-nê-xi-a), các nhà lãnh đạo
APEC đã tiến một bước lớn hơn hướng tới mục tiêu dài hạn về thương
mại, đầu tư tự do và mở cửa trong khu vực CA-TBD. Tuyên bố về quyết
tâm của hội nghị nhấn mạnh: chúng ta nhất trí tuyên bố cam kết hoàn
thành việc đạt được mục tiêu về thương mại, đầu tư và mở cửa trong khu
vực CA-TBD vào năm 2010 đối với các nền kinh tế thành viên phát triển
và năm 2020 đối với các thành viên đang phát triển. Có thể nói một cách
ngắn gọn mục tiêu cơ bản của APEC là: tự do hoá, thuận lợi hoá thương
mại, đầu tư và đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật
7
Trong khi thừa nhận mối quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực
phải dựa trên cơ sở cùng có lợi, để phù hợp với tính đa dạng của khu vực,
nguyên tắc này cũng nhấn mạnh cần chú ý tới sự khác biệt về trình độ phát
triển, chế độ chính trị – xã hội và yêu cầu của các nền kinh tế đang phát triển.
Đó là điểm rất quan trọng trong nguyên tắc hoạt động của APEC, nhằm giải
toả mối lo ngại của một số thành viên là các nước đang phát triển rằng sự
khác biệt lớn về trình độ phát triển kinh tế, KH-CN có thể dẫn tới sự lệ thuộc
bất bình đẳng của họ vào các nền kinh tế tiên tiến hơn.
2.2.2. Nguyên tắc đồng thuận
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của hợp tác trong APEC
như tuyên bố Xê-un đã nêu rõ là dựa trên: cam kết về sự đối thoại cởi mở và
xây dựng sự đồng thuận, bình đẳng, tôn trọng quan điểm của tất cả các thành
viên tham gia.
Khác với hoạt động của GATT/WTO, trong đó các nước phải trải qua
một quá trình thương thuyết, đàm phán lâu dài và thường là gay gắt để đạt
được những thoả thuận và hiệp định có tính pháp lý quốc tế cao, APEC đi đến
các quyết định thông qua quá trình xây dựng sự đồng thuận. Tất cả các hội
nghị, từ hội nghị cấp cao đến hội nghị bộ trưởng hay cấp chuyên viên đều
mang tính chất tư vấn, theo nghĩa là các thành viên không tham gia vào những
cuộc thương lượng, mặc cả để đạt được những quyết định ràng buộc. Toàn bộ
quyết định của các nhà lãnh đạo cấp cao, các bộ trưởng đều được đưa ra trong
tuyên bố chung phản ánh ý chí của tất cả các thành viên. Nguyên tắc này là cơ
sở bảo đảm cho sự bình đẳng giữa các thành viên tham gia APEC.
2.2.3. Nguyên tắc tự nguyện
Xuất phát từ đặc điểm của các nền kinh tế thành viên và các mối quan
hệ kinh tế trong khu vực CA-TBD, sự hợp tác giữa các thành viên trong
APEC mang tính chất tự nguyện. Điều này thể hiện trước hết, APEC chỉ là
9
Nói tóm lại, nguyên tắc hoạt động của APEC là: bình đẳng và tôn trọng
lẫn nhau; hỗ trợ và đôi bên cùng có lợi; quan hệ đối tác chân thành và theo
tinh thần xây dựng; mọi quyết định được đưa ra trên cơ sở nhất trí chung.
3. Cơ cấu tổ chức của APEC
3.1. Cấp chính sách
3.1.1. Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế APEC
Bắt đầu từ năm 1993, theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Clin-tơn,
tháng 11/1993 lần đầu tiên tại Seattle (Mỹ), 14 nguyên thủ đứng đầu các
thành viên đã gặp gỡ trao đổi về các vấn đề kinh tế trong khu vực, từ đó hội
nghị này được tổ chức đều đặn hàng năm. Đây là diễn đàn có tính quyết
định cao nhất, nơi hoạch định các chiến lược và viễn cảnh dài hạn cho
APEC.
3.1.2. Hội nghị liên bộ trưởng ngoại giao và kinh tế APEC
Tổ chức lần đầu tiên tại Can-bê-ra (11/1989). Chủ tịch hội nghị do
nước thành viên đăng cai tổ chức hội nghị đảm nhiệm.
Hội nghị có nhiệm vụ: quyết định phương hướng hoạt động của
APEC và ấn định thời gian thực hiện chương trình hành động cho năm sau.
Theo đó:
- Quyết định các vấn đề về tổ chức, xác định mục tiêu, nguyên tắc
hoạt động của APEC; thành lập các uỷ ban, hội đồng..., thành lập quỹ
APEC và quy định tỷ lệ đóng góp của các thành viên; vấn đề kết nạp thành
viên mới;
- Quyết định nguyên tắc, mục tiêu, nội dung các chương trình hành
động và đánh giá tiến trình hợp tác của APEC cũng như công tác của các
uỷ ban, các nhóm công tác;
- Xem xét và đánh giá việc thực hiện các sáng kiến của hội nghị cấp
cao các nhà lãnh đạo kinh tế;
11
3.2.6. Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC. Có nhiệm vụ nghiên cứu,
đề xuất các vấn đề liên quan đến phát triển doanh nghiệp trong APEC.
3.2.7. Các nhóm công tác. Có nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ do các
nhà lãnh đạo, bộ trưởng và quan chức cấp cao giao. Hiện có 11 nhóm công
tác trên các lĩnh vực: hợp tác kỹ thuật nông nghiệp; năng lượng; nghề cá;
phát triển nguồn nhân lực; khoa học và công nghệ; bảo vệ tài nguyên biển;
doanh nghiệp vừa và nhỏ; thông tin và viễn thông; du lịch; xúc tiến thương
mại; vận tải.
3.2.8. Các nhóm đặc trách. Hiện có 3 nhóm: nhóm đặc trách về mạng
các điểm liên hệ về giới (Gender Focal-Point Network); nhóm chỉ đạo về
thương mại điện tử (Electronic commerce Steering Group) và nhóm đặc
trách về chống khủng bố (Counter-Terroim Task Force).
3.3. Ban Thư ký APEC
Thành lập năm 1992, trụ sở tại Sing-ga-po. Đứng đầu Ban Thư ký là
giám đốc điều hành (do nước giữ ghế chủ tịch APEC cử với thời hạn 1 năm),
đây là các quan chức của chính phủ mang hàm đại sứ. Một phó giám đốc điều
hành (do nước sẽ giữ chức chủ tịch APEC vào năm tiếp sau cử). Ngoài ra, Ban
Thư ký hiện có khoảng 20 giám đốc chương trình, 25 nhân viên chuyên nghiệp
từ các nước biệt phái đến. Ban Thư ký thực hiện nhiệm vụ mang tính hành
chính, phục vụ các hội nghị và theo dõi việc triển khai các dự án của APEC
4. Một số nét về hoạt động của APEC trong thời gian qua
* APEC thành lập tháng 11/1989 với 12 nước thành viên ban đầu gồm:
Ốt-trây-li-a, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Singga-po, Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Niu-di-lân, Ca-na-đa và Mỹ.
- Năm 1991, kết nạp thêm 3 thành viên, gồm: Trung Quốc, Hồng Kông
và Đài Loan.
- Năm 1993, có thêm 2 thành viên là: Mê-xi-cô và Pa-pua-niu-ghi-nê.
13
nước không phải thành viên APEC có thể được tham gia các hoạt động với tư
cách khách mời tại các nhóm công tác của APEC.
Căn cứ quy chế trên, tính từ khi thành lập (1989) đến năm 1998,
tức sau gần 10 năm, APEC đã kết nạp thêm 9 thành viên mới. Từ năm
1998 đến nay, APEC thống nhất tạm ngừng thời hạn xem xét kết nạp
thành viên mới trong 10 năm để củng cố tổ chức.
* Theo số liệu thống kê, APEC có diện tích 62.620,1 nghìn km 2.
Dân số tính đến năm 2005 là 2.647,6 triệu người, mật độ dân số 42,3
người/km 2 . GDP đạt 23.008 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 8.739
USD. Kim ngạch xuất khẩu đạt 4.038,5 tỷ USD, bình quân đầu người
1.533,9 USD. Kim ngạch nhập khẩu 4.446,4 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) cộng dồn hết 2004 đạt 3.641,8 tỷ USD. Tổng
dự trữ quốc tế (không kể vàng) đạt 2.347,3 tỷ USD. APEC hiện chiếm
46% diện tích, 41,2% dân số, xấp xỉ 60% GDP và hơn 57% giá trị giao
dịch thương mại toàn cầu. Trong tổng số 14 nền kinh tế lớn nhất thế giới
với GDP lớn hơn 500 tỷ USD, thì có 7 nền kinh tế là thành viên của
APEC, trong đó có 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Nhật Bản.
Chỉ qua một vài số liệu nêu trên cũng chứng tỏ APEC là khu vực có vị
trí địa – kinh tế, địa – chính trị rất quan trọng trong khu vực và trên thế
giới.
II. VIỆC THAM GIA APEC CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NÉT VỀ
APEC 2006
1. Việt Nam với APEC
Trên cơ sở sự ra đời của APEC cùng với mục tiêu, nguyên tắc hoạt
động, quy chế thành viên cũng như vị trí địa – kinh tế, địa – chính trị của
APEC..., Đảng, Nhà nước ta nhận thấy, Việt Nam cần thiết, đồng thời có đủ
họp APEC trước đây với các sự kiện chỉ tập trung trong vòng 1 tháng quanh
hội nghị thượng đỉnh, APEC năm 2006 được tổ chức với khoảng hơn 100
15
cuộc họp diễn ra cả năm tại nhiều thành phố lớn trên phạm vi cả nước, kỳ họp
đầu tiên bắt đầu từ 20/2 và kết thúc bởi tuần lễ cấp cao APEC (từ 1219/11/2006) tại Hà Nội. Bởi vậy, để bảo đảm cho việc tổ chức thành công
năm APEC 2006, từ năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập
Uỷ ban quốc gia APEC 2006 do nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan làm Chủ
tịch (nay chức này được giao cho Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao
Phạm Gia Khiêm đảm nhiệm); 2 Phó Chủ tịch gồm (nguyên Bộ trưởng Ngoại
giao Nguyên Dy Niên và Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển); và 5
tiểu ban gồm (tiểu ban nội dung, tiểu ban an ninh, tiểu ban hậu cần, tiểu ban lễ
tân và tiểu ban tuyên truyền) mà thành viên là lãnh đạo các bộ, ngành có liên
quan đảm nhiệm. Uỷ ban này có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ trong
việc tiến hành công tác chuẩn bị và tổ chức các hoạt động của APEC tại Việt
Nam 2006.
Với chủ đề: “Hướng tới một cộng đồng năng động vì sự phát triển
triển bền vững và thịnh vượng”, năm APEC Việt Nam 2006 bao gồm rất
nhiều các hoạt động, trong đó tuần lễ cấp cao APEC 2006 là một trong những
sự kiện quan trọng nhất. Cho đến trước hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo
kinh tế APEC, hàng loạt các hội nghị của các uỷ ban, các quan chức cấp cao
(SOM) và hội nghị của các bộ trưởng (tài chính, du lịch, doanh nghiệp...) đã
điễn ra trên các địa bàn: Quảng Ninh, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, Thành
phố Hồ Chí Minh v.v... Mặc dù địa bàn tổ chức các hội nghị trải rộng trên
phạm vi cả nước, công tác bảo đảm gặp nhiều khó khăn (nhất là hội nghị bộ
trưởng du lịch được tổ chức tại Hội An – Quảng Nam ngay sau bão chan-chu
vừa đi qua), song với sự cố gắng nỗ lực cao của Việt Nam cũng như của các
thành viên APEC, các hội nghị này đều diễn ra theo đúng kế hoạch và thành
17
Cùng với việc tham gia vào các nội dung của tuần lễ cấp cao APEC,
nhiều các cuộc gặp song phương, đa phương diễn ra giữa các nguyên thủ các
nước. Trong đó, có 5 chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của: Tổng
Bí thư, Chủ tịch Trung quốc Hồ Cẩm Đào; Tổng thống Mỹ George Bush;
Tổng thống Nga Pu tin; Thủ tướng Nhật Bản Shino Abe và Thủ tướng Chi lê
Michelle Bachelet. Các cuộc gặp song phương, đa phương giữa: Nhật Bản Mỹ; Nhật Bản - Mỹ - Hàn Quốc; Trung Quốc - Mỹ; Nga - Mỹ và ASEAN Mỹ để trao đổi và giải quyết những vấn đề các bên quan tâm. Cũng trong thời
gian này, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã có trên 30 cuộc tiếp song phương với
lãnh đạo các nền kinh tế thành viên APEC, riêng Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng có khoảng 20 cuộc gặp song phương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao Phạm Gia khiêm có 12 cuộc gặp song phương, đa phương.
Trong tuần lễ cấp cao APEC diễn ra tại Hà Nội, đồng chí Vũ Khoan
đặc phái viên của Thủ tướng được cử làm tổng chỉ huy. Chỉ riêng việc bảo
đảm an ninh, đi lại của các đại biểu, Ban Tổ chức đã phải huy động hàng ngàn
cảnh sát, gần 1000 ô tô các loại và khoảng 500 tình nguyện viên đến từ các
trường đại học (Học viện Quan hệ quốc tế, Đại học Thương mại và Đại học
Ngoại ngữ - nay là Đại học Hà Nội).
Đáng chú ý, trong tuần lễ cấp cao APEC, đã có hàng chục hiệp định,
thoả thuận, hợp đồng hợp tác giữa Việt Nam với các nước được ký kết với trị
giá nhiều tỷ đô la. Với Trung Quốc, Việt Nam đã ký 10 hiệp định, văn bản
hợp tác với tổng trị giá 3 tỷ USD. Riêng tại Diễn đàn xúc tiến thương mại và
đầu tư với Việt Nam, đã có 8 hợp đồng, văn bản, dự án giữa doanh nghiệp
Việt Nam với các đối tác, tổng trị giá gần 2 tỷ USD.
Chiều ngày 19/11/2006, tuần lễ cấp cao APEC kết thúc và năm APEC
Việt Nam 2006 đã khép lại. Các nhà lãnh đạo APEC đã nhất trí thông qua
Tuyên bố Hà Nội với 3 nội dung chính là: thúc đẩy tự do thương mại và đầu
1. Những tác động tích cực
19
Như đã trình ở trên về APEC, từ bối cảnh ra đời, mục tiêu, nguyên tắc
hoạt động cũng như vị trí địa – kinh tế, địa – chính trị của APEC cho thấy,
APEC là một diễn đàn kinh tế có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
của khu vực CA-TBD nói riêng, của toàn thế giới nói chung. Đối với nước ta
cũng vậy, việc tham gia APEC là một tất yếu phù hợp với yêu cầu của công
cuộc đổi mới đất nước và xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế thế
giới hiện nay. Việc tham gia APEC đương nhiên có tác động đến mọi mặt đời
sống của đất nước cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng – an ninh QP-AN)....
Có thể thấy điều này trên một số điểm cơ bản sau:
Về kinh tế, đây là một trong những tác động tích cực đễ nhận thấy nhất
trong quá trình tham gia APEC của Việt Nam. Tuy mới gia nhập APEC được
8 năm nhưng quan hệ kinh tế Việt Nam – APEC đã có bước phát triển khá ấn
tượng, đặc biệt là trên các lĩnh vực đầu tư, thương mại và dịch vụ.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các thành viên APEC vào Việt Nam
tính từ năm 1998 đến hết tháng 9/2006 có 6.527 dự án, với tổng số vốn đăng ký
mới và bổ sung lên đến 49.391,5 triệu USD, chiếm 83,1% về tổng số dự án và
chiếm 69,2% về tổng số vốn FDI vào Việt Nam trong thời gian tương ứng. Trong
số 14 nước và vùng lãnh thổ đầu lớn nhất vào Việt Nam (trên 1 tỷ USD) thì APEC
có 10. Chỉ với 10 nước và vùng lãnh thổ này, lượng vốn đầu tư đăng ký đạt
47.273,3 triệu USD, chiếm 95,7% trong APEC và chiếm 66,2% tổng số vốn FDI
vào Việt Nam. Đồng thời, APEC cũng là diễn đàn có lượng vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam (trong đó có Nhật Bản).
- Xuất khẩu của của Việt Nam vào APEC khá lớn, riêng năm 2005 chiếm
71,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sang tất cả các nước trên thế giới (trong 7 nước
nhập khẩu lớn nhất – trên 1 tỷ USD của Việt Nam, thì APEC có 5), trong đó: Mỹ
21
sớm hiện thực hoá các mục tiêu kinh tế của thời kỳ quá độ và rút ngắn khoảng cách
phát triển giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Về chính trị, bên cạnh những tác động tích cực đối với phát triển kinh tế, việc
tham gia APEC của Việt Nam có ý nghĩa chính trị sâu sắc. Đó là, cùng với việc
tham gia APEC và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là một thực tiễn
sinh động minh chứng cho quan điểm, đường lối đối ngoại cũng như phát triển kinh
tế đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta. Đó là, chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá
và chủ động hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế. Điều này sẽ giúp cho cộng đồng
quốc tế có sự nhìn nhận đúng đắn hơn về Việt Nam cả về mục tiêu cũng như chủ
trương, chính sách phát triển, từ đó xây dựng mối quan hệ gắn bó hơn giữa Việt
Nam và cộng đồng quốc tế, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho quá trình phát
triển đất nước. Điều quan trọng hơn, là thành viên của APEC, Việt Nam có uy tín
hơn và tiếng nói có trọng lượng hơn trên trường quốc tế, đồng thời đây là cơ hội
quý để Việt Nam thực hiện các cuộc gặp song phương cấp cao và để tham gia vào
việc quyết định các vấn đề quan trọng của khu vực và trên thế giới. Mặc dù không
phải là nguyên nhân trực tiếp, song việc tham gia APEC cũng như là thành viên của
WTO vừa qua là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy để nhóm các nước
châu Á nhất trí cao việc đề cử Việt Nam để bầu là thành viên không thường trực
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 (điều mà chúng ta đã tham
gia ứng cử từ năm 1997). Rõ ràng, những gì mà Việt Nam đã và đang làm, trong đó
có việc tham gia APEC ngày càng khẳng định và nâng cao vị thế của nước ta trong
khu vực và trên trường quốc tế, làm cho cộng đồng quốc tế biết đến hình ảnh của
Việt Nam không chỉ trong chiến đấu, mà còn rất năng động, sáng tạo trong xây
dựng, phát triển đất nước.
Về xã hội, việc tham gia APEC sẽ tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho
sản xuất, trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam với các thành viên APEC, trong đó có
mưu xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ giữa cộng đồng quốc tế với Việt Nam của
các thế lực thù địch, phản động. Ngoài ra, trước yêu cầu thực tiễn, việc hợp tác
23
trong APEC bên cạnh mục tiêu chính là thúc đẩy tự do hoá thương mại, đầu tư thì
các vấn đề mang tính khu vực, toàn cầu (như: dịch bệnh, nghèo đói, chống khủng
bố...) cũng từng bước được đưa vào trong chương trình nghị sự của APEC. Tất cả
những vấn đề đó, trên từng khía cạnh cụ thể đều có tác động tính cực đến củng cố
QP-AN, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hiện nay.
2. Những tác động tiêu cực
Cần phải thấy rằng, việc tham gia APEC của Việt Nam, đi đôi với những tác
động tích cực cũng sẽ đặt ra không ít những vấn đề mà chúng ta cần phải quan tâm
và nỗ lực giải quyết trên tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế đến chính trị, ngoại giao, văn
hoá và QP-AN.
Trước hết, trong công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân hiện nay, nếu không được quan tâm đúng mức sẽ dễ dẫn đến
nhận thức, tư tưởng lệch lạc, đề cao lợi ích vật chất, coi nhẹ lợi ích văn hoá, QPAN. Đặc biệt là ý thức cảnh giác cách mạng, ý thức về kết hợp kinh tế với QP-AN
trong các hoạt động đời sống xã hội sẽ dễ bị xem nhẹ. Việc lầm lẫn giữa đối tượng,
đối tác cũng như tư tưởng tuyệt đối hoá “hợp tác” mà quên đi “đấu tranh”, đồng
thời chỉ thấy mặt thuận lợi mà không thấy hết những khó khăn, thách thức trong
quá trình hội nhập... cũng sẽ xuất hiện nếu công tác giáo dục, tuyên truyền không
được thực hiện có hiệu quả. Đây là điều rất nguy hiểm và gây hậu quả khó lường
đối với việc thực hiện hai nhiệm chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Thứ hai, tham gia APEC trong điều kiện trình độ kinh tế, năng lực cạnh
tranh... của nền kinh tế đất nước nói chung, của các doanh nghiệp Việt Nam nói
riêng còn nhiều hạn chế, bất cập, trong khi đó APEC lại bao gồm trong đó nhiều
nền kinh tế lớn với trình độ phát triển cao, trong đó có cả những nền kinh tế đứng
nhất, nhì thế giới (Mỹ, Nhật Bản). Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với các
QP-AN của đất nước khi thực hiện nhiệm vụ hợp tác chống khủng bố... Tất cả điều
này sẽ gây những ảnh hưởng không nhỏ đến việc giữ vững định hướng XHCN
25
trong quá trình phát triển, và đương nhiên liên quan đến nó là việc hiện thực hoá các
mục tiêu trong thời kỳ quá độ của Việt Nam cũng sẽ gặp không ít khó khăn v.v...
Tóm lại, sự ra đời của APEC là một tất yếu khách quan phù hợp với quy luật
và xu thế thời đại, đồng thời mục tiêu, nguyên tắc, cơ cấu tổ chức hoạt động của
APEC là phù hợp với điều kiện thực tiễn của khu vực nói chung và thực tiễn Việt
Nam nói riêng. Cùng với quá trình đó, việc tham gia của Việt Nam vào APEC cũng
là một tất yếu. Tuy nhiên, tham gia vào diễn đàn này bên cạnh những cơ hội lớn
cho phát triển kinh tế cũng đặt ra không ít những thách thức đòi hỏi phải cố gắng nỗ
lực cao để có thể vượt qua, bảo đảm việc tham gia APEC của Việt Nam có tác động
tích cực đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặc dù vậy, kết quả của
quá trình này như thế nào còn phụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò
quản lý, điều hành của Nhà nước cùng ý thức, tinh thần trách nhiệm cao của các
ngành, các cấp, các địa phương và của mỗi người Việt Nam.
Những nghiên cứu trên về APEC, nhất là những tác động của nó đến đời
sống kinh tế, chính trị, QP-AN của Việt Nam với tư cách là thành viên của APEC
mới chỉ là những nét rất cơ bản. Bởi vậy, trong thời gian tới vấn đề này cần được
tiếp tục theo dõi, đầu tư, nghiên cứu làm rõ hơn. Trên cơ sở đó, góp phần khai thác
có hiệu quả những thuận lợi và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực
của quá trình tham gia APEC đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình hiện nay./.