LIỆU PHÁP ÂM NHẠC VÀ ỨNG DỤNG LIỆU PHÁP
TÂM LÝ - ÂM NHẠC TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH
NHÂN TÂM THẦN
LIỆU PHÁP ÂM NHẠC
VÀ ỨNG DỤNG LIỆU PHÁP TÂM LÝ - ÂM NHẠC
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TÂM THẦN
(Sách chuyên khảo)
Tác giả: TS. NGUYỄN VĂN THỌ
LỜI GIỚI THIỆU
Đã từ lâu con người không chỉ coi âm nhạc là một hình thái giải trí, để
nâng đỡ, sẻ chia, để làm phong phú hơn đời sống tinh thần, mà âm nhạc còn
được sử dụng như là một công cụ trị liệu rất hữu ích dùng trong thực hành y
học.
Tiến sĩ Dr. Alfred Tomatis và cộng sự sau nhiều năm nghiên cứu ứng
dụng trị liệu âm nhạc khẳng định có “Hiệu ứng Mozart” (The Mozart Effects) Người được nghe nhạc Mozart trong bối cảnh thích hợp có tác dụng làm
nhanh quá trình phục hồi sức khỏe; nếu mắc bệnh thì mau khỏi. Hiệu ứng âm
nhạc làm giảm sự căng thẳng “Stress”, làm dịu đi rất nhiều nỗi lo âu, sợ hãi,
hoảng loạn, trầm cảm…
Trong những năm gần đây y văn trên thế giới viết nhiều đến rối loạn
PTSD - Rối loạn stress sang chấn, còn gọi là “Hội chứng sau cuộc chiến”,
những người lâm vào rối loạn này lấy lại sự cân bằng cho họ không có trị liệu
nào hiệu quả hơn liệu pháp âm nhạc.
Vì âm nhạc bản thân nó bằng cung độ, giai điệu, nhịp phách và ca từ
đẹp… chứa đựng trong nó một hàm lượng cảm xúc giàu có, uyển chuyển có
thể chuyển tải những thông tin dương tính mà mọi người đều có thể dễ dàng
dung nạp. Âm nhạc thật sự đã trở nên cần thiết cho mọi người, nhất là những
người đang và đã bị tổn thương về tâm lý. Như lời của bài hát “Thank you for
vour music” có đoạn ca viết “Ai có thể sống không có âm nhạc” (Who can live
without it (Music)) được nhóm nhạc ABBA trình diễn và được rất nhiều người
truyện nổi tiếng nhất ở phương Tây. David đã dùng đàn hạc (harp) để chữa
bệnh cho vua Saul như một loại thuốc an dịu thần kinh. Một nhân vật khác,
Orpheus cũng là một huyền thoại đầy hấp dẫn cho các nhà liệu pháp âm
nhạc. Orpheus là một trong những đại thi hào, nhạc sĩ thuở sơ khai, thời Hy
Lạp cổ đại. Ông là người sáng tạo và cải tiến đàn lia (Lyre). Tương truyền
rằng những bài hát của Orpheus có thể làm xiêu lòng vạn vật và khiến cho đất
trời, thần linh phải rơi lệ. Ngay ở Việt Nam, tiếng đàn của Thạch Sanh khiến
cho công chúa đang mắc chứng câm đã nói được trở lại cũng là một huyền
thoại. Sau đây là tóm lược về lịch sử của việc sử dụng âm nhạc trong chữa
bệnh trên thế giới.
Liệu pháp âm nhạc trong các nền văn hóa tiền văn tự
Các xã hội tiền văn tự là xã hội chưa có hệ thống giao tiếp, truyền
thông bằng chữ viết. Những người du mục đã tập hợp lại thành những nhóm
nhỏ để duy trì sự sinh tồn và bổ khuyết cho đời sống của họ như săn bắt, tìm
kiếm thức ăn. Họ chưa có nền nông nghiệp, chưa có cấu trúc đời sống chính
trị, và chưa có nhà ở lâu dài. Những nhóm nhỏ này dần dần hình thành, phát
triển các phong tục tập quán, nghi lễ khác nhau và điều đó đã tạo ra sự khác
nhau giữa các nhóm này với các nhóm khác. Chúng ta có thể tìm kiếm được
một số đầu mối nghiên cứu về âm nhạc đã được sử dụng như thế nào trong
các nền văn hoá nói trên và còn tồn tại đến ngày nay. Những nghiên cứu đã
cho chúng ta hiểu về đáp ứng của loài người với âm nhạc và một số nền tảng
lịch sử về mối quan hệ chặt chẽ giữa âm nhạc và chữa bệnh. Người ở nền
văn hoá tiền văn tự nói chung cho rằng họ bị các quyền lực ma thuật kiểm
soát và bị ma quỷ bao quanh. Để duy trì sức khoẻ, họ cảm thấy bắt buộc phải
tuân theo một hệ thống quy tắc phức tạp nào đó để bảo vệ họ chống lại các
lực lượng thù địch từ thiên nhiên và từ chính những con người đang cùng tồn
tại với họ. Họ đã nhận thức rằng ma thuật là một phần không thể thiếu được
của sức khoẻ và cuộc sống bình yên của họ.
Điều quan trọng là người nhạc sĩ chữa bệnh không bao giờ hành động đơn lẻ.
Các xã hội tiền văn tự nhận thức được hiệu lực của nhóm bao gồm các thành
viên trong gia đình và xã hội trong nghi lễ. Hát đồng thanh chữa bệnh sẽ tạo
ra sự trợ giúp cho tinh thần và cảm xúc để bệnh nhân phục hồi nhanh chóng.
Âm nhạc và chữa bệnh trong nền văn minh sớm
Những người săn bắt và tìm kiếm thức ăn của nền văn hoá tiền văn tự
chiếm ưu thế khoảng 500.000 năm. Đến khoảng 8.000 đến 10.000 năm trước
Công Nguyên, với sự xuất hiện của nông nghiệp đã dẫn đến cuộc sống ổn
định hơn, dân số phát triển lớn hơn và xuất hiện nền văn minh. Nền văn minh
được đặc trưng bởi sự tiến hoá trong giao tiếp chữ viết, sự phát triển thành
phố và những thành tựu kỹ thuật ở các lĩnh vực bao gồm khoa học và y học.
Những đặc trưng đó là phương thức sống cho nhóm người đông đúc hơn, họ
sống trong mối liên minh liên kết lâu dài hơn với hệ thống đặc biệt về tập
quán và cách nhìn về thiên nhiên. Những nền văn minh đầu tiên xuất hiện vào
giữa năm 5.000 và 6.000 trước Công Nguyên là vùng mà ngày nay là Iraq, đã
được thiết lập vững chắc vào năm 3.500 trước Công Nguyên. Âm nhạc đã trở
thành bộ phận quan trọng trong y học lý trí, hợp lý (rational medicine) đồng
thời cũng còn những nghi lễ chữa bệnh ma thuật, tôn giáo.
Sử dụng âm nhạc thời cổ đại: các nghi thức chữa bệnh
Với sự xuất hiện của nền văn minh, các bộ phận cấu thành của nền y
học trước đó là ma thuật, tôn giáo và lý trí bắt đầu phát triển theo khuynh
hướng chia tách. Ở Ai Cập cổ đại, mặc dù các bộ phận cấu thành nêu trên
vẫn cùng tồn tại, nhưng những người chữa bệnh nói chung thường chỉ dựa
trên một loại triết lý điều trị. Những người làm nghề chữa bệnh bằng âm nhạc
ở Ai Cập thường được hưởng đặc ân vì họ có mối quan hệ chặt chẽ với linh
mục và những quan chức nhà nước quan trọng khác. Thầy thuốc linh mục,
thầy tu Ai Cập cho rằng âm nhạc là thuốc chữa bệnh cho linh hồn và luôn sử
dụng hát tụng niệm như một bộ phận thực hành y học.
nhân mắc bệnh được xem là người cấp thấp hơn. Cho đến thời kỳ này, chỉ
với một sự thay đổi nhỏ quan niệm về bệnh tật, lý thuyết này đã ảnh hưởng
đến y học 2000 năm tiếp sau đó, trở thành lý thuyết quan trọng nhất trong thời
trung cổ.
Âm nhạc và chữa bệnh thời trung cổ và thời kỳ phục hưng
Mặc dù những sự huy hoàng và tráng lệ của Hy Lạp cổ đại đã bị mất đi
trong thời trung cổ, ở thời kỳ trung cổ này (khoảng năm 476-1450 sau Công
Nguyên) là đại diện cho sự kết nối quan trọng giữa cổ xưa và ngày nay. Sau
sự sụp đổ của đế quốc La Mã, đạo Cơ Đốc trở thành lực lượng chủ yếu của
văn minh phương Tây. Anh hưởng của đạo Cơ Đốc đã thúc đẩy sự thay đổi
thái độ về bệnh tật. Trái với suy nghĩ trước đó, người bệnh không còn bị coi là
người thấp kém và cũng không phải là đang bị Chúa trừng phạt. Khi đạo Cơ
Đốc phát triển khắp châu Âu, các xã hội bắt đầu chăm sóc và điều trị cho các
thành viên ốm đau của họ. Các bệnh viện được thiết lập để cung cấp sự
chăm sóc nhân đạo cho những người đau ốm về cơ thể. Tuy nhiên những
ngưòi mắc bệnh tâm thần vẫn không được may mắn đó. Họ vẫn bị cho là do
ma quỷ ám và luôn bị tống giam và ngược đãi.
Mặc dù người Cơ Đốc giáo vẫn tin vào những quan điểm nặng nề về
người bệnh trong thời trung cổ, nhưng việc thực hành y học cũng vẫn dựa
trên lý thuyết về bốn khí chất đã phát triển trong văn minh Hy Lạp. Khuôn khổ
này cũng giúp ích cung cấp cơ sở cho vai trò của âm nhạc trong điều trị bệnh.
Một số lớn các chính khách và triết gia tin vào hiệu lực chữa bệnh của âm
nhạc trong đó gồm có Boethius, người tuyên bố rằng âm nhạc hoặc làm cải
thiện hoặc làm suy giảm đạo đức con người; Cassiodorus, giống như
Aristotle, xem âm nhạc như sự phấn chấn tiềm tàng; trong khi St. Basil biện
hộ cho âm nhạc như một phương tiện truyền bá dương tính cho cảm xúc
thiêng liêng thần thánh. Nhiều bài thánh ca được tin là có tác dụng chống
bệnh hô hấp không chuyên biệt nhất định.
cho các rối loạn cơ thể và tâm thần.
Trong suốt thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, liệu pháp âm nhạc được sử
dụng đều đặn ở bệnh viện và một số nơi khác nhưng hầu như luôn kết hợp
với các liệu pháp khác.
Trong đại chiến thế giới 2, liệu pháp âm nhạc được tăng cường sử
dụng để nâng nhuệ khí cho những cựu chiến binh. Âm nhạc cũng được dùng
trong phục hồi chức năng cảm xúc, tâm thần và xã hội. Từ giữa thế kỷ 20, liệu
pháp âm nhạc được phát triển mang tính chuyên nghiệp cao ở châu Âu và
đặc biệt là ở nước Mỹ.
Sự phát triển liệu pháp âm nhạc chuyên nghiệp
Những năm 1940, ở nước Mỹ, việc sử dụng âm nhạc trong điều trị rối
loạn tâm thần đã trở nên rộng rãi hơn; một phần vì sự thay đổi dần về triết lý
điều trị. Nhiều nhà trị liệu, bao gồm Karl Menninger, nhà tâm thần học lỗi lạc,
bắt đầu bảo vệ cách tiếp cận điều trị đa liệu pháp (sáp nhập nhiều phương
thức điều trị). Với sự thay đổi về triết lý điều trị như vậy và với kiến thức tăng
lên trong việc áp dụng điều trị bệnh nhân có hiệu quả, liệu pháp âm nhạc cuối
cùng đã trở thành một phương thức điều trị được chấp nhận ở nhiều bệnh
viện. Thêm vào đó, những niềm tin trước đây cho rằng âm nhạc, bằng cách
này hay cách khác, là “ma thuật” đang bắt đầu bị xua tan và nhiều bệnh viện
đã tài trợ cho nghiên cứu khoa học về liệu pháp âm nhạc. Người ta thừa nhận
rằng những nỗ lực này là do Frances Paperte, người sáng lập quỹ tài trợ
nghiên cứu liệu pháp âm nhạc năm 1944, và sau đó chỉ đạo áp dụng âm nhạc
tại Bệnh viện Đa khoa Walter Reed ở Washinton, DC.
Trong thế chiến thứ hai, nhiều tổ chức, bao gồm quỹ khẩn cấp cho
nhạc sĩ, dịch vụ âm nhạc bệnh viện cựu chiến binh, và nhiều tổ chức khác đã
cung cấp các nhạc sĩ cho các bệnh viện. Những người tình nguyện này đã trợ
giúp cho nhân viên bệnh viện tổ chức các chương trình âm nhạc điều trị cho
bệnh nhân.
nghiên cứu của các nhà trị liệu âm nhạc.
Vào những năm 1960, các nhà trị liệu âm nhạc đã điều trị âm nhạc cho
những người chậm phát triển tâm thần cả người lớn và trẻ em, những người
khuyết tật cơ thể, và những bệnh nhân giảm cảm giác. Vào năm 1990, đã có
hình thức điều trị điều dưỡng tại nhà cho người cao tuổi, điều trị cho những
bệnh nhân bị bệnh nội khoa, và còn điều trị cho cả những tù nhân. Những
năm cuối thế kỷ 20, các nhà liệu pháp âm nhạc tiếp tục làm việc với các đối
tượng lâm sàng khác nhau ngày càng tăng lên. Một số lượng đáng kể các
nhà liệu pháp âm nhạc đã giúp cải thiện cuộc sống của những người mắc hội
chứng Retts, AIDS, lạm dụng chất và giai đoạn cuối cùng của người bệnh.
Một tổ chức thứ hai, Hội Nước Mỹ về Liệu pháp âm nhạc (AAMT) được
thành lập năm 1971. Rất nhiều mục đích giống như của Hội Quốc gia về Liệu
pháp âm nhạc, nhưng khác nhau về cách thức mà các nhà liệu pháp âm nhạc
được đào tạo về lý luận và lâm sàng. Tháng giêng năm 1998, hai tổ chức Hội
Quốc gia về Liệu pháp âm nhạc và Hội Nước Mỹ về Liệu pháp âm nhạc thấy
cần phải hợp nhất vào một tổ chức, và Hội Liệu pháp âm nhạc Mỹ đã ra đời
(AMTA).
Từ sự khởi đầu của Hội Quốc gia về Liệu pháp âm nhạc năm 1950 và
Hội Nước Mỹ về liệu pháp âm nhạc năm 1971, sự chuyên nghiệp của liệu
pháp âm nhạc ngày càng phát triển, nhấn mạnh vào tiêu chuẩn cao về giáo
dục, đào tạo lâm sàng và thực hành lâm sàng. Các ấn phẩm giá trị cũng ra
đời và có uy tín ở Mỹ như: Liệu pháp âm nhạc, Tạp chí Liệu pháp âm nhạc và
Những Viễn cảnh của Liệu pháp âm nhạc… Nghề chuyên nghiệp về liệu pháp
âm nhạc sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 21.
CÁC LÝ THUYẾT VỀ ÂM NHẠC VÀ Y HỌC
Đề cập đến lịch sử liệu pháp âm nhạc một cách khoa học, hiệu lực
chữa bệnh của âm nhạc là một chủ đề phổ biến trong các tài liệu về triết lý và
Nhưng trong dàn nhạc hiện đại như ỏ Berlin Philharmonic lại quy định là 445
Hz nhằm làm cho âm thanh dàn nhạc thêm sáng hơn.
Ngày nay chúng ta có thể dễ dàng đo lường tốc độ rung của các nốt
nhạc một cách chính xác, nhưng tất nhiên điều này không phải dễ dàng cho
Pythagoras. Cách mà ông đo lường một cách chính xác là tỷ lệ toán học giữa
các tone và quãng bậc do dây đàn sinh ra. Bằng việc sử dụng monochord,
ông đã khám phá ra hàng loạt quy luật của mối quan hệ giữa chiều dài của
dây đàn và cao độ của nốt nhạc.
Thí dụ, nếu dây đàn của monochord rung động một cách tự do, nốt
nhạc cơ bản tương ứng với chiều dài sợi dây là “1” (thí dụ 440 Hz). Nếu sợi
dây được chia đôi, chúng sẽ rung động với tốc độ gấp đôi (1:2 - 880 Hz). Nếu
sợi dây được chia làm ba, rung động sẽ nhanh gấp 3 lần (1:3 - 1320 Hz). Vậy
là đã có một quy tắc về mối quan hệ toán học (tỷ lệ) giữa chiều dài dây đàn và
tốc độ rung động của dây đàn. Điều này hoàn toàn mang tính chất vật lý, đó là
những con số và ta gọi là “số lượng” của âm nhạc.
Nhưng tâm hồn con người khi trải nghiệm (nghe) âm nhạc thì về
phương diện tâm lý học sẽ ra sao? Chúng ta cảm nhận được những rung
động đã tạo ra nốt nhạc, nhưng sự tác động qua lại của các nốt nhạc đã tạo
thành âm nhạc. Những nốt nhạc và âm nhạc là “chất lượng”. Khi nghiên cứu
sự rung động theo quan điểm chất lượng, người ta đã khám phá ra rằng sợi
dây được chia đôi sẽ sinh ra cùng một nốt nhạc (đồng âm) nhưng cao hơn
một quãng tám (gọi là octave) so với để nguyên sợi dây. Thí dụ, nốt Đồ và nốt
Đô là đồng âm nhưng cách nhau một quãng tám. Quãng tám là một nguyên lý
cơ bản của âm học và tâm lý học mà mọi người cảm nhận và trải nghiệm
được về nó. Giọng hát của nữ và trẻ em cao hơn nam giới một quãng tám.
Điều quan trọng là nếu không có quy luật quãng tám thì nam, nữ và trẻ em
không thế hát chung trong dàn hợp xướng. Quãng tám là một hiện tượng của
vũ trụ. Âm nhạc, là âm thanh do con người sinh ra và sắp xếp theo trật tự thời
triển thêm.
Y học khí chất
Y học khí chất là một học thuyết có ảnh hưởng lớn qua nhiều thế kỷ.
Học thuyết này cho rằng sức khỏe bị ảnh hưởng của bốn chất dịch cơ thể
hoặc “khí chất” là máu, đàm, mật vàng và mật đen. Sức khỏe tốt là kết quả
của sự thăng bằng, hài hòa giữa các khí chất, trong khi bệnh tật là phản ánh
một số kiểu mất thăng bằng giữa các khí chất. Học thuyết này có từ khoảng
400 năm trước Công Nguyên và một trong những người nổi tiếng phát biểu
nhiều về nó là Galen, nhà lý thuyết y học có tầm ảnh hưởng lớn thời kỳ đế
chế La Mã. Đây là cơ sở lý thuyết y học cho tới thế kỷ 18.
Âm nhạc được xem là phương tiện điều trị có tác động và thậm chí có
khả năng phục hồi cân bằng giữa các khí chất trong cơ thể.
Trên cơ sở liên quan đến lý thuyết về khí chất, các tác giả ở thế kỷ 16,
17 như Robert Fludd (1617), Agrippa Von Nettesheim (1510) đã nêu ra mối
liên quan giữa âm nhạc và con người theo 3 mức độ. Con người được hiểu
bao gồm cơ thể, trí tuệ và tinh thần (body, mind and spirit). Mối liên quan theo
3 mức độ là:
1. Thế giới vật chất, tương ứng với cơ thể con người và tương ứng với
rung động của âm nhạc.
2. Thế giới ngôn ngữ tương ứng với trí tuệ con người và tương ứng với
nốt và quãng của âm nhạc.
3. Vũ trụ tương ứng với tinh thần con người và tương ứng với tỷ lê siêu
phàm của âm nhạc.
Học thuyết bản chất tinh thần
Theo các tài liệu triết học trong lịch sử, các triết gia phương tây như
Plato, Aristotle, Augustine, Schopenhauer, Nietzsche… đã xem xét kỹ lưỡng
về vai trò có có tính chất lý thuyêt và thực hành của âm nhạc ở các mức độ
như sau:
vi mô của âm nhạc.
Sự phục hồi này trở nên nghiêm túc hơn, liên quan chặt chẽ với- vật lý
học lượng tử hiện đại với sự chứng minh đầy ấn tượng về mối quan hệ
nghịch thường giữa trạng thái vật chất như sự đồng thời của sóng và hạt.
Những phát minh của Bohr và Einstein đã có ảnh hưởng to lớn đến tư duy
khoa học và cũng được phản ảnh trong liệu pháp âm nhạc
Người ta không còn nghi ngờ rằng cuộc sống là một cuộc hành trình
vĩnh cửu giữa các mức độ khác nhau của sự tồn tại của con người, đi từ vật
chất đến tinh thần. Âm nhạc là một trật tự đặc biệt, ảnh hưởng đến cơ thể, trí
tuệ và tinh thần con người và nó phản ảnh nguyên tắc vũ trụ của cuộc sống.
Đây chính là những lý thuyết kinh điển về âm nhạc và y học, nó là ý tưởng cũ
đã được đặt trong một khuôn khổ mới.
NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ LIỆU PHÁP ÂM NHẠC
Liệu pháp âm nhạc là gì?
Trong liệu pháp âm nhạc, từ âm nhạc dùng để mô tả phương tiện đặc
biệt được sử dụng. Ở đây âm nhạc được sử dụng làm phương tiện điều trị,
nhưng lợi ích tối ưu của nó trong điều trị lại phụ thuộc vào việc nhà trị liệu sử
dụng nó một cách thích hợp. Âm nhạc không phải là thuốc chữa bách bệnh.
Thí dụ, điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta đưa vé xem hoà nhạc hay băng đĩa
nhạc cho những người bị bại não hoặc bị trầm cảm? Những người này có thể
thích âm nhạc hoặc thậm chí có thể cảm thấy thay đổi tạm thời về khí sắc do
họ ưa thích âm nhạc. Nhưng chắc chắn họ không thể cải thiện được lâu dài
về chức năng cơ thể hoặc cảm xúc theo những trải nghiệm ngắn hạn này.
Mặt khác, âm nhạc mà chúng ta thưởng thức hàng ngày chưa phải là công cụ
điều trị. Tác dụng của âm nhạc như một công cụ điều trị khi nó được áp dụng
một cách chuyên biệt và còn tùy thuộc vào kỹ năng và kiến thức của nhà trị
liệu. Tuy nhiên, bởi vì âm nhạc là một hiện tượng vũ trụ cho nên loài người
sách: Nghề nghiệp trong Liệu pháp âm nhạc (Hội Quốc gia về liệu pháp âm
nhạc, 1980) đã mô tả Liệu pháp âm nhạc như sau:
Liệu pháp âm nhạc là sử dụng âm nhạc trong việc thực hiện mục tiêu
điều trị: phục hồi, duy trì và phát triển sức khoẻ tâm thần và cơ thể. Đó là sự
áp dụng có hệ thống về âm nhạc, do những nhà trị liệu âm nhạc trực tiếp thực
hiện trong một môi trường âm nhạc, dẫn đến những thay đổi mong muốn về
hành vi. Những thay đổi như vậy làm cho cá nhân có khả năng hiểu biết sâu
sắc hơn về bản thân và thế giới xung quanh, để thành công trong điều chỉnh
xã hội thích hợp hơn. Nhà trị liệu âm nhạc chuyên nghiệp tham gia việc phân
tích các vấn đề cá nhân và hình thành trong đầu những mục tiêu điều trị
chung trước khi đặt kế hoạch và tiến hành các hoạt động âm nhạc chuyên
biệt. Định kỳ đánh giá để xác định hiệu quả của qui trình công việc đã làm.
Định nghĩa Liệu pháp âm nhạc có thể khác nhau phụ thuộc vào thân
chủ và nhà thực hành liệu pháp. Với một số thân chủ (hoặc bệnh nhân), tiến
trình liệu pháp chủ yếu là để phục hồi các kỹ năng hoặc các chức năng tâm
lý. Với một số người bệnh mãn tính, họ mất một số năng lực, tiềm năng nên
mục tiêu là giải quyết về cơ thể, cảm xúc và các khó khăn về mất năng lực, về
tâm lý do bệnh mạn tính.
Liệu pháp âm nhạc cũng được dùng cho những người không bệnh, khi
đó người ta muốn qua liệu pháp để khám phá những nguồn lực của họ, muốn
phát hiện bản thân để đạt kết quả tốt hơn về sức khỏe và cuộc sống.
Như vậy, mục đích của Liệu pháp âm nhạc rất thay đổi đối với các đối
tượng, tuy nhiên, sự tiếp cận của các nhà liệu pháp là không thay đổi.
Do đó, có nhiều định nghĩa về Liệu pháp âm nhạc phụ thuộc vào triết lý
hoặc tiếp cận của nhà thực hành hoặc nhóm thực hành. Thí dụ:
Liệu pháp âm nhạc hành vi
Dùng âm nhạc nhằm tăng cường hoặc biến đổi hành vi cho thích hợp,
làm giảm hoặc loại bỏ những hành vi xấu, không thích hợp. Trong liệu pháp
pháp âm nhạc được sử dụng nhằm tăng cường hiệu quả của các phương
thức điều trị khác và để đóng góp cho toàn bộ kế hoạch điều trị cho thân chủ.
- Mức độ tập trung sâu: bất kỳ thực hành nào, trong đó liệu pháp âm
nhạc chiếm vai trò trung tâm và độc lập, nhằm vào mục tiêu hàng đầu trong
kế hoạch điều trị cho thân chủ, đưa đến kết quả thay đổi lớn, đáng kể tình
trạng hiện tại của thân chủ.
- Mức độ chủ yếu: bất kỳ thực hành nào, trong đó liệu pháp âm nhạc
chiếm vai trò không thể thiếu hoặc độc nhất nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị
chính và đưa đến kết quả tạo ra những thay đổi toàn bộ cuộc sống chủ thể.
Tác giả Dileo (199ậ| đã bổ sung và phát triển cho phân loại nêu trên
của Bruscia. Ông đã đưa ra ba mức độ thực hành lâm sàng:
1. Trợ giúp
2. Chuyên biệt
3. Toàn diện
Thí dụ minh họa cho mô hình này để chữa các triệu chứng đau ở thân
chủ như sau:
Các mức độ của liệu pháp âm nhạc
Thực hành giải quyết chứng đau
1. Mức độ trợ giúp
Những nhu cầu của chủ thể:
Giảm đau tạm thời
Trình độ nhà liệu pháp:
Mới vào nghề hoặc trung bình
Liệu pháp âm nhạc can thiệp chung:
Ứng tác, các kỹ thuật hình tượng âm
nhạc
3. Mức độ toàn diện
Những nhu cầu của chủ thể:
Hợp tác với nhà trị liệu giải quyết đau
Trình độ nhà liệu pháp:
Bậc nhất
Khả năng giải quyết:
Giải quyết đau
Chức năng liệu pháp âm nhạc:
Độc lập giải quyết đau
Liệu pháp âm nhạc can thiệp
mức độ cao cấp / luyện tập chuyên
biệt
Những nhà liệu pháp âm nhạc làm việc trong hệ thống chăm sóc sức
khỏe thường thiết lập mối quan hệ chuyên nghiệp cộng tác với các bác sĩ, y
thân chủ trong kỹ thuật ứng tác âm nhạc tiếp theo sự hội thoại bằng miệng.
Trong lý thuyết âm nhạc và lý thuyết tâm lý học, các nhà liệu pháp âm
nhạc thường phải trả lời 3 câu hỏi kinh điển:
1. Âm nhạc có phải là ngôn ngữ không? Nếu nó cũng là một ngôn ngữ
thì ngôn ngữ âm nhạc khác ngôn ngữ nói như thế nào?
2. Âm nhạc có ý nghĩa vượt qua những nguyên tắc hay quy luật bên
trong âm nhạc không? Nếu có, thì sự diễn tả của âm nhạc có liên quan đến
thế giới bên ngoài như thế nào?
3. Âm nhạc có phải là có ý nghĩa không "thể diễn tả bằng ngôn từ
không? Nếu có, thì ý nghĩa “không thể diễn tả được” hoặc “không tả được”
này có phải là một thể riêng biệt của kiến thức hoặc nhận biết của con người
không?
Người ta đã trả lời cho 3 câu hỏi nêu trên:
1. Đúng, âm nhạc là một loại ngôn ngữ diễn tả theo cách nghệ thuật.
Âm nhạc có hệ thống ký hiệu riêng biệt (ký pháp âm nhạc) và nó có ý nghĩa
cho hầu hết mọi người. Tuy nhiên, ngôn ngữ âm nhạc không phải là ngôn
ngữ thuyết trình. Âm nhạc đặc trưng cho một ngôn ngữ tượng trưng, không
cụ thể, rõ ràng như ngôn ngữ nói.
2. Đúng, âm nhạc chứa đựng và diễn tả ý nghĩa vượt quá nguyên tắc
âm nhạc hay thẩm mỹ thuần túy. Ý nghĩa này được xây dựng thông qua tác
động qua lại phức tạp giữa những người tham gia âm nhạc, như người sáng
tác - người biểu diễn – người nghe hoặc bệnh nhân - nhà trị liệu. Âm nhạc có
thể là sự diễn tả trực tiếp cảm xúc của bệnh nhân. Nó cũng có thể là một sự
tượng trưng hoặc ẩn dụ của trạng thái tâm lý phức tạp của bệnh nhân.
3. Đúng, âm nhạc có ý nghĩa không thể diễn tả được bằng ngôn từ.
“Kiến thức ngầm” hoặc “ý nghĩa không thể diễn tả” này thể hiện ở các mức độ
khác nhau, ở mức độ truyền đạt giữa các cá nhân, khái niệm hai mặt giữa
chủ quan và khách quan (như giữa “người nghe” và “đối tượng âm nhạc”) đã
Trong nhiều nền văn hoá tiền văn tự, sự kết nối giữa quyền lực ma
thuật và âm nhạc được sử dụng phổ biến trong các hình thức bùa, ngải chống
lại bệnh tật. Người thầy thuốc hoặc pháp sư sử dụng cái lúc lắc, trống và bài
hát như một bộ phận không thể thiếu của nghi thức chữa bệnh và xua đuổi
thế lực ma quỷ.
Nhìn thoáng qua, việc sử dụng âm nhạc “ma thuật - tín ngưỡng” này có
vẻ không liên quan đến thực hành y khoa đương thời. Tuy nhiên, chúng ta có
thể thấy ảnh hưởng của các truyền thống văn hoá này trong liệu pháp âm
nhạc. Ngay trong xã hội hiện đại của chúng ta, âm nhạc vẫn còn có mối liên
quan không thể thiếu tới giá trị và thực hành tinh thần. Âm nhạc có vai trò ưu
thế trong phục vụ tôn giáo của nhiều giáo phái, hơn nữa, nó còn diễn tả các
giá trị đạo đức và hành vi được chấp nhận. Trong khi âm nhạc còn được sử
dụng trong thực hành tôn giáo ngày nay giống như đã từng có trong quá khứ,
cơ sở hợp lý cho việc sử dụng âm nhạc trong liệu pháp âm nhạc hiện đại
khác xa với nghi thức chữa bệnh thời tiền văn tự. Các văn hóa nguyên thủy
cho rằng hiệu lực chữa bệnh của âm nhạc là những hiệu lực siêu nhiên, còn
các nhà liệu pháp âm nhạc hiện nay cho rằng những thay đổi trên bệnh nhân
là kết quả trực tiếp của âm nhạc với giá trị biểu tượng của nó trong niềm tin,
thái độ và hành vi đã được học tập theo nguyên tắc phản xạ có điều kiện từ
quá khứ của bệnh nhân, tạo nên đáp ứng sinh lý với âm nhạc trên bệnh nhân.
Nói cách khác, những trải nghiệm cảm xúc thẩm mĩ âm nhạc đã hoạt hoá
khuynh hướng tâm sinh lý tới đáp ứng với âm nhạc, tạo nên niềm tin vào hiệu
quả chữa bệnh của âm nhạc. Cũng như trong các liệu pháp tâm lý, niềm tin
của bệnh nhân là yếu tố quan trọng đối với thành công của liệu pháp. Thí dụ,
trong sử dụng âm nhạc để kiếm soát đau trên bệnh nhân, Melzack(1973) đã
phát hiện ra rằng, niềm tin của bệnh nhân về hiệu quả của âm nhạc đã tác
động quan trọng tới sức chịu đựng đau.
Tóm lại, truyền thống văn hoá của con người về âm nhạc có hiệu lực