Phân tích một số yếu tố của lạm phát ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế việt nam giai đạon 1986 2012 và tình hình kinh tế việt nam 2013 - Pdf 41

Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
――

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ CỦA
LẠM PHÁT ẢNH HƯỞNG TỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1986 – 2012 VÀ TÌNH HÌNH
KINH TẾ VIỆT NAM 2013
GVHD: Ths. LÊ TRUNG CANG
SVTH: TRẦN HOÀNG ĐỨC
LỚP:
Kinh tế học – K35

TP.HCM – 2013
SVTH: Trần Hoàng Đức

1


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang


góp phần lớn ảnh hưởng đến sự tồn vong của việc tăng trưởng của nền kinh tế Việt
Nam trong những năm vừa qua . Vì vậy chúng ta nên xét một cách độc lập và tập trung
hơn về hai vấn đề này . Sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức
phức tạp và không phải lúc nào cũng tuân theo những qui tắc kinh tế. Do vậy vấn đề
lạm phát và ảnh hưởng của các yếu tố l ạm phát tới tăng trưởng kinh tế là một đề tài rất

SVTH: Trần Hoàng Đức

2


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

hấp dẫn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển
kinh tế hiện nay thì vấn đề này càng trở nên rất cần thiết.
Đối với một nhà kinh tế học nào cũng vậy, chúng tabiết rằng lạm phát và tăng
trưởng luôn là bạn động hành của nền kinh tế t hị trường. Trong thời đại hiện nay , lạm
phát vẫn đang là vần đề trung tâm và nhạy cảm của đời sống kinh tế xã hội ở các cấp
quốc gia và thế giới . Mối liên h ệ đó chính là kết quả bởi các chính sách vĩ mô củ a nhà
nước để tạo nên sự liên kết qua lại lẫn nhau , nhầm mục đích từ đó cân bằng các ảnh
hưởng tương tác đốivới bối cảnh chung của nền kinh tế thị trường khu vực và thế giới.
Lạm phát và tăng trưởng đã có những tác động trực tiếp và gián tiếp đến toàn
bộ các lĩnh vực hoạt động của chính phủ, các doanh nghiệp và cá nhân, các mối quan hệ
kinh tế đối nội và đối ngoại của quốc gia, tác động đến tình hình xã hội trong khu vực
và trên thế giới với mức độ tuỳ thuộc vào vị thế kinh tế chính trị mà nước đó đảm nhận
trong khu vực và thế giới . Vì vậy nghiên cứu các yếu tố của lạm phát ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế nhầm tìm ra nguyên nhân , hệ quả và tìm cách khắc phục ảnh hưởng
của yếu tố lạm phát không chỉ riêng Việt Nam mà còn là mục tiêu của hầu hết các quốc

Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát và mỗi quan điểm đều có
sự chắc chắn về luận điểm và những lý luận của mình.
Theo L.V.Chandeler, D.C.Cliner với trường phái lạm phát giá cả thì khẳng
định lạm phát là sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn, chu kỳ hay đột xuất.
Còn theo G.G.Mtrukhin lại cho rằng: Trong đời sống tổng mức giá cả tăng
trước hết thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá, và rút cuộc
dẫn tới việc tăng giá cả nói chung. Với ý nghĩa như vậy có thể xem sự mất giá của
đồng tiền là lạm phát. Ông cũng chỉ rõ: lạm phátchính là hình thức tràn trề tư bản một
cách tiềm tàng (tự phát hoặc có dụng ý) là sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân thông qua giá cả giữa các khu vực của quá trình tái sản xuất xã hội, các
ngành kinh tế và các giai cấp, các nhóm dân cư xã hội.
Ở mức bao quát hơn P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn “Kinh tế
học” đã được dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1989 cho rằng lạm phát xảy ra khi mức
chung của giá cả chi phí tăng lên.
Với luận thuyết “Lạm phát lưu thông tiền tệ” J.Bondin và M.Friendman lại
cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả tăng lên.
M.Friedman nói “lạm phát ở mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền tệ.
Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu thông tăng
lên nhanh hơn so với sản xuất”.
Như vậy, tất cả những luận thuyết những quan điểm về lạm phát đã nêu trên
đều đưa ra những biểu hiện ở một mặt nào đó của lạm phát.Và theo quan điểm của em
về vấn đề này sau khi nghiên cứu một số luận thuyết ở trên; thì em nhận thấy ở một
khía cạnh nào đó của lạm phát là khi mà lượng tiền đi vào lưu thông vượt mức cho
phép thì nó dẫn đến lạm phát, đồng tiền bị mất giá so với tất cả các loại hàng hoá khác.
Lạm phátthường được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả
của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế. Giá cả của các loại
hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình. Chỉ số
giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá trung bình của
nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ
phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời

nhất kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 xảy ra. Quan điểm này được xem
là quan điểm tĩnh về lạm phát, từ quan điểm này mà người ta đã so sánh về hai mặt sau:



Khối hàng hoá và dịch vụ có thể bán buôn trên trị trường
Khối tiền tệ mà người dân có thể sử dụng để mua hàng.

Nếu hai mặt này có giá trị ngang nhau tính theo mức giá thì không có xảy ra
lạm phát . Vì khi có sự chênh lệch giữa hai mặt này nghĩa là có áp lực lạm phát xuất
hiện, nếu sự chênh lệch càng cao thì ảnh hưởng của lạm phát càng sâu sắc .Tuy quan
điểm này giúp hiểu rõ về hiện tượng lạm phá t nhưng không đưa ra nguyên nhân cụ thể
gây ra lạm phát . Chính vì vậy mà sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã xuất
hiện một quan điểm mới hơn chỉ ra các rõ hơn về lạm phát.
2.1.2.3.

Quan điểm thứ ba

Xem xét về việc tăng cung tiề n vào nền kinh tế thị trường cần phân biệt biệt
hai giai đoạn:

Giai đoạn một: khi đó nền kinh tế chưa đạt mức toàn dụng . Ở giai đoạn này sự
cung tiền không dẫn đến lạm phát , nhưng tới một thời điểm nào đó xuất hiện sự đ ứng
im trong nền kinh tế. Khi đó chúng ta bước vào giai đoạn hai, giai đoạn cơ bản của nền
kinh tế đã toàn dụng.

Giai đoạn hai : ở giai đoạn này nếu chúng ta tiếp tục cung tiền vào nền kinh tế
thị trường . Thì lúc đấy nạn lạm phát sẽ ra và dấu hiệu là sự gia tăng giá cả các mặt
hàng, giá trị tiền tệ ngày càng mất đi.



𝑃𝑃𝑡𝑡

𝑃𝑃𝑡𝑡𝑡𝑡

− 1)

GPt = 0 thì không có lạm phát
GPt> 1 thì có lạm phát
GPt< 1 thì đang giảm phát

Hoặc ta có thể tính theo chỉ số giảm phát GDP, còn gọi là chỉ số điều chỉnh
GDP thường được ký hiệu là DGDP (GDP Deflator) là chỉ số tính theo phần trăm phản
ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước. Chỉ số
điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá
bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở như sau:
𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝑛𝑛
𝐷𝐷𝐷𝐷𝐷𝐷𝐷𝐷 = 100% ×
𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝐺𝑟𝑟
Về phương pháp tính ra tỷ lệ lạm phát, hai phương pháp thường được sử dụng là:


Căn cứ thời gian để đo ựs thay đổi giá cả của giỏ hàng hóa theo thời gian

Căn cứ thời gian và cơ cấu giỏ hàng hóa. Phương pháp này ít phổ biến hơn vì
còn phải tính toán sự thay đổi cơ cấu, nội dung giỏ hàng hóa.
2.1.4. Các chỉ số để đánh giá lạm phát
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất về ch ỉ số lạm phát, vì giá trị
của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số,
cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Các phép đo

lệ tăng của CPI. Đôi khi các hợp đồng lao động có tính đến các điều chỉnh giá cả sinh
hoạt như là là kho ản chi trả định danh sẽ tự động tăng lên theo sự tăng của CPI, thông
thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế.
2.1.4.3.

Chỉ số giá sản xuất (PPI)

Dùng để đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổ sung
qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể
sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì
người tiêu dùng đã thanh toán. Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hình giữa sự tăng
trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI. Rất nhiều người tin rằng điều
này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạm phát được xem như là
CPI ngày mai dựa trên lạm phát PPI ngày hôm nay, mặc dù thành phần của các chỉ số là
khác nhau. Một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là các dịch vụ.
2.1.4.4.

Chỉ số giá bán buôn (Wholesale Price Index)

Nhằm đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn một cách có lựa
chọn. Chỉ số này rất giống với PPI.
2.1.4.5.

Chỉ số giá hàng hóa

Dùng để đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn.
Trong trường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng.
2.1.4.6.

Chỉ số giảm phát GDP


Lạm phát cao (lạm phát phi mã)

Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số
một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát. Nhìn
chung thì lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh
tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ
giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày. Mọi người có xu hướng tích
trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để
làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của cải.
2.1.5.3.

Siêu lạm phát

Siêu lạm phát là tình tr ạng lạm phát cao, có tác động phá hoại nền kinh tế
nghiêm trọng. Một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có
định nghĩa chính xác về siêu lạm phát được chấp nhận. Có một số điều kiện cơ bản gây
ra siêu lạm phát. Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng
tiền pháp định. Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát có xu hướng xuất hiện trong thời gian
sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ.
2.1.6. Các phản ứng tích cực
Nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, James Tobin nhận định rằng lạm phát vừa
phải sẽ có lợi cho nền kinh tế. Ông dùng từ “dầu bôi trơn” để miêu tả tác động tích cực
của lạm phát. Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu

SVTH: Trần Hoàng Đức

8



doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá
cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng
giá. Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã
dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô.

Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn
của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát. Ví dụ:
trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh
nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa
thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế.

Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm thước đo
trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy
các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình.


SVTH: Trần Hoàng Đức

9


Khoá luận tốt nghiệp
2.1.7.2.

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

Đối với lạm phát không dự kiến được

Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải
giữa các cá nhân một cách độc đoán. Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập




Lạm phát theo tỷ giá hối đoái

Tuy vậy nhưng chúng ta cần phân tích rõ hơn một trongnhững cơ sở nguồn
gốc gây nên lạm phát theo các nhân tốdưới đây:

2.1.8.1. Lạm phát do cầu kéo
Nhà kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn
dụng lao động(mức sản lượng tiềm năng ) thì sẽ sinh ra lạm phát. Trong khi đó, chủ
nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, con người có nhu cầu về
tiền mặt cao hơn dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng. Do đó xảy ra lạm phát.

SVTH: Trần Hoàng Đức

10


Khoá luận tốt nghiệp
2.1.8.2.

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

Lạm phát do cầu thay đổi

Được xem như là lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về
một mặt hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả
có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà
lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại

Lạm phát do xuất khẩu

Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được
huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến
tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.

SVTH: Trần Hoàng Đức

11


Khoá luận tốt nghiệp
2.1.8.6.

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

Lạm phát do nhập khẩu

Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu. Khi giá nhập
khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức
giá chung bị giá nhập khẩu lấn áp.
2.1.8.7.

Lạm phát tiền tệ

Do cung tiền tăng khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên
nhân gây ra lạm phát. Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượng tiền trong nền kinh tế
quá nhiều vượt quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị
của nền kinh tế́. Có thể do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền
kinh tế bằng các nghiệp vụ thị trường mở hay chính sách nới lỏng tiền tệ. Làm cho áp


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

Y : GNP, GDP
Yt : GDP, GNP tại thời điểm t của kỳ thời gian phân tích
Yo: GDP, GNP tại thời điểm gốc của kỳ thời gian phân tích.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô
kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị phần trăm (%).
Biểu diễn bằngcông thức:
y = dY/Y × 100(%), trong đó Y là quy mô của nền kinh tế và y là tốc độ tăng trưởng.
Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc
độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng
GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế. Thông
thường tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
2.2.3. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế trước Keynes
Để giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế học dùng các
mô hình kinh tế như:
 Mô hình David Ricardo (1772-1823) với luận điểm cơ bản là đất đai
sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Nhưng đất sản xuất lại có
giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi
nhuận của chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực
phẩm cao, giá bán hàng hóa nong phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận
của nhà tư bản công nghiệp giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư
dẫn đến tăng trưởng. Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi
nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế. Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình này
không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng.

trừ nhà kinh tế học Schumpeter.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của kinh tế học vĩ mô tiêu biểu của K eynes
là mô hình Harrod-Domar. Mô hình này dựa trên hai giả thiết căn bản là: giá cả cứng
nhắc và nền kinh tế không nhất thiết ở tình trạng toàn dụng lao động. Nguồn gốc tăng
trưởng kinh tế là do lượng vốn đưa vào nền s ản xuất tăng lên. Từ đó, họ suy luận ra
được rằng một khi nền kinh tế đang ở trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang
trạng thái tăng trưởng không cân bằng thì sẽ càng ngày càng không cân bằng.
Trong khi đó lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển xây dựng mô hình của mình
dựa trên hai giả thiết căn bản là: giá cả linh hoạt và nền kinh tế ở trạng thái toàn dụng
lao động. Mô hình tăng trưởng kinh tế của họ cho thấy rằng : khi nền kinh tế đang ở
trạng thái tăng trưởng cân bằng mà chuyển sang trạng thái tăng trưởng không cân bằng
thì đó chỉ là nhất thời và nó sẽ mau chóng trở về trạng thái cân bằng.
2.2.4. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes được biết đến trong cuốn sách Lý
thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ do nhà xuất bản Đại học Glassgow ấn
hành năm 1936. Tác phẩm này là nền tảng cho sự phát triển của cả một ngành kinh tế
học và là công trình được nhắc đến và gây tranh cãi nhiều nhất đối với kinh tế học thế
kỷ XX. Công trình này có tính chất phê phán những quan điểm kinh tế trước đó, đặc
biệt là quan điểm cho rằng “bản thân cung sẽ tạo ra cầu của chính nó”. Trong cuốn sách
này, Keynes đã đưa ra những nhân tố xác định mức sản lượng và việc làm trong một
quốc gia. Tuy rằng cuốn sách này của Keynes đề cập không nhiều về chính sách kinh tế,

SVTH: Trần Hoàng Đức

14


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

kinh tế trì trệ, suy giảm tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tư của các doanh nghiệp, ông
cho rằng đầu tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm và theo đó là tăng
trưởng kinh tế. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăngnhu cầu bổ sung
công nhân và tư liệu sản xuất. Chính những điều đó đã làm tăng cầu tiêu dùng, tăng
giá hàng hoá, tăng việc làm cho công nhân. Và tất cả điều đó làm cho thu nhập tăng
lên, tiếp nối theo việc tăng thu nhập đó lại là tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới. Đây là
quá trình số nhân đầu tư: tăng đầu tư làm tăng thu nhập; tăng thu nhập làm tăng đầu tư
mới; tăng đầu tư mới làm tăng thu nhập mới và làm nền kinh tế tăng trưởng.

SVTH: Trần Hoàng Đức

15


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

Theo Keynes cùng với việc tăng lên của vốn đầu tư, thì hiệu quả giới hạn của
tư bản tương quan giữa thu hoạch tương lai của đầu tư và phí tổn đầu tư sẽ giảm sút.
Có hai nguyên nhân làm cho hiệu quả giới hạn của tư bản giảm sút. Thứ nhất, đầu tư
tăng sẽ làm tăng thêm khối lượng hàng hoá cung ra thị trường. Điều đó làm giảm giá
hàng hoá và kéo theo làm giảm thu nhập tương lai. Thứ hai, tăng cung hàng hoá sẽ
làm giá cung của tài sản tư bản tăng lên hay tăng phí tổn thay thế. Từ đó, làm cho thu
nhập tương lai giảm xuống.
Hơn nữa giữa đầu tư và lãi suất lại có quan hệ với nhau. Sự khuyến khích
đầu tư tuỳ thuộc một phần vào lãi suất. Người ta vẫn sẽ tiếp tục đầu tưcho đến khi
chừng nào hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất thị trường.
Như vậy đầu tư mới tăng lên dẫn đến việc làm gia tăng sẽ làm gia tăng thu

16


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

tích cực đầu tư của các nhà kinh doanh. Theo ông Nhà nước có thể đưa thêm tiền vào
lưu thông để giảm lãi suất cho vay, khuyến khích nhà kinh doanh mở rộng quy mô đầu
tư. Đồng thời để tăng hiệu quả tư bảnnên chủ trương thực hiện chính sá ch “lạm phát
có kiểm soát”,nhằm làm tăng giá cả hàng hoá nhờ đó các nhà kinh doanh thu được lợi
nhuận nhiều hơn (trong điều kiện chi phí sản xuất chưa thay đổi). Có thể nói đây là
một trong các động lực trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh, góp phần vào tăng
trưởng kinh tế.
Về các hình thức tạo việc làm ông cho rằng để nâng cao tổng cầu và việc làm
cần mở rộng nhiều hình thức đầu tư. Bởi lẽ đầu tư vào lĩnh vực nào cũng tốt, khi có
đầu tư thì sẽ có nhiều việc làm và mang lại thu nhập. Như vậy, thông qua đầu tư có thể
tránh được khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp.
Về khuyến khích tiêu dùng để mở rộng tiêu dùng Keynes khuyến khích tiêu
dùng cá nhân đối với các nhà tư bản, tầng lớp giàu có cũng như đối với người nghèo.
Trên cơ sở lý thuyết của J .M.Keynes các nhà kinh tế học tiếp tục xây dựng
thành trường phái Keynes hay còn gọi là những người Keynes mới . Trường phái này
bao gồm ba trào lưu . Thứ nhất , những người theo trường phái Keynes ủng hộ các
nhóm độc quyền xâm lượ c, chạy đua vũ trang , quân phiệt hoá nền kinh tế . Thứ hai ,
những người theo trường phái Keynes tự do bảo vệ lợi ích độc quyền và không ủng hộ
chạy đua vũ trang . Thứ ba, những người theo trường phái Keynes lại biểu hiện lợi í ch
của giai cấp tư sản vừa và nhỏ, chống lại độc quyền.
Trường phái sau Keynes nghiên cứu rất nhiều các phạm trù khác nhau như:
đi sâu nghiên cứu về tiêu dùng, phân tích cácgiai đoạn lợi ích, nguyên nhân chu kỳ
kinh doanh, chính sách tài chính. Nhưng vị trí trung tâm trong lý thuyết của trường

2.2.5. Các nhân tố tăng trưởng kinh tế
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các
nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của phát
triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế là: nguồn nhân
lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia
và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến kết quả tương ứng như:
 Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến
thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế.
Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc
vay mượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự. Các yếu tố
như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phát huy được
tối đa hiệu quả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao
động tốt.
 Nguồn tài nguyên thiên nhiên: có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế
là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển. Những tài nguyên quan trọng nhất là đất
đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước.
 Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà
người lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị nhiều hay ít và tạo ra sản lượng
cao hay thấp. Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho
tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có
tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững.
 Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng
không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư
bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ
sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao hơn,
nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn.
2.2.6. Hạn chế của các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế

SVTH: Trần Hoàng Đức


lạm không nhất thiết tác động tiêu cực lên tăng trưởng, thậm chí có thể tác động dương
như lý thuyết mà Kyenes đã đề cập.
Nhà kinh tế học Fisher (1993) là người đầu tiên nhiên cứu vấn đề này với kết
luận, khi lạm phát tăng ở mức độ thấp mối quan hệ này có thể không tồn tại hoặc thậm
chí mang tính đồng biến; và khi lạm phát ở mức cao thì mối quan hệ này trở nên nghịch
biến. Một số các nhà nghiên cứu khác sau này như Sarel (1996), Gosh và Phillips(1998),
Shan và Senhadji(2001) và một số các nhà nghiên cứu khác đã cố gằng tìm ra đặc điểm
đặc biệt về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Bằng các nghiên cứu khác
nhau họ đã tìm ra một ngưỡng lạm phát, mà tại ngưỡng đó nếu lạm phát vượt ngưỡng sẽ
có tắc động tiêu cực (tác động ngược chiều) đến tăng trưởng. Theo Sarel thì ngưỡng lạm
phát là 8%,Shan và Senhadji ngưỡng lạm phát cho các nước đang phát triển là 11 – 12%,
các nước công nghiệp khoảng 1 – 3%. Còn theo nghiên cứu của tác giả Khan(2005) đã
tập trung nghiên cứu xác định mức lạm phát tối ưu.Kết quả Khan đã tìm ra mức lạm phát
tối ưu đối với các nước vùng Trung Đông và Trung Á là khoảng 3,2%. Gần đây là
nghiên cứu của nhà kinh tế học Paul Kruman, ông đưa ra những quan niệm mới dựa trên

SVTH: Trần Hoàng Đức

19


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

cơ sở lý luận của Milton Friedman . Ông đề nghị rằng lạm phát nên ở mức 3 đến 4%
nhằm kích thích sự phát triển của nền kinh tế thị trường – thương mại.
Các học thuyết kinh tế vĩ mô đã khẳng định, nếu sản lượng thực tế vượt sản
lượng tiềm năng sẽ làm lạm phát gia tăng. Nhưng thực tế vào khoảng 2005 – 2006 lạm
phát thế giới gia tăng còn có nhiều nguyên nhân khác , ngoài những nguyên nhân như


20


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

Khi lạm phát tăng cao gây ra hiện tượng siêu lạm phát làm cho đồng nội tệ
mất giá rất nhanh, theo duy lý khi đó người dân sẽ chủ trương bán nội tệ để mua ngoại
tệ nhiều hơn . Tệ nạn tham nhũng cũng tăng cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình
trạng đầu cơ trái phép tăng nhanh, trốn thuế và thuế không thu được gây ra tình trạng
thất thoát nguồn thu của nhà nước.
2.4.
Các nghiên cứu thực nghiệm
2.4.1. Các nghiên cứu thế giới
Lạm phát đã được nghiên cứu rất sâu trong các nghiên cứu lý thuyết cũng
như thực nghiệm cho từng nước cụ thể. Chúng ta không thể bắt đầu thảo luận về các
nhân tố quyết định lạm phát mà không nói đến các ý tưởng và các mô hình kinh điển
được xây dựng bởi các nhà kinh tế nổi tiếng. Lý thuyết về lạm phát hiện nay chủ yếu
dựa trên mô hình đường Phillips do Phillips (1958) và Lipsey (1950) phát triển dựa
trên giả định rẳng giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát có một mối quan hệ ổn định
và tỷ lệ nghịch. Từ những năm 1950 đến nay, mô hình đường Phillips đã được bổ sung
sửa đổi liên tục bởi hàng loạt các nhà kinh tế nổi tiếng như Friedman (1960), Phelps
(1967), Sargent (1971), Lucas (1972), Fischer (1977), Taylor (1979) Calvos (1983),
Gali và Gertler (1999), Woodford (2003) và Christiano, Eichenbaum và Evans (2005).
Trái ngược với quan điểm của trường phái Keynes rằng nền kinh tế thực rất
không ổn định và việc quản lý cung tiền hầu như không có tác động đến nền kinh tế
thực, trường phái tiền tệ (sáng lập bởi Milton Freidman) cho rằng nền kinh tế thực là khá
ổn định nhưng có thể bị bất ổn do những biến động trong cung tiền và vì vậy chính sách

của nền kinh tế sẽ lan tỏa ra toàn bộ nền kinh tế (Greene, 1989).
Bên cạnh hai cách tiếp cận của các nhà kinh tế học tiền tệ và kinh tế học cơ
cấu.Các nghiên cứu trong quá khứ về lạm phát còn đưa ra một cách tiếp cận thứ ba và có lẽ
đơn giản nhất trong việc nghiên cứu các nhân tố quyết định lạm phát, đó là cách tiếp cận
ngang bằng sức mua. Cách tiếp cận này xuất phát từ “Quy luật một giá” với nội dung là khi
không tính đến chi phí vận chuyển và các chi phí giao dịch khác, mối quan hệ giữa giá thế
giới và giá trong nước sẽ là𝑷𝑷 = 𝑬𝑬𝑷𝑷𝑾𝑾 trong đó E là tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng nội. tệ
Cách tiếp cận này gợi ý rằng lạm phát chịu ảnh hưởng hoặc gián tiếp từ giá
nhập khẩu cao hơn hoặc trực tiếp từ sự gia tăng của cầu trong nước. Phương trình này
ngụ ý rằng tỷ giá đóng vai trò nhất định trong việc quyết định mức giá, và mức chuyển
tỷ giá vào lạm phát cần phải được xem xét. Sự phá giá đồng nội tệ có thể trực tiếp tác
động lên giá trong nước của hàng hóa thương mại, nhưng cũng có thể gián tiếp tác
động vào mức giá chung nếu các quyết định về giá chịu ảnh hưởng của chi phí nhập
khẩu. Điều này đặc biệt đúng đối với những nước dựa vào việc nhập khẩu hàng hóa
trung gian phục vụ sản xuất hoặc có hiện tượng bị đô la hóa cao như Việt Nam.
Một nghiên cứu điển hình gần đây về các nhân tố quyết định lạm phát trong
một nền kinh tế nhỏ và mở thường sử dụng cả ba cách tiếp cận. Ví dụ như Chhibber
(1991), đã xây dựng mô hình lạm phát là trung bình gia quyền của lạm phát của hàng
hóa thương mại; lạm phát của hàng hóa phi thương mại và lạm phát của các hàng hóa
bị kiểm soát và áp dụng nó cho một loạt các nước Châu Phi. Lạm phát hàng hóa
thương mại được mô phỏng theo cách tiếp cận ngang giá sứa mua . Lạm phát hàng hóa
phi thương mại được mô phỏng dựa trên các nhân tố chi phí đẩy và cầu kéo của lạm
phát. Ngoài ra còn phải kể đến hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm khác như Lim và
Papi (1997) về lạm phát Thổ Nhĩ Kỳ, Laryea và Sumaila (2001) về lạm phát ở
Tanzania, Akinboade và các đồng tác giả (2004) về mối quan hệ giữa lạm phát ở Nam
Phi với thị trường tiền tệ và thị trường lao động và thị trường ngoại hối, Lehayda
(2005) về lạm phát ở Ukraine hay Jongwanich và Park (2008) về các nhân tố quyết
định lạm phát ở 9 nước đang phát triển ở Châu Á (trong đó có Việt Nam). Các nghiên
cứu này chỉ ra rằng các nhân tố quyết định lạm phát ở các nước đang phát triển bao
gồm cung tiền, tỷ giá, các nhân tố chi phí đẩy và mang tính cơ cấu như việc định giá

các yếu tố cứng nhắc khác.

Hầu hết các nghiên cứu (ngoại trừ Phạm Thế Anh (2009) với số liệu cập nhật
đến cuối năm 2008) đều lạc hậu về số liệu và do đó không tính đến những lần lạm phát
gia tăng gần đây cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 vừa qua đã dẫn đến
một loạt những thay đổi trong môi trường và chính sách vĩ mô.

Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của tiền tệ là trái ngược nhau có
thể là do các giai đoạn nghiên cứu khác nhau, tần suất của số liệu khác nhau và phương
pháp ước lượng khác nhau.

Mặt khác, các nghiên cứu đều khá đồng nhất về vai trò quan trọng của lạm phát
trong quá khứ đối với lạm phát hiện tại và vai trò rất nhỏ của tỷ giá và giá cả quốc tế.

Chương 3: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
3.1.
Sơ lược tình hình kinh tế sau thời kỳ đổi mới 1986
3.1.1. Quá trình đổi mới
Sau thời kỳ đổi mới năm 1986 bộ máy nhà nước Việt Nam đã nhấn mạnh hơn
đến sự đổi mới toàn diện về mặt kinh tế. Nhưng thực tế v ẫn không khác lắm so với tư

SVTH: Trần Hoàng Đức

23


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang


kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, công cuộc đổi mới của Việt Nam đã đạt được những
thành tựu to lớn, nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao
liên tục trong nhiều năm. Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng hơn vào kinh tế thế giới và
cơ hội tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

SVTH: Trần Hoàng Đức

24


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: Thạc sĩ Lê Trung Cang

Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại.
Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 là văn bản luật đầu tiên góp phần tạo ra
khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Năm 1991 Luật
doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty ra đời. Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã khẳng
định đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường và khu vực đầu tư nước ngoài. Tiếp theo đó là hàng loạt
các đạo luật quan trọng của nền kinh tế thị trường đã được hình thành tại Việt Nam
như:luật đất đai, luật thuế, luật phá sản, luật môi trường, luật lao động và hàng trăm các
văn bản pháp lệnh, nghị định của chính phủ đã được ban hành nhằm cụ thể hóa việc
thực hiện luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với việc xây dựng các bộ luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng
từng bước được hình thành. Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp,
nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế,
thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status