1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
------
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DỰ ÁN SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI
SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Giáo viên hướng dẫn
: PGS.TS. Từ Quang Phương
Sinh viên thực hiện
: Ngô Thị Mai Anh
MSV
: 11130140
Lớp
: Kinh tế đầu tư 55B
Hà nội, 12/2016
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương
GVHD:PGS.TS. Từ Quang
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
UBND
Ủy ban nhân dân
KH&ĐT
Kế hoạch và Đầu tư
CBNV
Cán bộ nhân viên
CBTĐ
XHCH
Xã hội chủ nghĩa
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
NN&PTNN
NSNN
KT-XH
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, ngân sách Nhà nước đang ngày một khó khăn,
nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên cả nước không có vốn để giải
ngân mặc dù đã có quyết định đầu tư hoặc đang trong quá trình thực hiện đầu tư
nhưng thiếu vốn nên dự án phải dừng lại. Trong khi đó hầu hết các dự án sử dụng
vốn ngân sách Nhà nước đều là những dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng, mà cơ sở hạ
tầng lại là điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội của của địa phương và của
đất nước nói chung. Do đó vấn đề đặt ra là làm thế nào có thể sử dụng hiệu quả
nguồn vốn ngân sách dành cho hoạt động đầu tư phát triển. ngân sách đầu tư phát
triển lại là vấn đề khó có biện pháp giải quyết, vấn đề đầu tư vào đâu, đầu tư với
quy mô như thế nào và quan trọng là tiêu chí đánh giá việc đầu tư đó có hiệu quả
hay không đang nhận được sự quan tâm sâu sắc của cả xã hội, nhất là đối với các
nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu chính sách.
Trách nhiệm xác định việc bỏ vốn ngân sách đầu tư vào đâu, quy mô thế nào
chính là của cơ quan thẩm định dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước mà cụ thể
hiện nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh thành.
Khi dùng ngân sách để đầu tư cho các dự án, theo tác giả thì bước quan trọng nhất
là phê duyệt chủ trương đầu tư. Tại bước này cơ quan thẩm định phải kết luận được
dự án có thực sự cần thiết, có mang lại lợi ích KT-XH hay không, nói cách khác
chính là dự án đó có hiệu quả hay không sau đó mới bàn đến vấn đề có khả thi hoặc
thiết kế có phù hợp hay không… Tuy nhiên, việc xác định chủ trương đầu tư thường
rất thiếu cơ sở, thiếu các tiêu chí minh bạch, phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan
của các cấp có thẩm quyền, đặc biệt tại cấp địa phương thì vấn đề này càng rõ nét.
Đó là một trong những nguyên nhân chính của vấn đề đầu tư dàn trải, đầu tư thiếu
hiệu quả. Nhận biết được điều này, để tránh tình trạng chủ quan trong quyết định
chủ trương đầu tư dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, năm 2014 Quốc hội đã
thông qua Luật Đầu tư công trong đó dành một chương để viết về công tác lập,
thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư, tuy nhiên do mới triển khai trong một
tôi hoàn thành chuyên đề thực tập này.
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương
8
GVHD: PGS.TS.Từ Quang
CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHỦ
TRƯƠNG ĐẦU TƯ CÁC DỰ ÁN SỬ DỤNG VỐN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1. Tổng quan về Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng và tình hình
kinh tế xã hội thành phố thời gian qua
1.1.1. Giới thiệu tổng quan về Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng
1.1.1.1.
Lịch sử hình thành và phát triển Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố
Hải Phòng
Phát huy truyền thống vẻ vang hơn 70 năm xây dựng và phát triển của ngành
Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam (1945-2016), những năm qua ngành KH&ĐT Hải
Phòng luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần không nhỏ
vào thành tựu chung của toàn thành phố.
bộ ngành Trung ương.
1.1.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải
Phòng
a. Vị trí và chức năng
- Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố,
tham mưu giúp UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế
hoạch và đầu tư bao gồm các lĩnh vực:
- Tham mưu tổng hợp về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, và
đầu tư; Tổ chức thực hiện và kiến nghị, đề xuất về cơ chế, chính sách quản lý kinh
tế xã hội trên địa bàn; Đầu tư trong nước, ngoài nước ở địa phương ; Quản lý các
nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA), đấu thầu, đăng ký kinh doanh trong phạm vi địa
phương; Các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở theo quy định của pháp
luật; Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước chuyên ngành theo quy định của pháp
luật và phân công của UBND thành phố.
b. Nhiệm vụ và quyền hạn
Sở kế hoạch và đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của
pháp luật về lĩnh vực kế hoạch và đầu tư; các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
(1) Trình Ủy ban nhân dân thành phố:
- Dự thảo quy hoạch tổng thể, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5
năm và hàng năm của thành phố, bố trí kế hoạch vốn đầu tư thuộc ngân sách thành
phố; kế hoạch xúc tiến đầu tư của thành phố; các cân đối chủ yếu về kinh tế- xã hội
của thành phố; trong đó có cân đối tích lũy và tiêu dùng, cân đối vốn đầu tư phát
triển, cân đối tài chính;
- Dự thảo chương trình hành động thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội
theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố và chịu trách nhiệm theo dõi,
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
- Chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các Sở, ban, ngành có liên quan thực
hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển của các
chương trình, dự án đầu tư trên địa bàn; giám sát đầu tư của cộng đồng theo quy
định của pháp luật;
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
Phương
11
GVHD: PGS.TS.Từ Quang
- Làm đầu mối tiếp nhận, kiểm tra, thanh tra, giám sát, thẩm định, thẩm tra các
dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân;
- Quản lý hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào địa
bàn thành phố theo quy định của pháp luật; tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư theo
kế hoạch đã được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt; hướng dẫn thủ tục đầu tư
theo thẩm quyền.
(5) Về quản lý vốn ODA và các nguồn viện trợ phi Chính phủ:
- Vận động, thu hút, điều phối, quản lý nguồn vốn ODA và các nguồn viện trợ
phi Chính phủ của thành phố; hướng dẫn các Sở, ban, ngành xây dựng danh mục và
nội dung các chương trình sử dụng nguồn vốn ODA và các nguồn viện trợ phi
Chính phủ; tổng hợp danh mục các chương trình dự án sử dụng nguồn vốn ODA và
các nguồn viện trợ phi Chính phủ trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt và
báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
- Thẩm định và chịu trách nhiệm về các đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại
doanh nghiệp nhà nước do thành phố quản lý; tổng hợp tình hình sắp xếp, đổi mới,
phát triển các doanh nghiệp nhà nước và tình hình phát triển các doanh nghiệp
thuộc các thành phân kinh tế khác;
- Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về thủ tục đăng ký kinh doanh; đăng
ký tạm ngừng kinh doanh, cấp mới, bổ xung, thay đổi, cấp lại và thu hồi Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, ….
(8) Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư theo quy định
của pháp luật và sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố.
1.1.1.3. Cơ cấu tổ chức của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng
Lãnh đạo Sở gồm: Giám đốc và không quá 03 Phó Giám đốc;
Giám đốc Sở là người đứng đầu Sở, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân
thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố và trước pháp luật về toàn bộ hoạt
động của Sở, chịu trách nhiệm báo cáo trước công tác Hội đồng nhân dân thành
phố, Ủy ban nhân dân thành phố và Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo quy định. Giám
đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm
theo tiêu chuẩn, chuyên môn, nghiệp vụ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định và
theo các quy định về phân cấp quản lý công tác cán bộ của thành phố.
Phó Giám đốc Sở là người giúp Giám đốc Sở, chịu trách nhiệm trước Giám
đốc Sở cà trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công; khi Giám đốc Sở vắng mặt,
một Phó Giám đốc Sở được Giám đốc Sở ủy nhiệm điều hành các hoạt động của
Sở. Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố bổ nhiệm, bổ nhiệm
lại, miễn nhiệm theo tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ do Bộ Kế hoạch và Đầu tư
ban hành và các quy định về phân cấp quản lý công tác cán bộ của thành phố.
Việc điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cho từ chức,
nghỉ hưu và thực hiện chế độ chính sách khác đối với Giám đốc, Phó Giám đốc Sở
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Sơ đồ 1.1. Cơ cấu tổ chức của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng
GIÁM ĐỐC
TỔNG HỢP
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
VĂN PHÒNG SỞ
THANH TRA SỞ
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
ĐĂNG KÝ KINH DOANH
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
15
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
VĂN HÓA XÃ HỘI
THẨM ĐỊNH GIÁM SÁT
TRUNG TÂM TƯ VẤN ĐẤU THÀU
NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
CÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ
55 tổ chức khoa học và công nghệ với 20 phòng thử nghiệm được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia VILAS.
Thành phố có 04 trường đại học, 16 trường cao đẳng, 09 trường trung cấp chuyên nghiệp, 12 trường trung cấp nghề. Hệ thống cơ sở y
tế công lập và ngoài công lập phát triển mạnh. Toàn thành phố có 25 bệnh viện, trung tâm y tế có giường bệnh, 04 bệnh viện tư nhân, 08
Bệnh viện của các Bộ ngành; 02 phòng khám đa khoa khu vực, 01 viện điều dưỡng, đạt 32,02 giường bệnh/vạn dân. Nhiều công trình văn
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
17
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
hóa, thể thao trọng điểm có nghĩa nhân văn và lịch sử quan trọng được đầu tư mới, tôn tạo và nâng cấp , đủ điều kiện tổ chức các sự kiện thể
thao quốc gia và quốc tế.
Dân số toàn thành phố năm 2015 đạt 1.967.300 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên nhỏ hơn 1%/năm, trong đó lực lượng lao động đạt
1.163.300 người tăng 74.300 người tương đương 6,8% so với năm 2011 (1.089.000 người).
1.1.2.2.
Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khá, ước bình quân 5 năm 2011 – 2015 tăng 9,07%/năm, tuy không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề
ra song vẫn duy trì mức tăng gấp 1,5 lần bình quân cả nước. Quy mô kinh tế của thành phố từng bước được mở rộng, so với năm 2011 giá
trị GDP năm 2015 tăng gấp 1,62 lần.Tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước tăng từ 2,7% năm 2010 ước tăng lên 3,5% năm 2015.
Bảng 1.1: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) qua các năm tại Hải Phòng
Chỉ tiêu
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế thành phố cơ bản được duy trì đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát huy tiềm năng, lợi thế của thành
phố.
Bảng 1.2: Tỷ trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Hải Phòng
Đơn vị: %
Nhóm ngành
Nông, lâm nghiệp và thủy
sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ
Năm 2011
Năm
2012
Năm
2013
9,7
9,13
8,53
8,03
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
19
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
năm. Trong sản xuất nông nghiệp, xuất hiện các mô hình sản xuất theo chuỗi, sản xuất VietGAP, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh
học, hiệu quả tăng từ 10 – 30% so với sản xuất đại trà, nhiều mô hình gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ.
1.1.2.4.
Chuyển dịch cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng chuyển dịch của cơ cấu sản xuất.
Bảng 1.3: Tỷ trọng cơ cấu lao động theo ngành tại Hải Phòng
Đơn vị: %
Nhóm ngành
Nông, lâm nghiệp và thủy
sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ
Năm 2011
Năm
2012
(Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng)
Từ bảng trên, dễ thấy cơ cấu lao động ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm qua các năm, năm 2015 chiếm 26,03% giảm 3,06%
so với năm 2011 (26,09%). Nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ có chiếm tỷ trọng lao động lớn 73,97% năm 2015. Cơ cấu lao động
chuyển dịch theo hướng tích cực điều này chứng tỏ cơ cấu ngành công nghiệp – dịch vụ của thành phố ngày càng phát triển, ngày càng có
nhiều nhà đầu tư đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp và dịch trên địa bàn nhất là ngành dịch vụ.
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.5.
20
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
Tình hình hoạt động thương mại
Hoạt động thương mại phát triển khá mạnh và toàn diện, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng
18,52%/năm. Thực hiện tốt kế hoạch cung ứng, dự trữ hàng hóa và thực hiện bình ổn giá các mặt hàng thiết yếu trên địa bàn thành phố.
Tích cực triển khai chương trình hành động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, các
khu, các cụm công nghiệp và huyện đảo. Hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại từng bước được nâng cấp và phát triển khá mạnh tạo nên các
kênh lưu thông phân phôi hàng hóa chủ yếu trên thị trường nội địa.
Hoạt động xuất nhập khẩu của thành phố những năm qua phát triển theo hướng tích cực cả về mặt hàng xuất khẩu, thị trường và giá
trị kim ngạch
Bảng 1.4: Tình hình kim ngạch xuất nhập khẩu tại Hải Phòng
Tỷ USD
1,59
1,71
2,01
2,40
2,92
Tỷ USD
%
2,41
13,10
2,70
11,93
3,06
13,29
3,57
16,54
4,32
21,08
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
21
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
1,9% so với tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm mạnh so với giai đoạn 2006 – 2010 với tỷ lệ nhập siêu là 16,3% so với tổng kim ngạch xuất
khẩu. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu có chuyển biến tốt, các sản phẩm hàng điện tử, dây điện và cáp điện tăng trưởng khá bên cạnh các sản
phẩm truyền thống như hàng dệt may, giày dép; số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tăng nhanh, thị trường xuất khẩu mở rộng với
118 quốc gia và vùng lãnh thổ, không chỉ khu vực ASEAN, Đông Bắc Á, EU mà còn vươn tới thị trường Hoa Kỳ, Bắc và Nam Mỹ. Mặt
hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI ngày càng phong phú và đa dạng, có nhiều sản phẩm mới tham gia xuất khẩu, nhiều sản phẩm
công nghệ cao thâm nhập được các thị trường khó tính, đòi hỏi khắt khe về mặt chất lượng.
1.1.3. Đánh giá tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng thời gian qua
1.1.3.1.
Những kết quả đạt được
Giai đoạn 2011 – 2015 bối cảnh tình hình có những khó khăn và thuận lợi, thách thức đan xen, tuy nhiên với sự phối hợp của Đảng
bộ nhân dân thành phố và sự giúp đỡ của trung ương và Chính phủ, quân và dân thành phố Hải Phòng đã tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn
đấu, năng động sáng tạo, đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chủ động nắm vững thời cơ, khắc phục nhiều khó khắn, thách thức
giành đươc những thành tựu quan trọng và khá toàn diện.
Kinh tế thành phố từng bước vượt qua khó khăn trong những năm đầu kế hoạch, duy trì tốc độ tăng trưởng khá, quy mô kinh tế được
mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Hải Phòng là trung tâm dịch vụ lớn của vùng Duyên hải
Bắc Bộ, GDP ngành dịch vụ đứng thứ hai trong Vùng đồng bằng sông Hồng, sau Hà Nội; là đầu mối vận tải lớn nhất của khu vực phía Bắc
về xuất, nhập khẩu hàng container, xăng dầu và các loại hàng hóa khác đến và đi các nước trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Công
nghiệp thành phố đứng thứ 7 về giá trị sản xuất so với cả nước, đứng thứ ba miền Bắc (sau Hà Nội, Bắc Ninh). Hải Phòng đang trở thành
được cải thiện, góp phẩn ổn định tình hình an ninh chính trị trên địa bàn. An sinh xã hội được đảm bảo, đẩy mạnh cải cách hành chính, gắn
chặt với đồng bộ tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hiện dân chủ ở cơ sở.
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3.2.
23
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế, yếu kém
Kinh tế phát triển chưa bền vững, quy mô kinh tế, sức tác động lan tỏa của một thành phố trung tâm vũng duyên hải Bắc Bộ còn hạn
chế
Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như: tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất nông lâm thủy sản không
hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra, Tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố, của nhóm ngành dịch vụ và nhất là nhóm ngành công nghiệp
– xây dựng tuy cao hơn bình quân chung cả nước nhưng đạt thấp so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, tốc độ
tăng trưởng GDP các năm 2012, 2013, 2014 là khá thấp; tốc độ tăng trưởng GDP năm 2013 đạt 7,15% thấp hơn cả năm 2009 (mặc dù chịu
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng tốc độ tăng trưởng GDP năm 2009 vẫn đạt ở mức 7,57%). Quy mô kinh tế thành
phố còn nhỏ, sức tác động lan tỏa của sự phát triển chưa thực sự xứng tầm với vai trò là cực tăng trưởng trong vùng kinh tế trọng điểm phía
Bắc. Việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đổi mới mô hình tăng trưởng của kinh tế thành phố mới đạt kết quả bước đầu. Tiềm
năng phát triển cảng biển, kinh tế biển, đảo chưa được phát huy.
Chất lượng kinh tế chưa thực sự đảm bảo tính bền vững, yếu tố năng suất lao động tổng hợp (TFP) chưa đóng góp nhiều vào tăng
trưởng, chủ yếu vẫn dựa vào đầu tư mở rộng và tăng số lượng lao động. Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm ứng dụng công
nghệ cao trong tổng GDP còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng còn chậm và
thời, lúng túng, thiếu hiệu quả, đặc biệt trong giải quyết các vụ việc cấp bách, đột xuất, bất ngờ; công tác đào tạo, tập huấn về an toàn an
ninh thông tin vẫn còn hạn chế.
Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, còn tình trạng tái nghèo, một bộ phận người nghèo, hộ nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại
trông chờ và sự hỗ trợ của nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Số lượng người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp và số người được
hưởng bảo hiểm thất nghiệp đều tăng, tạo thêm nhiều áp lực trong giải quyết các vấn đề xã hội. Đời sống một bộ phận nhân dân, nhất là
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B
Chuyên đề tốt nghiệp
25
GVHD: PGS.TS.Từ Quang Phương
khu vực nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn; mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở một số địa phương chưa được quan tâm
giải quyết hài hòa, đúng mức.
1.2.
Thực trạng về công tác thẩm định chủ trương đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước tại Sở Kế hoạch và Đầu tư
thành phố Hải Phòng thời gian qua.
1.2.1. Tổng quan về hoạt động đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn thành phố Hải Phòng thời gian qua
1.2.1.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư phát triển
Trong những năm qua, kinh tế Hải Phòng phát triển nhanh chóng, phát huy vai trò là cửa chính ra biển và cực tăng trưởng quan trọng
của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đang từng bước trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ lớn và trọng điểm của cả
nước. Nguồn vốn đầu tư phát triển đóng vai trò vô cùng quang trọng trong qúa trình phát triển kinh tế của thành phố.
Bảng 1.5: Tình hình vốn đầu tư toàn xã hội tại Hải Phòng qua các năm
43,49
41,92
42,59
41,24
(Nguồn: Báo cáo Kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng qua các năm)
Nhìn chung, giai đoạn 2011-2015, vốn đầu tư phát triển của Hải Phòng đều ở mức cao và tăng trưởng ổn định, chiếm tỷ trọng lớn so
với GDP của thành phố . So với năm 2011, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Hải Phòng đã đạt 48.800,6 tỷ đồng (gấp 1,375 lần). Bên cạnh
đó, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội của Thành phố luôn duy trì nhịp độ trên 6%/ năm.
SV: Ngô Thị Mai Anh
Lớp: Kinh tế đầu tư 55B