ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ DUY BÌNH
QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ
VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
LÊ DUY BÌNH
QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ
VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số:
60 22 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
chính trị .................................................................................................... 49
2.2.2. Đẩy mạnh đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ............................................................................ 55
2.2.3. Thành tựu và hạn chế trong quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở nước ta hiện nay ..................................................................... 61
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA ĐỔI
MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIÊN NAY ...............70
3.1. Một số nguyên tắc và phương hướng cơ bản .............................................. 70
3.1.1. Một số nguyên tắc cơ bản ........................................................................ 70
3.1.2. Một số phương hướng cơ bản .................................................................. 78
3.2. Một số giải pháp cơ bản .............................................................................. 82
3.2.1. Nhóm giải pháp về nhận thức .................................................................. 82
3.2.2. Nhóm giải pháp về hành động ................................................................. 91
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................ 109
BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH
:
Chủ nghĩa xã hội
HĐND
:
Đầu tư gián tiếp nước ngoài
MTTQ
:
Mặt trận Tổ quốc
TBCN
:
Tư bản chủ nghĩa
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
WB
hóa, hiện đại hoá đất nước.
Nhằm nhận thức sâu sắc và có hệ thống lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định bản chất khoa học trong nhận thức
và hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị, từ đó nêu một số khuyến nghị và định hướng một số giải
pháp thực hiện mối quan hệ đó trong giai đoạn hiện nay là đề tài nghiên cứu
của luận văn Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam
hiện nay.
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nếu nhìn vào môn khoa học Lịch sử các học thuyết chính trị, chúng ta
thấy đối tượng nghiên cứu của nó là các tư tưởng và học thuyết chính trị, pháp
luật phát sinh và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Điều này cho thấy các học thuyết chính trị cô đọng lợi ích kinh tế của giai cấp
này hoặc giai cấp khác. Những lợi ích kinh tế ấy của các giai cấp có quyền lực
chính trị bảo vệ đòi hỏi phải có những nghiên cứu xứng tầm để khẳng định tư
tưởng chính trị của mình. Có thể liệt kê các học thuyết như vậy từ thời Hy Lạp
cổ đại, qua La Mã chiếm hữu nô lệ, đến các học thuyết chính trị Tây Âu phong
kiến, trong các cuộc cách mạng tư sản sơ kỳ (XVII), khai sáng (XVII-XVIII)
và của các nhà CNXH không tưởng Pháp như Xanh Ximông, Phuriê…
Trong chủ nghĩa Mác-Lênin, kinh tế, chính trị và mối quan hệ giữa
chúng luôn là vấn đề quan trọng và cấp thiết, có tính thời sự trong các giai
đoạn khác nhau của cách mạng nên đã có không ít những công trình nghiên
cứu. Tiêu biểu là các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế,
chính trị và mối quan hệ giữa chúng của các nhà kinh điển như C.Mác và
Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Tư bản, Chống Đuyrinh, Nội
chiến ở Pháp, Phê phán cương lĩnh Gôta, Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư
hữu và của nhà nước… V.I.Lênin: Bản sơ thảo lần đầu những nhiệm vụ trước
Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006. Nguyễn Thanh Tuấn và
những người khác (đồng chủ biên): Quan điểm chính trị trong một số tác
phẩm kinh điển Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Nguyễn
Thái Sơn: Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở Việt Nam
hiện nay, đề tài QTCT.07.01. Lương Đình Hải: Quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị: Những vấn đề cơ bản của Việt Nam, đề tài cấp Bộ, Viện
KHXH Việt Nam, 2009. Học viện Báo chí - Tuyên truyền: Hội thảo “Mối
quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị”, 10/2009.
Nguyễn Thái Sơn: Một số mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam hiện nay. Đề tài TTCT.09.06, 2010…
3
Những công trình trên, ở mức độ này hay mức độ khác đã có những
đóng góp quan trọng vào việc làm sáng tỏ những nội dung cơ bản về kinh tế,
chính trị và quan hệ giữa chúng. Tuy nhiên, một là, do tiếp cận từ các góc độ
khác nhau để làm rõ nội dung các khái niệm và quan hệ giữa chúng; hai là,
các công trình trên thường dừng lại ở cấp độ lý luận chung; ba là, thực tiễn
đời sống kinh tế, chính trị luôn vận động và phát triển làm nảy sinh một số
vấn đề mới cần được tiếp tục nghiên cứu. Do vậy, đề tài hy vọng sẽ góp phần
làm phong phú thêm kho tàng lý luận và thực tiễn về kinh tế, chính trị và vấn
đề đổi mới đồng thời giữa chúng, nêu ra một số khuyến nghị định hướng và
giải pháp hiện thực hóa mối quan hệ đó trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ thực trạng quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay; trên cơ sở đó, đề xuất một số phương hướng
và giải pháp cho việc tăng cường hơn nữa việc đồng thời đổi mới kinh tế với
đổi mới chính trị trong thời gian tới.
Chí Minh; một số quan điểm về kinh tế, chính trị trong Văn kiện Đại hội từ
lần thứ IV đến lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam và thực tiễn 25 năm
đổi mới.
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp
lịch sử, kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê,
đối chiếu, so sánh... phù hợp với yêu cầu của cấu trúc luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa quan điểm của các nhà kinh điển Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị; giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị.
- Làm sáng tỏ thực trạng quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị ở Việt Nam hiện nay, với cả thành tựu và hạn chế.
5
- Trên cơ sở phân tích thực trạng quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở Việt Nam, luận văn khuyến nghị một số phương hướng và giải
pháp cơ bản nhằm thực hiện hiệu quả quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở Việt Nam thời gian tới.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
hoặc giảng dạy các môn học có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết:
Chƣơng 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế, chính trị
và quan hệ giữa chúng.
Chƣơng 2: Thực trạng quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính
trị ở Việt Nam hiện nay.
các quan hệ đó phát triển” [31, tr.56]. “Những tàn tích trên thực tế do quá khứ
để lại của trình độ phát triền kinh tế trước đó. Những tàn tích đó vẫn tiếp tục
được duy trì một phần chỉ theo truyền thống hoặc nhờ visinestiae (lực quán
7
tính) và tất nhiên cũng gồm cả môi trường bên ngoài hình thức xã hội đó” [34,
tr.270-271].
Kinh tế chính trị Mác-Lênin là khoa học nghiên cứu quan hệ sản xuất
trong mối quan hệ, tác động qua lại giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng
tầng trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định nhằm tìm ra các quy luật
kinh tế trong sự vận động của xã hội đó. Môn khoa học này được biên soạn từ
nội dung và kết cấu bộ Tư bản của C.Mác; tác phẩm Chủ nghĩa đế quốc - giai
đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản của V.I.Lênin và một số tác phẩm khác
của các nhà kinh điển mác xít. Đồng thời các quan điểm kinh tế, chính trị của
các nhà lý luận mácxít cũng được kế thừa sáng tạo và phát triển toàn diện để
hoàn thiện và phát triển môn kinh tế chính trị Mác-Lênin, trong bài “Lịch sử
của khoa kinh tế chính trị” của bộ Tư bản, C.Mác viết “Với tư cách là một
khoa học riêng biệt thì khoa kinh tế chính trị chỉ xuất hiện vào thời kỳ công
trường thủ công, nó chỉ đứng trên quan điểm của sự phân công lao động trong
xã hội nói chung. Coi đó là một phương tiện để sản xuất ra nhiều hàng hoá
hơn với số lượng lao động như cũ, do đó là một phương tiện để làm cho hàng
hoá rẻ đi và đẩy nhanh sự tích luỹ của tư bản” [30, tr.529-530]. Về đối tượng
của khoa kinh tế chính trị, ông viết “Nhưng hình thái hàng hoá của sản phẩm
hay hình thái giá trị của hàng hoá lại là hình thái tế bào kinh tế của xã hội tư
sản” [30, tr.16-21]. “Một nước phải học hỏi và có thể học hỏi ở các nước
khác. Một xã hội, ngay cả khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận
động của nó (...) cũng không thể nào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự
nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ những giai đoạn đó. Nhưng có thể rút ngắn
chính quyền nhà nước. Chính trị thể hiện tập trung quyền lợi của các giai cấp
xã hội. Do chỗ không một giai cấp nào có thể xác lập hay giữ vững được sự
thống trị kinh tế của mình nếu không có quyền lực chính trị, cho nên chính trị
giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế. Sau khi đã vạch ra và thực hiện đường lối
chính trị đúng đắn thì trọng tâm của công cuộc xây dựng xã hội mới chuyển
sang việc tổ chức kinh tế, tổ chức hệ thống kinh tế tổ chức hệ thống quản lý
kinh tế. Nhà nước XHCN có chức năng tổ chức kinh tế và văn hoá giáo dục
9
mới. Cải tiến hệ thống quản lý kinh tế nâng cao trình độ khoa học trong kinh
tế là một trong những mặt quan trong nhất trong đường lối chính trị của Đảng
Cộng sản trong giai đoạn hiện nay” [60, tr.292].
Trong các tài liệu lý luận hiện đang có ít nhất hai cách hiểu về khái
niệm kinh tế khác nhau theo mức độ rộng và hẹp về ngữ nghĩa của từ. Kinh tế
là “1. Tổng thể các hoạt động của một cộng đồng người, một nước, liên quan
đến toàn bộ quá trình hay một phần của tổng quá trình bao gồm các quá trình
sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội. 2. Tổng thể
những mối quan hệ trong quá trình sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội
nhất định, trong tổ chức và hoạt động của cơ cấu hạ tầng của xã hội, bao gồm
các ngành kinh tế - kỹ thuật, các loại hình sản xuất tương ứng. Nền kinh tế
quốc dân của một nước bao gồm các ngành, các vùng lãnh thổ, các cơ sở và
các loại hình sản xuất và bao trùm các khâu của nền sản xuất xã hội (sản xuất
- phân phối - trao đổi - tiêu dùng) trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước. Mỗi một
phương thức sản xuất đều có nền kinh tế riêng. Mỗi nền kinh tế đều do các
quan hệ sản xuất cũng như tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất quy
định” [61, tr.17]. “Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống
của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã
hội” [61, tr.18].
Tuy không thể đồng nhất “kinh tế” với “hạ tầng cơ sở” theo nghĩa triết
học (nghĩa rộng) bởi ở đây kinh tế rộng hơn hạ tầng cơ sở với nội dung là
tổng hợp các quan hệ sản xuất đang tồn tại trong một hình thái kinh tế - xã hội
xác định. Còn theo nghĩa hẹp thì kinh tế lại đồng nghĩa với hạ tầng cơ sở. Đây
là điều cần lưu ý khi sử dụng các cách hiểu về kinh tế để xem xét đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững ở nước ta
hiện nay.
Nói đổi mới kinh tế, hoặc cải cách kinh tế, cần phải hiểu rằng đó là làm
cho nền kinh tế khác trước, không còn khủng hoảng, trì trệ, lạc hậu như xưa
mà là phát triển năng động, tiến bộ, đáp ứng đựoc đòi hỏi của sự phát triển
11
trong điều kiện và hoàn cảnh mới, nhưng không làm thay đổi bản chất của
nền kinh tế, càng không thể làm thay đổi bản chất của chế độ xã hội. Đó là sự
thay đổi trong nền kinh tế quốc dân trên cơ sở thay đổi quan điểm, đường lối,
chính sách, cách thức tổ chức thực hiện, thay đổi các hình thức tổ chức và
quản lý sản xuất, phát triển các lực lượng sản xuất, làm tăng trưởng và phát
triển kinh tế, hay nói rộng hơn là thay đổi mô thức phát triển kinh tế.
Tóm lại, từ những quan niệm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa MácLênin, có thể hiểu Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của
con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối,
tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu
ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn.
Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người các
mỗi quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy
cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích”.
Như vậy, theo nghĩa rộng và đầy đủ nhất, kinh tế không chỉ bao gồm
những yếu tố cấu thành của phương thức sản xuất với tư cách là những điều
kiện gắn liền trực tiếp với quá trình sản xuất, mà còn gồm cả những điều kiện
nước là biểu hiện tập trung nhất của chính trị.
Do là một trong những lĩnh vực phức tạp nhất trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội có giai cấp; việc tiếp cận chính trị từ những phương diện và
cấp độ khác nhau, những quan điểm giai cấp khác nhau nên có nhiều cách
nhìn khác nhau về chính trị. Từ điển tiếng Việt coi “Chính trị là những vấn đề
tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và quan hệ về
mặt nhà nước giữa các nước với nhau” (chế độ chính trị, tình hình chính trị
trong nước). Chính trị là hoạt động của một giai cấp, một chính đảng, một tập
đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước
(đường lối chính trị, hoạt động chính trị). Chính trị là những hiểu biết về mục
đích, đường lối, nhiệm vụ đấu tranh của một giai cấp, một chính Đảng nhằm
giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước (giáo dục ý thức chính
trị, vững vàng về chính trị). Chính trị là hoạt động nhằm nâng cao giác ngộ
13
chính trị do quần chúng tổ chức, quần chúng thực hiện đường lối nhiệm vụ
chính trị nhất định (công tác chính trị, cán bộ chính trị). Chính trị là sự khéo
léo đối xử để đạt được mục đích mong muốn (thái độ chính trị). Chính trị là
khoa học nghiên cứu về tổ chức và đời sống chính trị của xã hội về những vấn
đề chính sách đối nội và đối ngoại” [60, tr.158]
Từ điển Triết học định nghĩa “Chính trị sự là tham gia vào các công việc
của Nhà nước vào việc quy định những hình thức nhiệm vụ với những nội
dung hoạt động của Nhà nước. Lĩnh vực chính trị bao hàm các vấn đề như chế
độ nhà nước quản lý đất nước, lãnh đạo các giai cấp vấn đề đấu tranh đảng
phái... Những lợi ích căn bản những quan hệ qua lại của các giai cấp biểu hiện
ra trong chính trị. Chính trị cũng biểu hiện qua quan hệ giữa các dân tộc và
giữa các quốc gia thông qua chính sách đối nội, đối ngoại. Các quan hệ giữa
các giai cấp và do đó cả chính trị của họ nữa, bắt nguồn từ địa vị kinh tế của họ.
động trong đời sống xã hội.
Khái lược nội dung chính trị trong các tác phẩm của C.Mác,
Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, chúng ta thấy các nhà kinh điển còn sử dụng khái
niệm chính trị theo nghĩa hẹp. Đó là khi xem xét những yếu tố của chính trị
phản ánh bản chất cơ sở kinh tế của xã hội cụ thể sinh ra nó, hoặc khi xem xét
vai trò của các yếu tố ấy đối với cơ sở kinh tế thì chính trị được coi là bộ phận
quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng. Với nội hàm này, chính trị bao
gồm hệ tư tưởng chính trị, các thiết chế chính trị tương ứng đang tồn tại hiện
thực trong xã hội ở một giai đoạn lịch sử cụ thể mà yếu tố quan trọng nhất của
nó là nhà nước. Có thể coi Nhà nước và hệ tư tưởng chính trị là biểu hiện tập
trung và cô đọng của chính trị từ hai góc độ thống nhất: Nhà nước là biểu hiện
tập trung nhất của chính trị từ góc độ tổ chức thực tiễn, còn hệ tư tưởng chính
trị là biểu hiện tập trung và cô đọng của chính trị từ góc độ lý luận [14, tr.15].
Tuy nhiên cũng nên hiểu rằng, chủ nghĩa duy vật biện chứng không đồng nhất
chính trị với kiến trúc thượng tầng; chỉ có một vài yếu tố, bộ phận của chính
trị thuộc về kiến trúc thượng tầng (hệ tư tưởng chính trị, nhà nước) và cũng có
15
yếu tố, bộ phận của chính trị nằm ngoài kiến trúc thượng tầng (tình cảm, dư
luận, tư tưởng, thái độ chính trị thường ngày, mối quan tâm chính trị). Quan
hệ kinh tế và chính trị là lát cắt khác với quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng.
Có thể khái quát nội dung quan niệm mácxít về chính trị vào những
điểm sau: 1) Chính trị là loại quan hệ xã hội đặc biệt bắt nguồn từ quan hệ về
lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc; trong đó,
trước hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế. 2) Vấn đề quan trọng nhất của
chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước, quyền lực nhà nước, là sự tham gia
vào công việc nhà nước; định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội
tốt hơn, đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi phát triển của xã hội hay nói tổng quát
hơn đó là thay đổi phương thức vận hành đời sống chính trị.
Tóm lại, từ cách tiếp cận quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, có thể
“chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia trong
vấn đề giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước; là những phương hướng,
những mục tiêu được quy định bởi lợi ích căn bản của giai cấp, của đảng phái;
là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội; là hoạt động
thực tiễn chính trị của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để thực hiện
đường lối đã được lựa chọn nhằm đi tới muc tiêu đã đươc lựa chọn nhằm đi
tới mục tiêu đã đặt ra”.
Tuy nhiên, nếu quan niệm rằng chính trị chỉ là những hoạt động xoay
quanh vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước thì trong xã hội cộng
sản, chính trị sẽ dần trở nên thừa và mất hẳn. Bởi vậy, nên quan niệm thêm
rằng, chính trị là hoạt động của con người nhằm làm ra, gìn giữ và điều chỉnh
những luật lệ chung mà những luật lệ này tác động trực tiếp lên cuộc sống của
những người góp phần làm ra, gìn giữ và điều chỉnh những luật lệ chung đó.
Với cách hiểu như vậy thì dù trong xã hội cộng sản, chính trị vẫn còn tồn tại và
vẫn giữ vai trò quan trọng đối với từng con người cũng như toàn xã hội. Trong
bất kỳ xã hội nào thì cũng cần những luật lệ chung để hoạt động nhịp nhàng và
17
khoa học, tránh tình trạng vô tình hay cố ý xâm phạm quyền lợi, lợi ích, tài sản,
sức khỏe hay thậm chí tính mạng của người khác hay của cộng đồng.
Luận văn này nghiên cứu khái niệm chính trị từ góc độ là yếu tố quan
trọng cơ bản của kiến trúc thượng tầng, cái thứ hai trong mối quan hệ với cái
thứ nhất (là kinh tế) và sự tác động trở lại của nhà nước đối với kinh tế trong
xã hội Việt Nam hiện nay.
1.2. Quan điểm mácxít về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ
- tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ
nhất định của lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản
xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở trên đó dựng nên
một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội
nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó” [25, tr.14-15]. Như vậy, trong hệ
thống các quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất là bộ phận cấu thành quan trọng
nhất. Với tư cách là cơ sở kinh tế, quan hệ sản xuất có ảnh hưởng quyết định
tới sự biến đổi của chính trị, cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúc thượng
tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn và khi xét cuộc đảo lộn ấy, cũng cần phân biệt đảo
lộn vật chất - mà người ta có thể xác nhận với một sự chính xác của khoa học
tự nhiên - trong những điều kiện kinh tế của sản xuất... với những đảo lộn trong
tư tưởng con người về những đảo lộn vật chất ấy.
Kinh tế và chính trị tác động qua lại với nhau. Một mặt, chính trị phụ
thuộc vào kinh tế, sự chuyển biến về chế độ sở hữu gắn liền với sự chuyển
biến về chế độ chính trị, “Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại” [19, tr.47].
Kinh tế mạnh mới đảm bảo cho nền chính trị ổn định và ngược lại chính trị ổn
định sẽ tác động trở lại kinh tế và có “địa vị hàng đầu” do tính giai cấp, tính
đảng của các hoạt động kinh tế trong các chế độ xã hội có giai cấp. Quan hệ
biện chứng giữa kinh tế và chính trị còn thể hiện ở chỗ chúng có thể phù
hợp/không phù hợp nhau. Nếu phù hợp, quan hệ giữa chúng sẽ tạo nên sự ổn
định và phát triển của xã hội; nếu không phù hợp, chúng sẽ tạo ra sự bất ổn,
sự trì trệ, thậm chí là rối loạn xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin không tuyệt đối
19
hoá và không nhấn mạnh hoặc đề cao quá mức một trong hai yếu tố của quan
hệ mang tính biện chứng sâu sắc này. Bởi nếu đề cao vai trò của nhà nước nói
riêng, kiến trức thượng tầng nói chung và phủ nhận hoặc xem xét nhẹ tác