BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHÍNH
BỘ TÀI
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
HOÀNG THỊ YẾN
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS.Bùi Tiến Hanh
Hà Nội - 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng./.
Tác giả luận văn
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng của Việt
Nam còn nhiều yếu kém, tụt hậu nhiều so với thế giới. Trong khi quy mô đào
tạo tăng đáng kể, thì chất lượng đào tạo ngày càng giảm sút, cơ cấu đào tạo
mất cân đối, không đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động. Cùng với
“thể chế”, chất lượng nguồn nhân lực được coi là nút thắt thứ hai đối với sự
phát triển kinh tế Việt Nam. Việt Nam cần một nguồn chất lượng cao để đáp
ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và
bền vững. Tuy nhiên, có một thực tế là hệ thống và chất lượng giáo dục đại
học của Việt Nam còn một khoảng cách khá xa để có thể đáp ứng kỳ vọng đó.
Việc đổi mới công tác quản lý tài chính là một trong những yêu cầu cấp
thiết và quan trọng mà các trường đại học công lập hiện nay đòi hỏi để tạo ra
động lực cần thiết cho việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, trong
đó có việc nâng cao chất lượng giảng viên, chất lượng của các nghiên cứu
khoa học, cơ sở hạ tầng, chất lượng của các chương trình đào tạo v.v…Giải
quyết được những bất cập trong mô hình quản lý công tác tài chính sẽ giúp
các Trường Đại học giải được bài toán về nâng cao chất lượng dạy và học
trong giai đoạn hiện nay.
Trong thời gian qua Trường Đại học Giáo dục-ĐHQGHN đã từng bước
hoàn thiện công tác quản lý tài chính, từ công tác lập kế hoạch đến phân bổ
chỉ tiêu cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, phân cấp quản lý …. Tuy
nhiên công tác quản lý tài chính vẫn còn một số điểm chưa đạt ở mức độ yêu
cầu của Trường Đại học Giáo dục. Vì vậy, việc nghiên cứu công tác quản lý
tài chính của Trường Đại học Giáo dục-ĐHQGHN đóng vai trò quan trọng,
tạo điều kiện hoàn thiện, đổi mới công tác quản lý tài chính trong lĩnh vực
7
8
thực tiễn về quản lý tài chính ở các trường đại học công lập nói chung và ở
Trường Đại học Giáo dục thuộc ĐHQGHN nói riêng. Kết quả phân tích là cơ
sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về quản lý tài chính trong mô hình các
trường đại học công lập ở Việt Nam.
Là tài liệu tham khảo cho việc hoạch định và hoàn thiện chính sách
và cơ chế quản lý tài chính ở các trường đại học công lập nói chung và ở
Trường Đại học Giáo dục thuộc ĐHQGHN nói riêng.
Là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ công tác đào tạo đại học, sau
đại học tại Trường ĐHGD - ĐHQGHN.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo; nội
dung chính của luận văn được kết cấu gồm
Chương 1: Giáo dục đại học và cơ chế quản lý tài chính đối với các
trường đại học công lập tự chủ bảo đảm một phần chí phí hoạt động
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính ở trường Đại học Giáo dục
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công quản lý tài chính ở
trường Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học quốc gia hà nội.
9
Chương 1
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TỢ CHỦ BẢO ĐRM MỘT
PHẦN CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG
1.1. Giáo dục đại học và vai trò của các cơ sở đào tạo đại học công lập
theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiẹp trung học phổ
thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ hai năm rưỡi đến bốn năm học đối
với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ một năm
rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng
chuyên ngành;
- Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối
với người có bằng đại học;
- Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bốn năm họcđối với
người có bằng đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có bằng thạc sĩ.
Trong trường hợp dặc biệt, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ có thể được kéo
dài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đặc điểm của giáo dục đại học:
Thứ nhất, Giáo dục đại học là giáo dục sau phổ thông (xác định của
UNESCO). Tuy nhiên ở nước ta có đặc điểm khác, sau trung học phổ thông,
một tỷ lệ lớn vào học nghề: trung cấp nghề, cao đẳng nghề nên không được
gọi là giáo dục đại học.
Thứ hai, Giáo dục đại học đã mang tính đại chúng, không còn giới hạn
ở giáo dục tinh hoa như đại học truyền thống.
Thứ ba, Giáo dục đại học luôn gắn liền với giáo dục dạy nghề. Mỗi
trường đại học đều đào tạo những ngành nghề cụ thể nhất định. Danh mục
ngành nghề đào tạo ấy không cố định, khép kín, luôn thay đổi, mở theo yêu
cầu của đời sống xã hội. Đây là xu thế của thế giới, ở Việt Nam vẫn còn nặng
về lý thuyết, kém về thực hành nghề.
Thứ tư, Giáo dục đại học luôn song hành cùng nghiên cứu khoa học,
không nghiên cứu khoa học nghiêm túc không phải và không còn là đại học.
11
Thứ năm, Giáo dục đại học mang đậm tính dân tộc, đồng thời cũng
mang đậm tính quốc tế. nó là đỉnh cao của tri thức quốc gia, là cửa ngõ để văn
Cơ sở đào tạo đại học công lập là cơ sở đào tạo do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định thành lập, thuộc sở hữu của nhà nước. Nhà nước đầu
tư vốn để xây dựng phòng học, nhà làm việc, thư viện và các công trình phụ
trợ khác thuộc phạm vi xây dựng cơ bản của mỗi cơ sở đào tạo đại học công
lập. Mọi khỏan chi cho quá trình hoat động như tiền lương, phụ cấp, vật tư
văn phòng, mua sắm tài sản cố định…. chủ yếu được lấy từ nguồn vốn cấp
phát của NSNN. Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, số lượng giáo
viên và cán bộ, nhân viên quản lý phục vụ, mức tiền lương, tiền thưởng… của
các cơ sở đào tạo đại học công lập đều phải tuân theo các quy định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền.
Các cơ sở đào tạo ngoài công lập:
.Trường dân lập: Do các tổ chức xã hội, xã hội ngề nghiệp, kinh tế xin
phép thành lậpvà tự đầu tư bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước.
.Trường tư thục: Do cá nhân hay một nhóm các nhân xin phép thành
lập và tự đầu tư. trường đại học tư thục có quyền tự chủ và tự chịu trách
nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động
đào tạo, khoa học công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức nhan sự.
.Trường đại học bán công: Là cơ sở được thành lập trên cơ sở liên kết
giữa tổ chức nhà nước với các tổ chức không phải tổ chức nhà nước, thuộc
mọi thành phần kinh tế hoặc cá nhân theo các phương thức: thành lập mới,
chuyển toàn bộ hoặc một phần từ đơn vị công lập để cùng đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất, quản lý, điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật.
1.1.2 Vai trò của các cơ sở đào tạo đại học công lập với sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Các cơ sở đào tạo đại học công lập có vai trò quan trọng trong sự phát
triển kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia, nó phát triển sâu sắc đối với sự phát
triển trí tuệ cá nhân cũng như xã hội. Vai trò của các cơ sở đào tạo đại học
13
con người lao động có được thông qua giáo dục, đào tạo và tích lũy kinh
nghiệm. Giáo dục đại học mang đến cho người học sự trưởng thành về mặt tri
14
thức, tự tin làm chủ kiến thức, năng động, sáng tạo trong cách nghĩ và cách
làm, nâng cao trình độ chuyên môn.
Trong mối quan hệ giữa lao động và năng suất lao động thì lao động
giữ vai trò quyết định. Một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao
cùng với quá trình sáng tạo trong quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ và các
trang thíết bị hiện đại thì tất yếu năng suất lao động được nâng cao. Khi công
nghệ thay đổi càng nhanh thì thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn. Lực lượng
lao động có trình độ càng cao thì thay đổi công nghệ càng nhanh. Vì vậy, tích
lũy vốn con người mà đặc biệt là kiến thức sẽ tạo điều kiện phát triển công
nghệ mới và nguồn duy trì tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Góp phần
tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người là hệ quả của sự tăng trưởng
kinh tế.
- Các cơ sở đào tạo đạihcọ công lập thúc đẩy sự hình thành và phát
triển nền kinh tế trí thức.
Nền kinh tế trí thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh và sử dụng tri
thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế. Đặc trưng
của nền kinh tế trí thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn
quý nhất. Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuât, sáng tạo đổi mới là động
lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Tri thức tạo ra được cơ chế lợi nhuận tăng
dần, trong khi các yếu tố sản xuất truyền thống (đất đai, vốn, lao động) lại
tuân theo quy luật lợi nhuận giảm dần.Công nghệ thông tin là một nộ phận
quan trọng của nền kinh tế tri thức đã trở thành phương tiện giải phóng các
tiềm năng sáng tạovà tri thức tiềm ẩn trong mỗi người.
Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản
thiết lập công bằng xã hội.
1.2 Quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học công lập
Tài chính trong các cơ sở đào tạo công lập là tổng thể các hoạt động
thu, chi bằng tiền do các cơ sở đào tạo đại học công lập tiến hành trong quá
trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của mình nhằm phục vụ, thực hiện các
16
chức năng nhiệm vụ được giao, đồng thời tài chính trong các cơ sở đào tọa
đại học công lập cũng phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa các đơn vị
với các chủ thể kinh tế trong xã hội.
Quản lý tài chính các cơ sở đào tạođại học công lập là sự tác động liên
tục có ổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và quá
trình hoạt động tài chính của đơn vị thông qua các phương pháp quản lý và
công cụ quản lý nhằm xác định nguồn thu nhiệm vụ chi, tiến hành thu chi
theo đúng quy định của pháp luật và nguyên tắc của nhà nước về tài chính,
đảm bảo kinh phí cho mọi họat động của đơn vị.
Chủ thể quản lý tà chính là các cơ sở đào tạo công lập được Nhà nước
giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ. Chủ thể
trực tiếp quản lý tài chính ở các cơ sở đào tạo đại học công lập là bộ máy tài
chính trong hệ thống các cơ sở đào tạo công lập.
Đối tượng của quản lý tài chính các cơ sở đào tạo công lập là các hoạt
động thu chi bằng tiền, hoạt động tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ
trong các cơ sở đào tạo đại học công lập.
Phương pháp quản lý thường được dùng: phương pháp tổ chức, phương
pháp hành chính, phương pháp kinh tế.
Công cụ quản lý: hệ thống pháp luật, các đòn bẩy kinh tế, tài chính,
thanh tra, kiểm tra …
1.2.1 Nội dung quản lý tài chính các cơ sở đào tạo đại học công lập.
xác lập các chỉ tiêu thu chi một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực
tiễn từ đó xác lập nên những biện pháp nhằm tổ chức thực hiện những nhiệm
vụ chi tiêu đề ra. Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ của ngành trong năm
kế hoạch tiếp theo, tình hình thực hiện kế hoạch của các năm trước, đơn vị lập
dự tóan các nguồn kinh phí ngân sách gửi lên cơ quan chủ quản và dự tóan
phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
+ Chấp hành dự tóan: Căn cứ vào dự tóan kinh phí NSNN đã được
cấpcó thẩm quyền được giao, đơn vị sẽ tíến hành sử dụng kinh phí NSNN
theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức nhà nước quy định, chịu sự kiểm soát chi
của kho bạc nhà nước.
+ Quyết tóan: Đơn vị lập báo cáo quyết tóan ngân sách theo đúng các
nội dung trong dự tóan được giao và theo mục lục ngân sách nhà nước gửi
18
đơn vị dự tóan cấp trên. Số quyết tóan thu NSNN phải là số thu đã thực nộp
hoặc hạch tóan thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước.
*Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị:
- Các khỏan thu sự nghiệp thuộc ngân sách nhà nước như: Thu học phí,
lệ phí từ người học theo quy dịnh của của nhà nước. Tòan bộ tiền học phí ở
các cơ sở đào tạo đại học công lập được nhà nước đầu tư trở lại cho đơn vị,
thì việc quản lý sử dụng phải đảm bảo đúng mục đích đầu tư và cơ chế quản
lý tài chính hiện hành.
- Các khỏan thu sự nghiệp có nguồn gốc ngòai NSNN như: thu từ hoạt
động sản xuất, cung ứng dịch vụ (họat động liên doanh liên kết, tiền lãi gửi
ngân hàng, thuê hội trường …) thì cơ chế quản lý các khỏan thu này mang
tính thị trường, linh họat hơnvà không hòan toàn chịu chi phối trực tiếp bởi
các quy định của nhà nước. Mức thu từ các họat động này do Thủ trưởng đơn
vị quyết định theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí, thực hiện nghĩa vụ với
ngân sách nhà nước và có tích lũy.
giờ cho giảng viên cơ sở.
. Chi đào tạo bồi dưỡng giáo viên
. Chi công tác tổ chức tuyển sinh, thi tốt nghiệp và thi sinh viên giỏi
. Chi nghiên cứu các đề tài khoa học, công nghệ cấp cơ sở của cán bộ,
giáo viên và sinh viên.
+ Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên như mua sắm dụng cụ thay thế,
duy tu bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng, mua sắm thiết bị cho phòng
học, thư viện, phòng thực hành.
+ Chi quản lý hành chính: tiền điện, nước, xăng, dầu.
+ Chi thường xuyên khác như trả gốc và lãi vốn vay các tổ chức cá
nhân trong và ngoài nước.
20
Quản lý chi thường xuyên: Những nội dung chi nằm trong phạm vi xây
dựng quy chế chi tiêu nội bộ đã có chế độ, tiêu chuẩn định mức do cư quan có
thẩm quyền ban hành, thì thủ trưởng đơn vị được quy định mức chi cao hoặc
thấp hơn mức chi do nhà nước quy định. Do vậy việc xây dựng một quy chế
chi tiêu nội bộ khoa học, hợp lý có ý nghĩa quan trọng với họat động thường
xuyên của đơn vị. Quy chế chi tiêu nội bộ xây dựng theo nguyên tắc: Quy chế
chi tiêu nội bộ gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp
dụng thống nhất trong đơn vị. Quy chế chi tiêu nội bộ được thảo luận rộng rãi,
dân chủ, công khai trong đơn vị, có ý kiến tham gia của tổ chức công đòan
đơn vị. Quy chế chi tiêu nội bộ đơn vị gửi cơ quan quản lý cấp trên để báo
cáo và gửi kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khỏan giao dịch làm căn cứ
thanh tóan.
-
Chi không thường xuyên bao gồm:
1.2.2 Các công cụ quản lý tài chính chủ yếu tại các trường đại học
công lập.
1.2.2.1 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước
Bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính tại các
cơ sở đào tạo ĐHCL, các văn bản pháp luật quy định các điều kiện, chuẩn
mực pháp lý cho các hoạt động tài chính ở các trường ĐHCL
Công cụ này nhằm bảo đảm cho các khỏan thu chi tài chính của nhà
trường được thực thi. Căn cứ vào quy mô đào tạo, cơ sở vật chất, họat động
sự nghiệp và các họat động khác của năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm kế
hoạch cho trường.
1.2.2.2 Quy chế chi tiêu nội bộ
Đảm bảo cho các khỏan thu chi tài chính của nhà trường được thực
hiện theo quy định, sử dụng kinh phí có hiệu quả và tăng cường công tác quản
lý của đơn vị. làm căn cứ để cán bộ viên chức trong đơn vị thực hiện và kho
bạc nhà nước kiểm sóat chi.
1.2.2.3 Hạch tóan, kế tóan, kiểm tóan
Nhằm ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng
thông tin của các nhà quản lý; kiểm sóat nguồn kinh phí; phát hiện và ngăn
ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, vi phạm các chế độ chính
sách kinh tế.
1.2.2.4 Hệ thống thanh tra, kiểm tra
Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa các hành động tiêu cực về
tài chính trong hoạt động thu chi tài chính trong các trường đại học, đồng thời
phát hiện ngăn ngừa những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính.
1.2.2.5 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính
23
Ban Giám hiệu, đứng đầu là Hiệu trưởng giữ vai trò quan trọng và
Thông tư liên tịch của Bộ GD&ĐT và Bộ Nội vụ (07/2009/TTLT-BGDĐTBNV tháng 4 năm 2009) hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục
và đào tạo đã nêu rõ quyền tự chủ của đơn vị trong việc xác định nhiệm vụ xây
dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện; trong việc tổ chức bộ máy và biên chế trong
đơn vị; trong việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức.
Nghị quyết về đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 (số 05NQ/BCSĐ) của Ban cán sự Đảng Bộ GD& ĐT đánh giá thực trạng quản lý giáo dục
đại học những năm qua cho thấy công tác quản lý của Bộ GD& ĐT đối với các
trường chưa đổi mới đáng kể để phù hợp với các quy luật chi phối hoạt động của hệ
thống giáo dục đại học và đòi hỏi của phát triển xã hội. Phương pháp quản lý nhà
nước đối với các trường đại học, cao đẳng một mặt còn tập trung, chưa có quy chế
phối hợp với các bộ, ngành, chưa phân cấp cho chính quyền địa phương, chưa tạo
đủ điều kiện để các cơ sở đào tạo thực hiện quyền và trách nhiệm tự chủ, mặt khác
không đủ khả năng đánh giá thực chất hoạt động và sự chấp hành luật pháp của tất
cả các trường đại học, cao đẳng, không có khả năng đánh giá chất lượng giáo dục
của toàn bộ hệ thống. Công tác quản lý ở các trường chưa phát huy được trách
nhiệm và sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và sinh viên. Trên cơ sở
phân tích thực trạng và các nguyên nhân của các tồn tại, Nghị quyết đã nêu lên các
giải pháp cụ thể hơn, theo đó về công tác quản lý cần phát huy cao độ tính tự chủ, tự
chịu trách nhiệm, tự kiểm soát bên trong của các trường, trên cơ sở các quy định
của nhà nước và của các trường, tăng cường công tác giám sát và kiểm tra của nhà
nước, của xã hội và của bản thân các trường. Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp
công lập trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Nghị quyết cũng nhấn mạnh cơ chế
trong đó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục đại học quyết định bậc lương của giảng
viên theo sự cống hiến của họ và hằng năm tổ chức đánh giá hoạt động giảng dạy.
Nghị quyết cũng nêu rõ cần tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và kiểm
soát bên trong của trường đại học phù hợp với các quy định của nhà nước.
25