BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------@&?--------
TRẦN THỊ THÙY LINH
SO SÁNH NHÂN VẬT DAO TIÊN
TRONG HOA TIÊN CỦA NGUYỄN HUY TỰ
VỚI THÚY KIỀU TRONG TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN DU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------@&?--------
TRẦN THỊ THÙY LINH
SO SÁNH NHÂN VẬT DAO TIÊN
TRONG HOA TIÊN CỦA NGUYỄN HUY TỰ
VỚI THÚY KIỀU TRONG TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN DU
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam trung đại
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
CỦA NGUYỄN DU...........................................................................................................................1
HÀ NỘI - 2014...................................................................................................................................1
SO SÁNH NHÂN VẬT DAO TIÊN .....................................................................................................2
TRONG HOA TIÊN CỦA NGUYỄN HUY TỰ ......................................................................................2
VỚI THÚY KIỀU TRONG TRUYỆN KIỀU ...........................................................................................2
CỦA NGUYỄN DU...........................................................................................................................2
HÀ NỘI - 2014...................................................................................................................................2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thế kỉ XVIII – XIX được đánh giá là giai đoạn nền văn học Việt
Nam phát triển rực rỡ và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Từ việc sử dụng các
thể loại tiếp thu từ văn học Trung Hoa theo hướng dân tộc hóa, ông cha ta đã
từng bước sáng tạo nên những thể loại mang đặc trưng riêng. Và khi nền văn
học đã trưởng thành, các thể loại nội sinh xuất hiện đánh dấu một giai đoạn
mới cho sự phát triển của văn học dân tộc. Đặc biệt, đến thế kỉ XVIII – XIX
văn học Việt Nam trung đại xuất hiện hàng loạt các thể loại nội sinh mang
dấu ấn và tâm hồn Việt như: ngâm khúc, truyện thơ, hát nói… đánh dấu thời
kỳ phát triển đỉnh cao của văn học dân tộc. Trong đó, truyện Nôm là thể loại
đạt được nhiều thành tựu rực rỡ nhất. Sự hình thành và phát triển của thể loại
truyện Nôm đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc của nền văn học viết dân tộc.
1.2. Tiên và Truyện Kiều là hai tác phẩm có vị trí đặc biệt trong thể loại
truyện Nôm. Hoa Tiên là tác phẩm mở đầu, còn Truyện Kiều là tác phẩm đỉnh
cao của thể loại. Giá trị tư tưởng và thành tựu nghệ thuật của hai tác phẩm đã
tạo nên dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của thể loại truyện Nôm. Và
giá trị tư tưởng cũng như thành tựu nghệ thuật của hai tác phẩm được thể hiện
tập trung ở hai nhân vật chính Dao Tiên và Thúy Kiều. Tìm hiểu về hai nhân
vật chúng ta có thể hiểu thêm về số phận, cuộc đời, phẩm cách và tâm hồn của
người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Đồng thời qua đó, các tác
Các nhà nghiên cứu tìm thấy ở Hoa Tiên và trong cuộc đời nhân vật
Dao Tiên câu chuyện tình yêu tự do lãng mạn, phóng khoáng với hàm ý ca
ngợi. Trong câu chuyện tình yêu ấy các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy bài
học về luân lý đạo đức, đạo nghĩa. Khi bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật
trong Hoa Tiên, các nhà nghiên cứu đã khẳng định tài năng nghệ thuật của tác
giả Nguyễn Huy Tự được thể hiện cụ thể qua nhân vật Dao Tiên…
Trong bài tựa viết cho Hoa Tiên năm 1843, Cao Bá Quát cho rằng nội
dung của Hoa Tiên tuy bắt đầu từ câu chuyện tình yêu nhưng cũng đã diễn đạt
2
được trung, hiếu, lễ, tiết : “Câu chuyện bắt đầu từ gặp gỡ lứa đôi, tây riêng
ân ái mà đạt đến đạo nghĩa cha con, nghĩa vua tôi, ý nhã thân thiết bạn bè,
tình thân yêu mến an hem, lớn thì việc triều đình, quân cơ, lễ khen trung
khuyên tiết, nhỏ thì nhân tình thế thái, những điều tinh vi về phong khí cỏ
cây”[55, 9].
Lại Ngọc Cang ở phần khảo luận trong cuốn Truyện Hoa Tiên (1961)
đã nhận thấy câu chuyện tình của nàng Dao Tiên “ca ngợi tình yêu phóng
khoáng của con người trong lòng chế độ phong kiến ngột ngạt những giáo
điều khe khắt”[72,34]. Trong xã hội phong kiến ấy, tình yêu tự do, phóng
khoáng của Dao Tiên và Phương Châu như đem đến một luồng gió mới. Cũng
trong bài viết này, Lại Ngọc Cang cho rằng thông qua cuộc đời và số phận
của nhân vật Dao Tiên, Hoa Tiên đã “nêu lên một bài học lớn của Khổng giáo
về ba mặt khác nhau: chữ trung, chữ hiếu, chữ trinh” [72,41]. Có thể nói, với
tình yêu tự do lãng mạn, phóng khoáng nhưng ẩn sau đó là những bài học về
luân lý đạo đức, Hoa Tiên đã “mở đầu cho một con đường không phải là
không có ý nghĩa lớn trong đời sống tinh thần của xã hội phong kiến nước ta
lúc đó”[53,213]. Về phương diện nghệ thuật của Hoa Tiên, Lại Ngọc Cang đã
chỉ ra thành công lớn nhất của Hoa Tiên là ở việc xây dựng nhân vật, đặc biệt
là nhân vật Dao Tiên: “mỗi nhân vật của Hoa Tiên có những cá tính riêng
Kiều. Nhóm thứ nhất: lấy luân lý đạo đức làm chuẩn mực để định giá nhân
vật Thúy Kiều. Tiêu biểu là Minh Mạng, Tự Đức, Nguyễn Văn Thắng,
Nguyễn Công Trứ…
Vua Minh Mạng trong bài Thánh Tổ Nhân Hoàng đế ngự chế tổng
thuyết được các quan ở viện Hàn lâm chép lại (1820) đã bình giá về Kiều:
“Bạch nhân can tâm, xử nữ thủ thân chi tiết, cẩm y hiệu thuận, trượng
phu vị quốc chi tâm.
Phàm thập ngũ niên chi hý diệp du phong, bất quan ý tướng, tức thiên
lý chi cuồng phong sậu vũ, vưu kiến bình sinh.”
4
(Dùng dao nhọn sát thân, lòng trinh nữ giữ mình tiết lớn, khuyên áo
gấm qui thuận, bậc trượng phu vì nước lòng ngay.
Mười lăm năm bướm lại ong qua, không từng để ý, nghìn muôn dặm
mưa dồn gió dập, vẫn giữ lòng trung.) [45;83,84]
Nguyễn Công Trứ lại có cái nhìn khác về nhân vật Thúy Kiều. Ông cho
rằng Thúy Kiều chẳng có hiếu hạnh, tiết nghĩa gì cả. Nàng chỉ là một ả lẳng
lơ:
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm [ 61,331].
Nhóm thứ hai: lấy sự đồng cảm, vẻ đẹp của tình người và văn chương
trong tác phẩm làm chuẩn mực để định giá. Tiêu biểu: Phạm Quý Thích,
Mông Liên Đường chủ nhân, Chu Mạnh Trinh…
Mộng Liên Đường chủ nhân đã lý giải nỗi đoạn trường đầy xót xa oán
hận của nàng Kiều: “Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê,
đó là căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy” [12,20].
Chu Mạnh Trinh cũng lý giải nỗi đau khổ của Kiều, nhưng theo ông
nguyên nhân là do những bất công xã hội: “Ôi! Giả sử ngay khi trước, Liêu
vật Thúy Kiều, Đào Duy Anh đã nêu lên ý kiến của mình: “Ở giữa hai cực
đoan ấy, ta hãy khoan khen chê mà cứ bình tâm xét tâm lý Thúy Kiều như
Nguyễn Du miêu tả” [1,68]. Đánh giá về Thúy Kiều, ông cho rằng qua ngòi
bút của Nguyễn Du “Thúy Kiều đã biến thành một người con gái sắc, tài ,
đức hoàn toàn” [1,68]. Và theo Đào Duy Anh, nàng Kiều của Nguyễn Du là
người đa tình, đa cảm đồng thời cũng là “người con gái thông minh, xử sự
bao giờ cũng sáng suốt và hợp lẽ” [1,70]…
Nguyễn Bách Khoa thời kỳ này có hai công trình nghiên cứu về Truyện
Kiều là Nguyễn Du và Truyện Kiều; Văn chương Truyện Kiều. Trong các
công trình nghiên cứu này ông đi theo xu hướng xã hội học dung tục. Ông cho
rằng Thúy Kiều có “một tâm hồn ốm yếu bi sầu, một bộ phận thần kinh hoảng
hốt” [30,151], và lí giải nguyên nhân của căn bệnh: “Thúy Kiều là một con
6
bệnh ưu uất. Bệnh này nguyên nhân một phần ở phủ tạng suy nhược của nàng
không đủ sức chịu đựng sự nảy nở mãnh liệt của cơ quan sinh dục, một phần
cũng ở cái đè nén của luân lý Nho giáo đối với sức phát tiết tính dâm đãng
của nàng. Nếu nàng chỉ theo tiếng gọi của cơ quan sinh dục mà hành động
thì có lẽ bệnh ưu uất kia cũng nhẹ đi nhiều. Đằng này nàng lại là con nhà gia
giáo” [30,157].
Trong công trình Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du, Hoài Thanh đã đi theo hướng phê bình khoa học macxit. Ông
đánh giá sức sống của Kiều “đã làm rạn nứt cái khuôn chật hẹp của phong
kiến”, thân thế trầm luân của Kiều “là một lời tố cáo những gì nhơ nhớp, độc
ác trong trật tự phong kiến”. Cuộc đời Kiều đã bị dày vò đến tột bực. Và nàng
“là hiện thân cho sự đau khổ vô biên của không biết bao nhiêu con người
trong xã hội phong kiến xưa” [66,16]. Hoài Thanh lí giải nguyên nhân cuộc
đời bất hạnh của Kiều là do xã hội phong kiến gây ra.
Giai đoạn từ 1919 – 1954 việc nghiên cứu về nhân vật Thúy Kiều cũng
Truyện Kiều và Nguyễn Du như: Đọc lại Truyện Kiều của Vũ Hạnh; Khảo
luận về Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Khoa, Doãn Quốc Sĩ, Việt Tử;
Chân dung Nguyễn Du, khảo luận của nhiều tác giả…Trong các cuốn sách
này, các nhà nghiên cứu chịu ảnh hưởng của một vài triết thuyết phương Tây
và áp dụng vào nghiên cứu. Do vậy, họ nhìn Truyện Kiều với cái nhìn khác lạ,
sai lạc đi. Nổi bật nhất là sự ảnh hưởng quan niệm triết học và văn học hiện
sinh trong việc nghiên cứu Truyện Kiều nói chung. Trần Bích Lan trong bài
Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do cho rằng xưa nay mọi người đều
đồng ý với nhau về một điểm thuyết định mệnh là triết lý nền tảng của Truyện
Kiều. Nhưng theo ông “có một hoàn cảnh trớ trêu nhưng cũng có một Thúy
Kiều tự do lựa chọn con đường đi của mình trước hoàn cảnh đó…Nếu ta gọi
hoàn cảnh đó là định mệnh thì chính Kiều đã chọn định mệnh. Nàng đã đem
lại cho định mệnh giá trị của định mệnh bởi vì nếu Kiều không tự ý bán mình
chuộc cha thì làm gì có định mệnh cho đời này…Tự do của Kiều đã đẻ ra
8
định mệnh” [35,107]. Nguyễn Khoa trong Khảo luận Đoạn trường tân thanh
nhận xét Kiều “chỉ là nạn nhân của chế độ chính trị phong kiến…bấy nhiêu
nỗi đoạn trường nhục nhã suốt mười lăm năm chẳng qua là bởi xã hội bất
công” [28,211].
* Từ 1975 – nay: Giai đoạn này, một số lí thuyết nước ngoài như lí thuyết về
thông tin, cấu trúc, kí hiệu học, loại hình học, thi pháp, tiếp nhận văn học…
được các nhà nghiên cứu tiếp thu, vận dụng và đạt dược nhiều thành tựu.
Nguyễn Trung Hiếu trong bài viết Truyện Kiều trong yêu cầu đổi mới
của khoa nghiên cứu văn học hiện nay cho rằng bi kịch của Kiều là bi kịch
của sắc tài. Kiều có “Sự linh nhạy của một ý thức đối với số phận, khả năng
và vị trí làm người” [14,131]. Nguyễn Lộc trong cuốn Văn học Việt Nam nửa
cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX nhận xét Thúy Kiều là con người tượng
trưng cho tinh hoa, cho cái đẹp, luôn tự ý thức và vươn lên đỉnh cao của giá
Con người ấy đã bị giày vò đến tột bực. Đó là hiện thân của sự đau khổ vô
biên của không biết bao nhiêu con người trong xã hội phong kiến xưa. Trong
những câu truyện khác như Lục Vân Tiên, như Hoa Tiên, cũng có những con
người không đáng bị đày đọa mà bị đày đọa. Nhưng rốt cuộc bao giờ cũng có
sự đền bồi lại và đền bồi một cách xứng đáng”[66,457].
Trần Nho Thìn trong Triết lý Truyện Kiều trong bối cảnh văn hóa xã
hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX đã nhận định nhân vật phụ nữ
trong văn học có một quá trình vận động, và ông cũng khẳng định cảm hứng
hồng nhan bạc mệnh và tài mệnh tương đố trong Hoa Tiên và một số tác
phẩm khác quy tụ và thể hiện đậm nét trong Truyện Kiều: “ Có thể nói, nhân
vật phụ nữ trong văn học Việt Nam từ cuối thế kỉ XVIII sang thế kỉ XIX đã
qua một quá trình vận động từ những phụ nữ quý tộc thuộc lớp trên của xã
hội như chinh phụ, cung nữ, những người phụ nữ trong các tiểu thuyết tài tử giai nhân như Dao Tiên ( truyện Hoa Tiên), Quỳnh Thư (Sơ kính tân trang),
Trần Kiều Liên (Phan Trần) sang các phụ nữ ả đào. Cảm hứng hồng nhan
bạc mệnh, tài mệnh tương đố lúc đầu lúc đầu thể hiện một cách không thật
10
đậm nét qua người chinh phụ, cung nữ cuối cùng đã chụm vào nhân vật kỹ
nữ, ả đào. Từ Thúy Kiều, một người phụ nữ tài hoa đã bị biến thành một kỹ
nữ - đến các cô ả đào trong hát nói của Dương Khuê ở mãi cuối thế kỉ XIX có
hẳn một mối liên hệ”[41, 606]. Theo Trần Nho Thìn nhân vật phụ nữ từ Dao
Tiên đến Thúy Kiều là quá trình vận động của quan niệm, thể loại và nghệ
thuật xây dựng nhân vật, điều này đồng nghĩa với việc tác giả khẳng định
bước tiến của Nguyễn Du khi xây dựng nhân vật Thúy Kiều so với Nguyễn
Huy Tự xây dựng nhân vật Dao Tiên.
Hầu hết các tác giả khi bàn đến hai tác phẩm đều có ý cho rằng từ nhân
vật Dao Tiên đến nhân vật Thúy Kiều là một sự vận động trong việc xây dựng
hình tượng người phụ nữ của văn học Việt Nam. Tuy nhiên chưa có công
trình đi sâu nghiên cứu, so sánh hai nhân vật một cách riêng biệt.
và Thúy Kiều ở một số phương diện cơ bản của hình tượng văn học.
- Lí giải, khái quát về những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác
giả Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Du khi xây dựng hai nhân vật.
- Góp phần làm rõ quá trình vận động từ quan niệm, thể loại đến nghệ
thuật xây dựng nhân vật.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: chúng tôi áp dụng phương pháp này để khảo sát và
thống kê ngôn ngữ độc thoại, đối thoại của nhân vật, thành ngữ trong ngôn
ngữ đối thoại….
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: áp dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp để đưa ra cái nhìn khái quát trong việc so sánh hai nhân vật Dao tiên
và Thúy Kiều.
- Phương pháp so sánh: vận dụng phương pháp này chúng tôi tìm ra những
nét tương đồng cũng như những điểm khác biệt giữa hai nhân vật Dao Tiên và
Thúy Kiều trong hai tác phẩm truyện Nôm tài tử giai nhân.
12
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như phương
pháp hệ thống, phương pháp liên ngành….Các phương pháp này được chúng
tôi sử dụng kết hợp đan xen trong quá trình nghiên cứu.
13
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, nội dung của luận
văn bao gồm ba chương:
Chương I: Mối quan hệ giữa Hoa Tiên và Truyện Kiều
những đặc điểm nổi bật của thể loại truyện Nôm “là có cốt truyện, là tính tự
sự và tính có vần”[51, 28].
Các nhà nghiên cứu đã nêu lên nhiều tiêu chí phân loại truyện Nôm.
Trong cuốn Thi pháp cốt truyện truyện thơ Nôm và Truyện Kiều, Nguyễn Thị
Nhàn phân loại truyện Nôm thành các nhóm dựa theo tiêu chí đề tài cảm
15
hứng. Theo đó, truyện Nôm được chia thành năm nhóm: loại truyện có tính
chất lễ nghi tôn giáo, loại truyện tài tử giai nhân, loại truyện thế sự, loại
truyện lịch sử, loại truyện luân lí đạo đức.
Chủ đề của truyện Nôm tài tử giai nhân lấy số phận người phụ nữ làm
cảm hứng chính. Qua đó, các tác giả cảm thông với khát vọng yêu đương tự
do, quyền được hưởng hạnh phúc, nhu cầu giải phóng tình cảm, giải phóng cá
nhân. Đồng thời truyện Nôm tài tử giai nhân cũng có giá trị khuyên răn con
người phải sống có đạo lí, có nghĩa có tình …
Như vậy truyện Nôm tài tử giai nhân là một tiểu loại của thể loại truyện
Nôm được phân loại dựa trên tiêu chí đề tài, cảm hứng. Đề tài của truyện
Nôm tài tử giai nhân là tình yêu nam nữ giữa tài tử và giai nhân.
1.1.2. Cơ sở hình thành và phát triển
1.1.2.1. Cơ sở lịch sử xã hội
Từ thế kỉ XVI – XVIII chế độ phong kiến ở nước ta bước vào giai đoạn
khủng hoảng, những cuộc chiến liên tiếp xảy ra. “Mạc đoạt quyền Lê, Lê –
Mạc phân tranh, Nguyễn cát cứ Thuận Hóa, Trịnh đoạt quyền Lê, Nguyễn –
Trịnh phân tranh”[41,478]. Thêm vào đó là những cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ
của nông dân trong hai thế kỉ XVII và XVIII, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây
Sơn. Tình hình chính trị nhiều biến động khiến cho các tệ nạn xã hội nảy sinh
ở khắp nơi, đồng tiền trở thành thế lực chi phối không nhỏ đến đời sống xã
hội. Nền tảng đạo đức cũ bị phá vỡ, quan lại suy đồi. Tình trạng mua quan
bán tước ngày càng trở nên phổ biến…
cảnh lịch sử cho thấy ý thức hệ tư tưởng chính thống đã suy yếu dần dẫn đến
nhân dân vùng dậy. Trào lưu tư tưởng dân chủ trong xã hội ngày càng lớn
mạnh cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tư tưởng nhân đạo, từ đó tạo ra môi
trường phi chính thống. Trong hoàn cảnh ấy, tầng lớp nhà nho tài tử ra đời.
Họ viết về những vấn đề vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo chính thống, những
điều mắt thấy tai nghe.
Cùng với những biến đổi về khuynh hướng tư tưởng là những biến đổi
về văn hóa. Tiền đề văn hóa đầu tiên góp phần hình thành nên truyện Nôm đó
chính là nền văn hóa dân tộc. Theo Nguyễn Thị Nhàn trong cuốn Thi pháp
17
cốt truyện, truyện thơ Nôm và Truyện Kiều nhận định: “Đời sống tinh thần
dân tộc trong những thế kỉ XVII – nửa đầu XIX có những biến chuyển. Con
người có xu hướng tìm về văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian giữ vai trò
dân chủ hóa văn hóa bác học”[51,35]. Thời trung đại, những khát vọng trần
thế của con người thường bị hạn chế, cấm kị bởi lễ giáo. Vì vậy tìm về với
môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian giúp con người có thể trở về với cuộc
sống tự nhiên và dân chủ hơn. Bởi lẽ “dân gian dùng tiếng cười để giải
thiêng, phàm tục hóa và suồng sã hóa những chuẩn mực chính thống. Quy
luật này diễn ra dường như có tính phổ quát trên thế giới”[51,36]. Không khí
dân chủ trong những sinh hoạt văn hóa dân gian đã khích lệ yếu tố cá nhân
lên tiếng, khẳng định quyền được hưởng những niềm vui trần thế mà bấy lâu
nay vẫn bị lễ giáo phong kiến ngăn cấm.
Sự giao lưu văn hóa bên ngoài cũng là một tiền đề thúc đẩy sự ra đời
của thể loại truyện Nôm. Nước ta có sự giao lưu văn hóa với Trung Hoa, Ấn
Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á từ rất sớm qua những con đường
khác nhau, đặc biệt là với văn hóa Trung Hoa. Nền văn học Trung Hoa đã trở
thành “trung tâm kiến tạo văn hóa vùng” và trở thành nguồn tư liệu dồi dào
cho các nền văn học ra đời muộn hơn. Từ thế kỉ XVII đến XX, tiểu thuyết cổ
thần và tình cảm riêng tư của cá nhân con người. Như vậy, những tiền đề lịch
sử – xã hội, văn hóa – tư tưởng cũng như các cơ sơ văn học đã chuẩn bị đầy
đủ điều kiện cho loại hình truyện Nôm ra đời.
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của truyện Nôm tài tử giai nhân
1.1.3.1. Đặc điểm nội dung
Chủ đề của truyện Nôm tài tử giai nhân xoay quanh cảm hứng ngợi ca
tình yêu tự do. Đề tài là tình yêu nam nữ giữa tài tử và giai nhân. Truyện Nôm
tài tử giai nhân hay còn gọi là loại truyện lãng mạn, bởi đó là tình cảm lãng
mạn của cá nhân con người qua câu chuyện tình ái. Đề tài truyện Nôm tài tử
giai nhân xoay quanh câu chuyện tình yêu nam nữ trong xã hội trung đại đã
vượt ra ngoài những ràng buộc của lễ giáo, quan niệm của đạo đức xã hội.
19
Truyện Nôm tài tử giai nhân xuất hiện khi tư tưởng chính thống của xã hội
phong kiến bước vào giai đoạn sụp đổ, tư tưởng dân chủ ngày càng phát triển
mạnh mẽ khiến cho con người cá nhân ngày càng được đề cao. Thông qua số
phận nhân vật trong tác phẩm của mình, các tác giả muốn ngợi ca tình yêu tự
do và đòi lại quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc cho con người, đặc
biệt là người phụ nữ.
Những truyện Nôm tài tử giai nhân thường có chung cốt truyện, đó là
câu chuyện tình yêu giữa một đôi nam nữ thanh niên, trai tài gái sắc. Trong
cuốn Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử đã đưa ra mô hình hóa cốt truyện
của loại truyện tài tử giai nhân. Trước tiên là miêu tả về chàng trai và cuộc
gặp gỡ của đôi tài tử giai nhân: “Một công tử tuổi trẻ tài cao, bảy bước nên
thơ, chọn bạn tình khắt khe nên hai mươi tuổi mà chưa có vợ. Một hôm đi
chơi bỗng gặp một cô nương sau khóm hoa ở một vườn nọ, đẹp như người
trời. Bắt chuyện với nàng, nàng bẽn lẽn không dám ngẩng mặt, chỉ lặng lẽ
đắm đuối nhìn theo. Làm thơ gửi tặng nàng thì nàng không từ chối, hai người
bèn cùng nhau đính ước trăm năm”[61,40]. Chàng trai phong lưu tuấn tú, tuổi
thời gian diễn tiến từ đầu đến cuối theo thứ trước sau phân minh.
Trong lần gặp gỡ đầu tiên, đôi tài tử giai nhân thường gặp nhau trong
một khung cảnh trữ tình, thiên nhiên tươi đẹp. Cũng có khi đôi tài tử giai nhân
gặp nhau nơi khung cảnh vắng vẻ, chỉ có hai người, nhưng phổ biến nhất là
gặp nhau khi có sự hiện diện của những người khác. Gặp gỡ nhau lần đầu, họ
lập tức có tình cảm với nhau. Sau đó họ trao cho nhau những kỷ vật ước hẹn,
làm lễ thề nguyền gắn bó. Đó là cảnh thề thốt dưới ánh trăng của Kim Trọng
và Thúy Kiều, là cảnh hẹn ước dưới trăng của Phương Châu và Dao Tiên. Cốt
truyện sau đó được tiếp tục phát triển theo hướng tai biến bất ngờ ập đến, chia
rẽ đôi trai tài gái sắc. Trải qua nhiều sóng gió, những thăng trầm, cuối cùng
đôi lứa cũng vượt qua những khó khăn và được đoàn viên bên nhau. Người
con trai thành đạt trên con đường công danh, thường là thi đậu, làm quan to,
được cử đi đánh giặc, thắng trận hiển vinh trở về. Người con gái vẫn thủy
21