ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
LỚP RKTN21
NHÓM 4
BÀI TẬP NHÓM
MÔN HỌC: KINH TẾ VĨ MÔ
CHỦ ĐỀ 2: NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ
GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở VIỆT NAM
Nhóm trưởng
Giáp Văn Biên
Email:
SĐT: 0982.089.084
Danh sách nhóm
1. Giáp Văn Biên
2. Lê Sỹ Giảng
3. Đỗ Mạnh Hà
4. Dương Văn Hinh
5. Nguyễn Quốc Hưng
6. Vũ Văn Lộc
7. Hoàng Thị Sáu
8. Hà Thị Thơm
9. Nguyễn Trung Tín
10. Lê Thanh Tuyên
11. Nguyễn Quốc Việt
VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
1.1. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm
Là sự gia tăng lực lượng kinh tế của năm này so với năm trước hoặc năm được
chọn làm xuất phát điểm của chu kỳ nghiên cứu.
Hoặc: Là sự tăng theo quy mô sản lượng hay thu nhập bình quân đầu người của
một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Đó là kết quả được tạo ra
bởi tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế.
•
1.1.2.Phương pháp xác định tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng hàng năm phản ánh % thay đổi của sản lượng năm sau so với
năm trước.
GDPr1
-
GDPr1
Trong đó: A% là tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm GDPr1
lượng thực tế cuối năm và đầu năm nghiên cứu.
•
và GDPr0 Là sản
Xác định tốc độ tăng trưởng bình quân thời kì theo công thức
ā% =
Trong đó : là sản lượng thực tế của năm báo cáo thời kì nghiên cứu
là sản lượng thực tế của năm gốc thời kì nghiên cứu.
S= -C + MPS.Y
I, S
i
E
S1
I
i2 i1
C
Y
Y
-C
I (i)
I
Y*
Sự tác động của tiết kiệm và đầu tư đến thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
Tại điểm E mức tiết kiệm mong muốn bằng mức đầu tư mong muốn.
1.1.4.Các dạng tăng trưởng kinh tế
1.1.4.1. Tăng trưởng kiểu “bong bóng xà phòng”
1.1.5. Các biểu hiện điển hình về kinh tế trong sự tăng trưởng
1.1.5.1. Giá cả tăng do đó lạm phát tăng
Giá cả (P) tăng do một số nguyên nhân sau:
- Do mở rộng sản xuất kinh doanh ⇒ nhu cầu về tư liệu sản xuất tăng ⇒ giá cả
tăng
- Do giá cả hàng hóa đầu vào tăng nên giá thành, giá cả đầu ra phải tăng.
- Do sự kì vọng về lợi nhuận của các nhà đầu tư tăng ⇒ Chi tiêu khu vực tư nhân
(I) tăng ⇒ Tăng tổng cầu (AD⇑).
- Xuất khẩu tăng ⇒ Tổng cầu (AD⇑)
Tóm lại, AD⇑ dẫn đến P⇑.
1.1.5.2. Đầu tư tăng
I⇑⇒AD⇑.
1.1.5.3. Lãi suất ngân hàng tăng (i⇑)
I⇑ ⇒MD ⇑⇒i ⇑.
1.1.5.4. Sự chu chuyển của vốn tăng
1.1.5.5. Những biến động bất thường về mức độ chi tiêu, tích lũy và đầu tư
Khi nền kinh tế tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm sẽ tạo nên tâm lý lạc
quan, từ đó dẫn đến C>S, đầu tư ồ ạt,…
1.2. THÂM HỤT NGÂN SÁCH
1.2.1. Thâm hụt ngân sách nhà nước:
Thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước) là tình trạng các
khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm
hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là
thặng dư ngân sách.
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm
hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước.
VD: Thâm hụt NSNN năm 2009 là 155 900 tỷ đồng, tỉ lệ thâm hụt so với GDP là 6.9
Trong đó: A + B +C = D + E + F. Công thức tính thâm hụt NSNN của một năm sẽ
như sau:
Thâm hụt NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C
Các lý thuyết tài chính hiện đại cho rằng, NSNN không cần thiết phải cân bằng theo
tháng, theo năm. Vấn đề là phải quản lý các nguồn thu và chi sao cho ngân sách không bi
thâm hụt qua lớn và kéo dài. Tuy vậy, trong nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát
triển, các Chính phủ vẫn theo đuổi một chính sách tài khóa thận trọng, trong đó chi ngân
sách phải nằm trong khuôn khổ các nguồn thu ngân sách để tránh tình trạng thâm hụt.
1.2.2. Phân loại thâm hụt NSNN:
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu
và thâm hụt chu kỳ.
7
•
Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của
chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo
dục, quốc phòng,...
•
Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là
bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy
thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi
ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
Giá trị tính ra tiền của thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ được tính toán như sau:
- Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Chính
phủ. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, tăng chi tiêu sẽ làm tăng mức
thâm hụt NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và chi tiêu của Nhà nước thì
mức thâm hụt NSNN sẽ giảm bớt. Mức thâm hụt do tác động của chính sách cơ cấu thu chi
gây ra được gọi là thâm hụt cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng
hợp của thâm hụt chu kỳ và thâm hụt cơ cấu sẽ là thâm hụt NSNN.
PHẦN 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH
VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001 – 2016
2.1. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GIAI ĐOẠN 2001- 2016.
2.1.1. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2001 – 2016.
Quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001- 2016 có thể được chia
thành ba giai đoạn chính: 2001-2005, 2006-2010, 2011-2015 tương ứng với các thời kỳ kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm.
2.1.1.1. Giai đoạn 2001-2005.
Cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 đã gây ra tác động tiêu cực đến nền
kinh tế Việt Nam. Tăng trưởng GDP thời kỳ 1992-1997 đang ở mức 8-9% đã giảm đáng kể
9
xuống còn 5,76% vào năm 1998 và 4,77% năm 1999. Nền kinh tế bắt đầu hồi phục vào
năm 2000 và lấy lại tốc độ tăng trưởng GDP ở mức 6,79%. Sau năm bản lề này, tốc độ
tăng trưởng tăng đều đặn và mạnh mẽ trong suốt giai đoạn 2001-2005. Tăng trưởng kinh tế
cũng được hỗ trợ bởi môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, được thể hiện bằng tỷ lệ lạm phát
ổn định dưới mức 10% trong cả 5 năm.
Bảng 2.1.1.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng GDP (%)
441
2003
7,34
4
39.55
39.161
492
2004
7,79
3
45.55
44.497
559
2005
8,44
với nền kinh tế.
Nền kinh tế tiếp tục nhịp tăng trưởng ở mức cao, đạt mức cao nhất năm 2007
(8,46%). Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, nền kinh tế phát
triển chậm lại đáng kể trong năm sau đó và duy trì tốc độ tăng trưởng khiêm tốn này đến
cuối giai đoạn. Mặc dù vậy, tốc độ tăng trưởng trung bình cả giai đoạn là 7,01%, vẫn nằm
trong nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các nước đang phát triển và quy mô của
nền kinh tế tính theo GDP tăng gần gấp đôi trong vòng 5 năm. Đáng chú ý, là Việt Nam đã
10
ra khỏi nhóm các nước chậm phát triển có mức thu nhập thấp (LDC), bước vào nhóm các
nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp.
Bảng 2.1.1.2. Tình hình tăng trưởng kinh tế
Tổng (triệu USD)
Đầu người (USD)
Tăng trưởng GDP (%)
2006
8,23
GDP
66.340
2007
8,46
77.391
99.826
87
87.2
45
1.1
18
1.0
2010
6,78
110.686
07
97.4
60
1.2
27
tiền tệ để giảm thâm hụt ngân sách cũng như giảm mức chỉ số giá tiêu dùng cao. Các
chính sách hỗ trợ của Chính phủ trong giai đoạn này cũng giúp giảm những khó khăn
trong đời sống của người dân gây ra bởi giá cả tăng cao, đặc biệt với các nhóm yếu thế.
Tuy nhiên, tình hình kinh tế trở nên phức tạp do cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu xảy ra vào năm 2008. Đến cuối năm 2008, Chính phủ đã công bố gói kích cầu kinh tế
nhằm thay đổi chính sách kinh tế, đề ra bốn gói giải pháp cấp bách để thực hiện vào năm
2009, trong đó có chính sách tài khóa bao gồm việc thúc đẩy đầu tư và giảm thuế đóng
vai trò cốt yếu.
Giai đoạn 2006-2010 ghi nhận một biến chuyển mang tính lịch sử khi Việt Nam
chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào
ngày 01 tháng 11 năm 2007. Sự kiện này đánh dấu những nỗ lực không ngừng của quốc
gia trong việc mở rộng chính sách kinh tế đối ngoại, tăng cường và hoàn thiện thể chế,
luật pháp và nhiều cam kết khác trong việc theo đuổi một nền kinh tế định hướng thị
trường. Với dấu mốc này, Việt Nam đã có thể hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu
và tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn, chuẩn bị cho một làn sóng đầu tư vốn nước
ngoài, và gia tăng hoạt động thương mại.
11
2.1.1.3. Giai đoạn 2011-2015 và năm 2016.
Mục tiêu ban đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm cho giai đoạn 20112015 là phát triển kinh tế “nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ
cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh”. Trong giai
đoạn 2011-2015, lạm phát xuất hiện ngay từ đầu, kéo theo suy giảm kinh tế trong năm
2012 là hệ quả từ các tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu. Do những khó khăn ở năm
đầu tiên, mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011-2015 đã được điều chỉnh là “kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đảm bảo
an sinh xã hội”. Từ năm 2013 trở đi là giai đoạn chứng kiến nỗ lực phục hồi và ổn định
nền kinh tế, bao gồm các chương trình tái cấu trúc kinh tế.
Hậu quả của sự tăng trưởng kinh tế nhanh của thời kỳ trước đó cùng với chính sách
tiền tệ và tài khóa nới lỏng trong 2009 - 2010 khiến nền kinh tế Việt Nam phải gánh chịu
nước gặp nhiều khó khăn do thời tiết, môi trường biển diễn biến phức tạp thì việc đạt
được mức tăng trưởng như trên là cũng là một thành công, khẳng định tính đúng đắn, kịp
thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt
các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện.
Bảng 2.1.1.3. Tốc độ tăng trưởng kinh tế 2010 – 2016 (so sánh với năm trước, %)
Trung
bình
2010
2011
2012 2013 2014 2015 2016
6,42
6,24
5,25
5,42
5,98
6,68
6,21
6,03
9,64
7,57
7,27
Dịch vụ
7,19
7,47
6,71
6,42
6,16
6,33
6,98
6,75
Tổng
Nguồn: Niên giám thống kê, TCTK.
• Đánh giá chung
Trải qua ba giai đoạn phát triển, Việt Nam đã thể hiện nỗ lực quyết tâm trong cuộc
Tuy nhiên chỉ số này chỉ phản ánh chính xác tương đối. Các đo lường khác như thâm hụt
trên tổng thu ngân sách hoặc thâm hụt chia GNP sẽ có ý nghĩa hơn. Đặc biệt với trường
hợp Việt Nam khi gần một nửa GDP hiện do khối doanh nghiệp nước ngoài làm ra trong
khi nguồn thu từ khối này không chiếm tỷ lệ lớn (do vấn đề chuyển giá, ưu đãi đầu tư,…).
Đồng thời phải cân đối với số dư nợ công và vay nợ nước ngoài
Với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã và đang theo đuổi những
chính sách thâm hụt ngân sách có định hướng. Phân tích về thực trạng thâm hụt ngân sách
Việt Nam trong thời gian qua cũng đã chỉ ra một số vấn đề cần lưu ý dưới đây.
Mặc dù thu NSNN liên tục tăng, nhưng chi luôn vượt thu, điều này dẫn tới tình trạng
thâm hụt ngân sách triền miên và có mức độ ngày càng gia tăng. Thâm hụt ngân sách (theo
cách tính của Việt Nam) đã tăng từ mức trung bình là 4,9% GDP giai đoạn 2001 - 2005 lên
5,53% GDP giai đoạn 2006 - 2010. Giai đoạn 2011 - 2015 tuy có giảm so với giai đoạn
trước, song vẫn ở mức cao (trung bình 4,85% GDP). Việc kéo dài tình trạng này sẽ làm
giảm niềm tin vào chính sách và tiềm ẩn nhiều rủi ro kinh tế vĩ mô.
Thâm hụt ngân sách liên tục đã kéo theo sự gia tăng của nợ công. Tuy nhiên, kể từ
năm 2010, để hạn chế gia tăng của nợ công, vấn đề giảm thâm hụt ngân sách đã bắt đầu
được quan tâm xử lý. Đây là năm đầu tiên trong nhiều năm thâm hụt thực tế ở mức 5,5%
14
GDP, thấp hơn so với mức 6,2% GDP Quốc hội cho phép. Từ năm 2011, nguyên tắc sử
dụng số tăng thu ngân sách hàng năm để xử lý thâm hụt đã được đưa vào nghị quyết của
Quốc hội. Mức thâm hụt ngân sách năm 2011 là 4,4%, thấp hơn so với mức 5,3% GDP
Quốc hội thông qua. Đây có thể coi là thành công bước đầu trong việc giảm dần thâm hụt
ngân sách hiện nay.
Nhìn chung, giai đoạn này chi ngân sách có xu hướng tăng cao và luôn vượt thu ngân
sách. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP từ năm 2003 đến nay đang có xu thế đi lên.
Nguyên nhân một phần là do chính sách tăng chi ngân sách để thực hiện các gói kích cầu
nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2009 - 2010. Kết quả là bội chi NSNN
năm 2009 đã tăng tới mức cao nhất là 6,9% GDP. Một nguyên nhân khác là do yêu cầu
2012
1.038.451
1.170.924
173.815
5,36%
2013
1.084.064
1.277.710
236.769
6,6%
2014
782.700
1.006.700
224.000
5,3%
các khoản chi ứng trước, nợ tạm ứng, thiếu hụt nguồn hoàn thuế đã làm cho kết quả giảm
bội chi không có nhiều ý nghĩa về tài khoá.
Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2012 theo báo cáo quyết toán là 173.815 tỷ
đồng (5,36% GDP). Theo đó, tổng thu NSNN năm 2012 là 1.038.451 tỷ đồng, tăng 1,9% so
với dự toán, Tổng chi NSNN năm 2012 là 1.170.924 tỷ đồng, tăng 8,3% so với dự toán. Chi
thường xuyên vẫn còn lãng phí, chi sai chế độ quy định, không đúng mục đích đang có dấu
hiệu gia tăng tại các địa phương. Nguyên nhân do sự không ổn định của nền kinh tế thế
giới, những bất ổn về chính trị xung đột khu vực, tranh chấp lãnh thổ gây nhiều khó khăn
cho sự phát triển. Các chính sách và biện pháp bảo hộ mậu dịch hàng rào thuế quan và phi
thuế quan gia tăng. Ở trong nước, bên cạnh các giải pháp, chính sách về kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô đã bước đầu phát huy hiệu quả. Bội chi NSNN giảm dần, xuất khẩu
tăng nhanh cũng góp phần làm giảm nhập siêu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế và
tăng dự trữ ngoại hối, tuy nhiên, kinh tế vĩ mô ở nước ta chưa thực sự ổn định, lạm phát và
lãi suất đang còn ở mức cao, hoạt động đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa vẫn gặp nhiều khó khăn...
Mức bội chi ngân sách năm 2013 là 236.769 tỷ đồng, bằng 6,6% tổng sản phẩm trong
nước (GDP). Tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 1.084.064 tỷ đồng, bao gồm cả số
thu chuyển nguồn từ năm 2012 sang năm 2013, thu kết dư ngân sách địa phương năm 2012,
thu huy động đầu tư của ngân sách địa phương và thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định
của Luật ngân sách nhà nước. Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 1.277.710 tỷ đồng,
bao gồm cả số chi chuyển nguồn từ năm 2013 sang năm 2014. Mức bội chi rất lớn. Nguyên
nhân là do thế giới có sự suy giảm nguồn vốn FDI, suy thoái kinh tế toàn cầu vẫn diễn ra.
Ở trong nước, bên cạnh việc cơ bản đã kiềm chế được lạm phát, chính sách hỗ trợ sản xuất
kinh doanh đã bắt đầu phát huy tác dụng, lãi suất hạ nhiệt thì chính sự thiếu ổn định về cán
cân vĩ mô, sức cầu nền kinh tế còn yếu đã gây ra tình trạng bội chi NSNN. Thêm vào đó là
tình trạng tồn kho, đặc biệt là tồn kho bất động sản và vật liệu xây dựng lớn, dự toán xây
dựng cao so với khả năng thực thiện đã gây ra tình trạng bội chi vỡ kế hoạch vào năm
2013. Ngoài ra, năm 2013 chính phủ thực hiện các chính sách miễn giảm thuế để tháo gỡ
khó khăn cho các doanh nghiệp nên cũng góp phần làm giảm số thu NSNN.
Năm 2014 dự toán bội chi ngân sách do Bộ Tài chính đưa ra là 224.000 tỷ đồng. Tổng
chi trả nợ gốc và Thâm hụt ngân sách bao gồm chi trả nợ gốc. Việt Nam hiện đang có
những cách hạch toán riêng không theo thông lệ quốc tế.
Theo thông lệ quốc tế, những khoản vay phát sinh khi được xem là nghĩa vụ nợ của
Chính phủ thì phải được tính vào cân đối ngân sách. Theo đó, thâm hụt NSNN được tính
cả khoản chi từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ (TPCP) và các khoản vay về cho vay lại,
không bao gồm chi trả nợ gốc (có tính chi trả lãi). Tuy nhiên, nhiều khoản chi ngân sách từ
nguồn TPCP cho các dự án giáo dục, thủy lợi, y tế … và khoản vay về cho vay lại được để
ở ngoại bảng và không được tính đầy đủ vào trong thâm hụt ngân sách như thông lệ quốc
tế. Ngoài ra, trong việc xác định các khoản thu, thì một số khoản thu vẫn để ngoài cân đối
ngân sách như thu từ nguồn học phí, viện phí. Đồng thời, khi cân đối NSNN thì có nhiều
khoản thu không bền vững như thu từ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước và chuyển quyền sử
dụng đất; thu từ khai thác dầu thô và các tài nguyên khác. Các khoản thu này đang có xu
hướng ngày càng giảm dần về quy mô tuyệt đối cũng như tỷ trọng trong tổng thu và viện
trợ do nguồn tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn. Việc tính các khoản thu không bền vững
này vào trong cân đối NSNN sẽ có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của tình trạng thâm
hụt từ những con số báo cáo. Theo cách tính và công bố của Bộ Tài chính thì tỷ lệ thâm hụt
17
ngân sách theo cách tính Việt Nam giai đoạn 2005 - 2008 cao hơn so với số liệu tính toán
thực tế theo đúng thông lệ quốc tế (bao gồm TPCP, các khoản vay về cho vay lại, không
gồm chi trả nợ gốc). Tuy nhiên từ năm 2009 đến năm 2011, số liệu thâm hụt ngân sách
theo cách tính của Việt Nam được công bố lại thấp hơn so với cách tính theo thông lệ quốc
tế. Nguyên nhân là do sự tăng mạnh của TPCP và các khoản vay về cho vay lại so với giai
đoạn 2005 - 2008. Có thể thấy, sự thiếu nhất quán trong cách hạch toán tài khóa khiến cho
những con số thống kê không phản ánh chính xác về thực trạng của Việt Nam, từ đó gây
nhiễu loạn thông tin và khiến việc so sánh với quốc tế, đánh giá và điều hành chính sách
gặp khó khăn.
2.3. Quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh tế
Nhìn chung, trong giai đoạn 2001 – 2016, thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ở mức
Tuy nhiên, tốc độ phát triển không phụ thuộc hoàn toàn vào việc tăng hay giảm chi
tiêu của Chính phủ (thâm hụt ngân sách) mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác. Như trong
giai đoạn 2001 – 2007, thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức ổn định khoảng 5% GDP, tuy
nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn tương ứng vẫn ở mức cao
và có xu hướng tăng qua từng năm. Các yếu tố từ ổn định kinh tế vĩ mô, mức cung tiền, cải
cách thủ tục hành chính, chống tham nhũng, cải cách doanh nghiệp nhà nước, hỗ trợ phát
triển kinh tế tư nhân… đều có tác động nhất định tới tăng trưởng kinh tế. Mức tăng trưởng
kinh tế cao rõ ràng phải là sự tổng hợp của nhiều yếu tố, mặc dù chi tiêu của Chính phủ
cũng đóng góp một phần quan trọng.
19
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP
3.1. KẾT LUẬN
Mục tiêu của việc nghiên cứu là để chúng ta thấy được thực trạng của thâm hụt ngân
sách,vấn đề nợ công ở nước ta và mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách nhà nước với tăng
trưởng kinh tế.
Qua phân tích ở trên, ta thấy có rất nhiều nguyên nhân tác động đến thâm hụt ngân
sách, cũng như tác động đến tốc độ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, có một mối quan hệ khá
rõ ràng giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế. Theo đó, trong giai đoạn kinh tế
suy giảm (tức tốc độ tăng trưởng thấp) thì thâm hụt ngân sách thường tăng và ngược lại
nếu kinh tế tăng trưởng tốt thì thâm hụt ngân sách cũng có khả năng giảm do nguồn thu
tăng.
Mặc dù vậy, thâm hụt ngân sách ở Việt Nam luôn ở mức cao do chính sách thúc đẩy
kinh tế của Chính phủ. Tình trạng này kéo dài làm cho tình trạng ngân sách của nhà nước
gặp khó khăn nghiêm trọng. Thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam còn bắt nguồn từ
nhiều nguyên nhân khác như: thất thoát đầu tư công nghiêm trọng, bộ máy cồng kềnh nên
chi thường xuyên cho bộ máy rất cao, tình trạng tham nhũng và thất thoát ngân sách là
nghiêm trọng…
Do đó, để kinh tế phát triển lành mạnh, việc kiểm soát thâm hụt ngân sách là rất quan
nước của chúng ta còn quá cồng kềnh gây nên gánh nặng ngân sách cho nhà nước, phải
thực hiện tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy nhà nước.
Thứ ba, cần phải có chính sách thuế hợp lý, việc tăng thuế để bù đắp ngân sách
thường không được sự đồng tình ủng hộ của người dân, doanh nghiệp.Việc tăng thuế sẽ
không khuyến khích doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, việc sản xuất kinh doanh chỉ bù lỗ
hoặc lãi ít; và không khuyến khích tiêu dùng cá nhân hộ gia đình; làm giảm tổng cầu và
tăng trưởng kinh tế. Việc tăng thuế chỉ là giải pháp mang tính cấp bách tạm thời, về lâu dài
sẽ gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế, kích cầu đầu tư. Gánh nặng thuế cao sẽ làm
cho hệ thống thuế hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến tình trạng trốn thuế, phân bổ nguồn lực
bị bóp méo.
Thứ tư, thực hiện nghiêm túc Luật và chính sách chống tham nhũng, lợi ích nhóm,
tham ô, tham nhũng chính là một nguyên nhân gây nên việc đầu tư cho các công trình đầu
tư công kém hiệu quả, thậm chí nhiều công trình ngàn tỷ đắp chiếu hoặc không cần thiết
21
phải xây dựng, để dành xây dựng những công trình khác sẽ hiệu quả hơn; gây nên sự lãng
phí,tốn kém cho ngân sách nhà nước. Chính phủ cần phải xem xét và làm triệt để vấn đề
này.
3.3. GIẢI PHÁP DUY TRÌ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ngoài nhóm giải pháp trực tiếp kiểm soát chi tiêu, hạn chế thâm hụt ngân sách như
trên, việc đẩy mạnh và duy trì tăng trưởng kinh tế cũng giúp Chính phủ tăng nguồn thu,
gián tiếp góp phần giảm tình trạng thâm hụt ngân sách, cụ thể như sau:
1) Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục theo đuổi mục tiêu ổn định kinh tế
vĩ mô, kềm chế lạm phát làm tiền đề tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Qua phân tích
mối quan hệ giữa kinh tế và lạm phát ta thấy khi lạm phát tăng cao làm ảnh hưởng tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế ( giai đoạn trước năm 1992 và giai đoạn từ năm 2007 đến nay).
Trong khi đó, nền kinh tế duy trì tỷ lệ lạm phát thấp giống như “thứ dầu bôi trơn” kích cầu
tăng trưởng kinh tế. Tránh tăng trưởng nóng, bất chấp tất cả để tăng trưởng, tăng trưởng
/>%C3%A1ch
23