1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Nghèo đói là một vấn đề mang tính toàn cầu, luôn tồn tại trong xã hội.
Những năm gần đây, nhờ có nhiều chính sách đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng
trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Song vẫn còn
một bộ phận không nhỏ người dân nói chung và người nông dân nói riêng vẫn đang
phải chịu cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc
sống. Sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra mạnh, đây là vấn đề cần được xã hội
quan tâm. Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, xã hội không ổn định, do
vậy giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực để phát triển kinh tế xã hội. Việt Nam
là một trong những nước nghèo đói trên thế giới, đặc biệt là hiện nay trong giai
đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.
Trong thời gian vừa qua cũng như trong giai đoạn tới, nghèo đói của Việt
Nam đang tập trung chủ yếu các tỉnh đồng bào dân tộc thiểu số, nông dân, nông
thôn, tập trung chủ yếu vào các vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng
Sông Cửu Long và Tây Trung Trung bộ.
Chính vì lẽ đó, mục tiêu xóa đói, giảm nghèo là một trong những giải pháp
quan trọng hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta. Trong những
năm qua Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ người
nghèo và các xã nghèo vươn lên thoát nghèo. Một trong những chính sách đó là
chính sách tín dụng ưu đãi. Ngày 4/10/2002, Chính phủ đã có Nghị định số
78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Đồng thời Thủ tướng chính phủ có quyết định số 131/TTg thành lập Ngân hàng
Chính sách xã hội (CSXH) trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo.
Ngày 01/01/2003, Ngân hàng CSXH đi vào hoạt động. Đối tượng của Ngân hàng
CSXH là hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác do Thủ tướng
Chính phủ quyết định.
Theo Điều 5, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ,
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) và các tổ chức chính trị - xã hội (4 tổ
Việt Nam theo phương thức ủy thác qua Hội Nông dân tại tỉnh Hoà Bình”, luận
văn sẽ nghiên cứu và đề cập đến các vấn đề về cho vay hộ nghèo theo phương thức
ủy thác, đồng thời phân tích thực tế công tác quản lý cho vay hộ nghèo theo phương
thức ủy thác tại một địa phương, cụ thể là tỉnh Hòa Bình. Hơn thế, đề tài còn đưa ra
một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả của công tác quản lý cho vay hộ
nghèo theo phương thức ủy thác qua Hội Nông dân tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.
3
Là một tỉnh miền núi, có đông đồng bào dân tộc thiểu số, kinh tế chậm phát
triển, tỷ lệ hộ nghèo cũng khá cao. Ngay từ khi được Ngân hàng CSXH ủy thác, Hội
Nông dân tỉnh Hòa Bình đã chỉ đạo, tổ chức thực hiện và đã đạt được những kết quả
đáng ghi nhận. Đến 30/4/2016 số hộ còn dư nợ do Hội Nông dân Hòa Bình quản lý
là 28.617 hộ với tổng số tiền dư nợ đạt 604,599 tỷ đồng (đứng thứ 07/14 tỉnh, thành
Hội thuộc khu vực Trung du và miền núi phía Bắc); nợ quá hạn là 1,374 tỷ đồng
chiếm tỷ lệ 0,23%/tổng dư nợ.
Việc Hội Nông dân Việt Nam (HND) nói chung và Hội Nông dân tỉnh Hòa
Bình nhận ủy thác cho vay từ Ngân hàng CSXH đó góp phần cùng với chính quyền
đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Đảng, Nhà nước đến đúng đối tượng được thụ
hưởng, giúp người dân nghèo sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả thực hiện
thành công chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, nó giúp
cho Hội Nông dân làm tốt hơn công tác đoàn kết tập hợp nông dân vào tổ chức Hội,
xây dựng củng cố tổ chức Hội, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày
càng vững mạnh.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
2.1. Một số công trình nghiên cứu có liên quan
Vấn đề xóa đói, giảm nghèo và chương trình tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo
và các đối tượng chính sách khác đã được nhiều người nghiên cứu trên phạm vi cả
nước cũng như ở từng địa phương. Trong số các công trình đã công bố, liên quan trực
bản về đói nghèo, tín dụng đối với hộ nghèo. Phân tích đánh giá thực trạng và hiệu
quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng CSXH tỉnh Thanh Hóa, đồng thời đề
xuất một hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng hộ
nghèo tại Ngân hàng CSXH tỉnh Thanh Hóa.
- “Nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo tại chi nhánh Ngân hàng Chính
sách xã hội thành phố Hà Nội” (2007), luận văn thạc sỹ kinh tế của Đặng Thị
Phương Nam. Trong công trình này, tác giả đã nghiên cứu lý luận về chất lượng cho
vay hộ nghèo của Ngân hàng CSXH, phân tích thực trạng chất lượng cho vay hộ
nghèo của chi nhánh Ngân hàng CSXH thành phố Hà Nội, từ đó rút ra những kết
quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân hạn chế, giải pháp nâng cao chất
lượng cho vay hộ nghèo tại chi nhánh.
- “Cho vay hỗ trợ người nghèo tại tỉnh Tiền Giang thực trạng và giải pháp”
(2011), luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Anh Tuấn, bảo vệ tại Trường Đại học
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đã nêu lên khái quát về tình hình nghèo
đói của tỉnh Tiền Giang, phân tích thực trạng các chương trình cho vay hỗ trợ người
nghèo tại Tiền Giang, đánh giá kết quả xóa đói giảm nghèo đạt được, nêu lên được
những tồn tại và nguyên nhân trong 05 năm qua, từ đó làm cơ sở đưa ra định hướng
5
thực hiện. Trên cơ sở những định hướng đưa ra, đề tài đã đề xuất những giải pháp
và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả chương trình cho vay hỗ trợ người nghèo đối
với công tác xóa đói giảm nghèo tại Tiền Giang thời gian tới.
- “Nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo ở Ngân hàng Chính sách xã
hội Việt Nam” (2014), luận văn Thạc sỹ Kinh tế của Nguyễn Ngọc Hà, bảo vệ tại
Học viện Tài chính. Luận văn nghiên cứu những lý luận cơ bản về cho vay đối với hộ
nghèo, đánh giá thực trạng cho vay đối với hộ nghèo tại Ngân hàng CSXH đồng thời
đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ nghèo
tại Ngân hàng CSXH trong thời gian tới.
trình cũng đã cố gắng tìm kiếm những thiếu sót, bất cập trong quá trình cho vay tín
dụng ưu đãi để từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh và nâng cao
hiệu quả hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Đây là những nguồn tài liệu quý báu để chúng tôi kế thừa và tiếp tục phát triển.
Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến cho vay hộ nghèo
của Ngân hàng CSXH từ Trung ương đến các địa phương, tuy nhiên có rất ít những
công trình nghiên cứu liên quan đến mảng cho vay hộ nghèo theo phương thức ủy
thác qua các tổ chức chính trị - xã hội và đặc biệt là qua tổ chức Hội Nông dân tại
tỉnh Hòa Bình, vẫn còn phải rất quan tâm, nhất là với tư cách một luận văn thạc sỹ.
Còn rất nhiều khoảng trống mà tôi cần nghiên cứu như tổng lượng vốn nhận ủy thác
và doanh số cho người nghèo vay theo phương thức ủy thác ngày càng giảm, số lượt
hộ nghèo vay qua từng năm giảm, tỷ lệ nợ quá hạn chung của toàn tỉnh có xu hướng
giảm rất ít, chất lượng hoạt động của các Tổ TK&VV ngày càng yếu,...
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý cho
vay hộ nghèo của Ngân hàng CSXH Việt Nam theo phương thức ủy thác và phân
tích thực trạng quản lý cho vay hộ nghèo qua Hội Nông dân tại tỉnh Hòa Bình, luận
văn nhằm hướng tới mục đích đề xuất những giải pháp để hoàn thiện công tác quản
lý cho vay hộ nghèo qua Hội Nông dân tại tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Thực trạng quản lý cho vay hộ nghèo của
Ngân hàng Chính sách xã hội theo phương thức ủy thác qua Hội Nông dân tỉnh Hòa
Bình hiện nay ra sao? Hội Nông dân tỉnh Hòa Bình cần phải làm gì để tăng cường
quản lý cho vay hộ nghèo theo phương thức ủy thác?
Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu trên có vai trò quan trọng cả về mặt lý
luận và thực tiễn góp phần tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác quản
lý cho vay hộ nghèo theo phương thức ủy thác đồng thời đề xuất các giải pháp góp
phần nâng cao công tác quản lý cho vay hộ nghèo theo phương thức ủy thác tại Hội
Nông dân tỉnh Hòa Bình.
5.1.1. Khung nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu lý luận về quản lý cho vay hộ nghèo theo phương thức
ủy thác của Hội Nông dân và kinh nghiệm về tổ chức, quản lý vốn vay có tính ưu
đãi thực hiện ở một số nước, khu vực, vùng có điều kiện kinh tế tương đồng, tác giả
8
xây dựng khung nghiên cứu quản lý cho vay hộ nghèo theo phương thức ủy thác
của Hội Nông dân tỉnh Hòa Bình như sau:
QUẢN LÝ CHO VAY HỘ NGHÈO THEO PHƯƠNG THỨC ỦY THÁC
CỦA HỘI NÔNG DÂN TỈNH HÒA BÌNH
QUẢN LÝ CHO VAY HỘ NGHÈO THEO PHƯƠNG
THỨC ỦY THÁC
Chức năng Hội
Nông dân trong
chương trình nhận
ủy thác
Cơ chế quản lý
của chương trình
nhận ủy thác
Nội dung quản lý
chương trình
nhận ủy thác của
HND
tộc thiểu số sinh sống của tỉnh Hòa Bình. Còn huyện Cao Phong là huyện có số dư
9
nợ cao ở tỉnh Hòa Bình. Tác giả đã dùng các phương pháp nghiên cứu dưới đây để
hoàn thành luận văn này:
- Phương pháp thu thập thông tin.
Phương pháp PRA : Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu
của quá trình nghiên cứu. Thông qua việc đi thực địa quan sát, phỏng vấn các hộ,
cán bộ địa phương để có những thông tin về vấn đề nghiên cứu và vùng nghiên cứu.
Từ đó lên kế hoạch cho những công việc nghiên cứu tiếp theo và đưa ra những định
hướng giải quyết sơ bộ. Đánh giá nhanh nông thôn có người dân tham gia nhằm tìm
hiểu toàn bộ những yếu tố trong toàn bộ chương trình.
Thu thập thông tin thứ cấp: Chúng tôi tiến hành thu thập số liệu thứ cấp về
điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cơ cấu tổ chức của tỉnh Hội, tổ chức hoạt động
cho vay đối với hộ nghèo thông qua phương thức ủy thác của Hội Nông dân phòng
ban tỉnh, huyện, xã từ các báo cáo của tỉnh, huyện, xã.
Số liệu thứ cấp về những nội dung liên quan đến cho vay hộ nghèo qua
phương thức ủy thác, tín dụng ưu đãi từ NHCSXH… , cũng như các bài viết về tình
hình thực hiện chương trình cho vay hộ nghèo theo phương thức ủy thác của các tổ
chức khác như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh tại một số tỉnh
thành phố, cũng như ở nước ngoài, các nghiên cứu về chương trình này được chúng
tôi thu thập qua sách báo tạp chí, Internet, các nghiên cứu của một số tác giả…
Thu thập thông tin sơ cấp: Số liệu này được thu thập được qua điều tra phỏng
vấn một số chuyên viên Ngân hàng CSXH tỉnh Hòa Bình, Tổ trưởng và thành viên
Tổ Tiết kiệm và vay vốn; cán bộ tỉnh Hội, huyện Hội, Hội xã tham gia chương trình
cụ thể phỏng vấn:
+ 10 chuyên viên Ngân hàng CSXH; 15 Tổ trưởng Tổ TK&VV; 15 cán bộ
tỉnh Hội, huyện Hội, Hội xã.
hơn và sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng CSXH có hiệu quả hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý cho vay hộ nghèo
theo phương thức ủy thác.
Chương 2: Thực trạng quản lý cho vay hộ nghèo của Ngân hàng CSXH theo
phương thức ủy thác qua Hội Nông dân tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2013 - 2015.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý
cho vay hộ nghèo của Ngân hàng CSXH theo phương thức ủy thác qua Hội Nông
dân tỉnh Hòa Bình trong thời gian tới.
11
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
CHO VAY HỘ NGHÈO THEO PHƯƠNG THỨC ỦY THÁC
1.1. Một số khái niệm cơ bản và vai trò của cho vay hộ nghèo theo
phương thức ủy thác
1.1.1. Tín dụng và cho vay tín dụng ưu đãi
1.1.1.1. Tín dụng
Trong quá trình tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã phát sinh
những hiện tượng thiếu hụt hoặc thừa thãi về các nguồn lực để hoạt động và phát triển
nền kinh tế hàng hóa. Điều đó đòi hỏi nhu cầu cần được bù đắp lẫn nhau giữa sự thiếu
hụt và thừa thãi đó để đạt được sự cân bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
(SXKD) nhằm đảm bảo sự ổn định khi gặp các biến cố. Từ đó khái niệm tín dụng ra
đời, có rất nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng:
- Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn
nhau (tiền tệ hay hiện vật) trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.
Căn cứ theo các đối tượng được vay vốn tín dụng ưu đãi do Chính Phủ quy
định, tín dụng ưu đãi được chia thành các loại sau:
- Tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo: Hộ nghèo là những hộ được xác định là
chuẩn nghèo theo quy định của Chính phủ trong từng thời kỳ khác nhau. Tất cả
những hộ được xác định là hộ nghèo theo quy định của Chính phủ đều được vay
vốn theo quy định.
Lãi suất cho vay đối với hộ nghèo hiện nay là 0,55%/tháng, lãi suất nợ quá
hạn bằng 130% lãi suất cho vay. Mức cho vay đối với hộ nghèo tùy thuộc vào nhu
cầu vay vốn của hộ nghèo và tùy vào từng mục đích vay cụ thể nhưng mức vay tối
đa cho tất cả các mục đích là không quá 50 triệu đồng.
- Tín dụng ưu đãi cho Học sinh sinh viên (HSSV): Tất cả các HSSV có hoàn
cảnh khó khăn đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp (TCCN) và các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo qui
định của pháp luật đều được vay vốn ưu đãi của Chính phủ.
Lãi suất cho vay là 0,5%/tháng, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho
vay. Mức cho vay tối đa là 1.250.000 đồng/tháng (12.5 triệu đồng/năm).
- Tín dụng ưu đãi để giải quyết việc làm: Đối tượng được vay là các cơ sở
SXKD của người tàn tật, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp, chủ trang trại, trung tâm giáo dục lao động - xã hội. Những cơ sở này phải
có dự án vay vốn khả thi, phù hợp với ngành nghề SXKD, tạo việc làm mới, thu hút
thêm lao động vào việc làm ổn định. Nếu đối tượng là hộ gia đình thì phải đảm bảo
tạo thêm tối thiểu 1 chỗ làm việc mới.
Lãi suất vay là 0,55%/tháng; đối với người tàn tật áp dụng mức lãi suất vay là
0,5%/tháng, lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi vay. Mức cho vay đối với các cơ
sở SXKD tối đa không quá 1 tỷ đồng/dự án và không quá 50 triệu/lao động thu hút
mới; đối với hộ gia đình mức tối đa không quá 50 triệu đồng/hộ.
13
Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có 3/4 dân số
sinh sống. Tuy nhiên tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết là ở các nước đang
phát triển cũng có xu hướng gia tăng.
14
Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới. Nhiều hộ gia đình
nghèo nhất do phụ nữ là chủ hộ. Trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ hộ thì
phụ nữ khổ hơn nam giới.
Về môi trường: Phần lớn người nghèo đều sống ở những vùng sinh thái khắc
nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi trường đều đang ngày
càng trầm trọng thêm.
Từ nhận dạng trên Liên hợp quốc đưa ra hai khái niệm chính về nghèo khổ:
nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được thụ hưởng
những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng đầy
đủ những nhu cầu cơ bản tối thiếu; Nhu cầu cơ bản tối thiểu của cuộc sống là những
đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục.
Ngoài những đảm bảo trên, cũng có ý cho rằng, nhu cầu tối thiểu bao gồm có quyền
được tham gia vào các quyết định của cộng đồng. [10, tr 10]
Ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở khu vực Châu Á, khái niệm được
dùng khá phổ biến là khái niệm nghèo do Uỷ Ban kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình
Dương (ESCAP) đưa ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á
Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9 năm 1993:
“Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ
phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng địa phương”[11, tr 17].
Khái niệm này hàm chứa khá đầy đủ về đói nghèo nên đã được nhiều nước trên thế
hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp hộ nghèo mau chóng vượt qua
nghèo đói vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng.
Theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng
đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác đã đưa ra khái niệm: "Chính
sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do
Nhà nước huy động để cho người nghèo vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo
việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa
đói giảm nghèo, ổn định xã hội". [14, tr 1]
Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc,
điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng Thương mại mà
nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:
- Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người
nghèo có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục
tiêu xóa đói giảm nghèo (XĐGN), không vì mục đích lợi nhuận. Hỗ trợ 100% người
nghèo có đủ vốn để sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập, thoát nghèo bền vững,
16
thu hẹp và từng bước xóa bỏ phân hóa giàu nghèo, tạo ra sự công bằng, bình đẳng
xã hội trong hưởng thụ các kết quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn
sản xuất kinh doanh. Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn
mục nghèo đói do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc do địa phương công
bố trong từng thời kỳ. Thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã
thỏa thuận.
- Điều kiện: Có một số điều kiện, tùy theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác
nhau, từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với
thực tế. Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với người
nghèo đó là: Khi được vay vốn không phải thế chấp tài sản.
tin cậy không cần tài sản thế chấp ban đầu là cơ sở nền tảng cho việc lên kế hoạch
khởi động sản xuất, mở rộng kinh doanh, cộng thêm phối hợp với các ngành để
hướng dẫn cách làm ăn, sử dụng đồng vốn vay hiệu quả, tiết kiệm.
Tín dụng ưu đãi góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế: Tín dụng ưu đãi cho
vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách để sản xuất kinh doanh, cải thiện đời
sống… Tín dụng ưu đãi còn thực hiện cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia
đình và thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn. Thực tế, tại vùng
nông thôn cũng như vùng khó khăn, kinh tế hộ gia đình chiếm đại đa số. Khi những
hộ gia đình là hộ nghèo và các đối tượng chính sách đã ý thức được việc cần vốn
đầu tư phát triển kinh tế thì việc tín dụng chính sách rất cần thiết đối với họ. Gia
đình là tế bào của xã hội, kinh tế hộ gia đình phát triển chắc chắn mang lại kinh tế
xã hội phát triển. Do đó, giải quyết chính sách tín dụng đối với các đối tượng này
góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội. Tín dụng ưu đãi góp phần phát triển kinh
tế khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; xây dựng nông thôn mới: Hiện nay, khu
vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa tuy vẫn còn nhiều khó khăn trước mắt nhưng
nhìn chung, khu vực này đã có nhiều chuyển biến rõ nét trong đời sống người dân
đặc biệt người nghèo. Được Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm, có nhiều chính
sách ưu đãi cho khu vực này đặc biệt tín dụng ưu đãi về tận thôn, bản, gắn bó với
người nông dân nghèo trong phát triển kinh tế. Tín dụng ưu đãi góp phần khai thác
tiềm năng đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên; góp phần tạo điều kiện phát
triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho
người nghèo lao động ở nông thôn.
Tín dụng ưu đãi góp phần ổn định đất nước: Tín dụng ưu đãi được thực hiện
là một chính sách hợp ý Đảng, lòng dân, góp phần không nhỏ trong ổn định chính
trị. Người nghèo và các đối tượng chính sách vẫn là một tầng lớp chiếm đại đa số
trong xã hội mà không được quan tâm thường dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng.
Do đó, tín dụng uu đãi đã góp phần giác ngộ tư tưởng cho những người dễ bị tổn
thương trong xã hội. Khi tiếp cận được tín dụng ưu đãi, người nghèo và các đối
tượng chính sách sẽ cảm nhận được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, chuyên
tâm làm ăn, ổn định cuộc sống sẽ góp phần đảm bảo ổn định chính trị.
cho các tổ chức chính trị - xã hội. Do đó, có thể khẳng định vốn tín dụng Ngân hàng
CSXH làm cầu nối và tạo điều kiện phát huy chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức
chính trị - xã hội.
Tín dụng ưu đãi góp phần tăng cường vai trò quản lý của Chính quyền địa
phương: hoạt động tín dụng của Ngân hàng CSXH thu hút được cả hệ thống chính
trị vào cuộc. Từ Trung ương đến các địa phương, có Hội đồng quản trị và Ban đại
diện Hội đồng quản trị gồm chính quyền, đại diện một số ban ngành tham gia. Theo
19
đó, hoạt động của Ngân hàng CSXH góp phần tăng cường vai trò quản lý của chính
quyền địa phương. Thông qua việc tham gia quản lý tín dụng ưu đãi, chính quyền
địa phương phát huy tích cực hơn vai trò quản lý các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa tại địa phương. Vốn tín dụng được chuyển tải đúng đối tượng, vốn được giám
sát ngay tại cơ sở sử dụng đúng mục đích, gắn liền với các hoạt động khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư, hướng dẫn hội viên biết cách làm ăn, sử dụng vốn vay
đúng mục đích, tiết kiệm chi phí hoạt động cho vay.
Tín dụng ưu đãi góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế - xã hội
giữa các vùng trong cả nước: các chương trình tín dụng ưu đãi được triển khai có
hiệu quả ở các vùng trong cả nước đặc biệt vùng dân tộc và miền núi đã góp phần
thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần từng bước phát triển. Nhiều vùng đã chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường đã hình thành
và từng bước phát triển, tạo tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa,
hội nhập quốc tế trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, rút ngắn khoảng cách về
trình độ phát triển giữa các vùng, miền, các dân tộc trong cả nước; góp phần thực
hiện công bằng xã hội.
Nhìn chung, vai trò tín dụng chính sách đối với thực hiện mục tiêu giảm
nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế và ổn định chính trị là điều hiển
nhiên nhưng nó không bao giờ được coi là điều kiện đủ. Tín dụng ưu đãi chỉ được
của Nhà nước, những người nghèo sẽ được hưởng chế độ vay vốn với lãi suất thấp
điều đó cũng có nghĩa là họ sẽ giảm được chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế.
- Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường: Cung ứng vốn cho
người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho SXKD để XĐGN, thông
qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng
cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao. Để
làm được điều đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp
quản lý từ đó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích lũy
được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế. Mặt khác, khi số đông người
nghèo đói tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa thông qua việc trao đổi trên thị
trường làm cho họ tiếp cận được với kinh tế thị trường một cách trực tiếp.
- Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội: Khi người nghèo tiếp cận được
với nguồn vốn tín dụng ưu đãi thì họ sẽ có điều kiện và cơ hội để đầu tư để chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào áp
dụng trong thực tiễn sản xuất. Cũng thông qua việc thực hiện công tác khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư,… họ sẽ tiếp cận được với các tiến bộ khoa học kỹ thuật
mới để áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra các ngành nghề dịch vụ
mới trong nông nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc phân công lại lao động trong
nông nghiệp và trong xã hội.
21
- Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới: Việc
cung ứng vốn cho hộ nghèo làm ăn kinh doanh để thoát nghèo đã góp phần thay đổi
bộ mặt mới ở nông thôn. Thông qua các Tổ tương trợ tạo điều kiện để những người
vay vốn có cùng hoàn cảnh gần gũi, nêu cao tính tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn
22
được vay vốn tín dụng ưu đãi đó là: những hộ không còn sức lao động, những hộ
độc thân đang trong thời gian thi hành án hoặc những hộ nghèo được chính quyền
địa phương xác nhận loại ra khỏi danh sách vay vốn vì mắc tệ nạn cờ bạc, nghiện
hút, trộm cắp, lười biếng không chịu lao động; những hộ nghèo thuộc diện chính
sách xã hội như: già cả neo đơn, tàn tật, thiếu ăn do Ngân hàng CSXH trợ cấp.
- Nguyên tắc vay vốn: Hộ nghèo vay vốn phải đảm bảo nguyên tắc sử dụng vốn
đúng mục đích xin vay; hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận.
- Điều kiện vay vốn: Bên cho vay xem xét và quyết định cho vay khi hộ
nghèo có đủ các điều kiện sau: có hộ khẩu thường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài
hạn tại địa phương nơi cho vay; có tên trong danh sách hộ nghèo ở xã (phường, thị
trấn) sở tại theo chuẩn hộ nghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố
từng thời kỳ; hộ vay không phải thế chấp tài sản và được miễn lệ phí làm thủ tục
vay vốn nhưng phải là thành viên Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV), được Tổ bình
xét, lập thành danh sách đề nghị vay vốn có xác nhận của UBND cấp xã; chủ hộ
hoặc người thừa kế được ủy quyền giao dịch là người đại diện hộ gia đình chịu
trách nhiệm trong mọi quan hệ với bên cho vay, là người trực tiếp ký nhận nợ và
chịu trách nhiệm trả nợ Ngân hàng.
- Về mục đích sử dụng vốn vay: Hộ nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi để sử
dụng vào các mục đích sau:
Để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: mua sắm các loại vật tư, giống cây trồng,
vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc gia cầm… phục vụ cho các ngành
trồng trọt, chăn nuôi; mua sắm các công cụ lao động nhỏ như cày, bừa, cuốc,
thuổng, bình phun thuốc trừ sâu…; các chi phí thanh toán cung ứng lao vụ như thuê
làm đất, bơm nước, dịch vụ thú y, bảo vệ thực vật,…; đầu tư làm các nghề thủ công
trong hộ gia đình như mua nguyên vật liệu sản xuất, công cụ lao động thủ công,
máy móc nhỏ,…; góp vốn thực hiện dự án sản xuất kinh doanh do cộng đồng người
lao động sáng lập và được chính quyền địa phương cho phép thực hiện.
cho vay từ nguồn vốn do chi nhánh NHCSXH nhận ủy thác của chính quyền địa
phương, của các tổ chức và cá nhân trong, ngoài nước thực hiện theo Hợp đồng ủy
thác. Hiện nay, lãi suất do Nhà nước ấn định cho vay đối với hộ nghèo là
0,55%/tháng và lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất cho vay.
- Về phương thức cho vay: Bên cho vay áp dụng phương thức cho vay từng
lần, mỗi lần vay vốn, hộ nghèo và bên cho vay thực hiện đầy đủ các thủ tục cần
thiết theo quy định.
- Mức cho vay: Mức cho vay tối đa 50 triệu đồng/1hộ, bao gồm cả nhu cầu
sản xuất kinh doanh và 04 nhu cầu thiết. Cụ thể: cho vay sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ; cho vay giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về nhà ở, nước sạch, điện thắp
sáng và học tập, với mức cho vay cụ thể như sau:
+ Sửa chữa nhà ở, mức tối đa 3 triệu đồng/1hộ.
+ Điện thắp sáng, mức tối đa 1,5 triệu đồng/1hộ.
24
+ Nước sạch, mức tối đa 6 triệu đồng/công trình/1hộ.
+ Đầu tư cho chi phí học tập cho con em theo học các cấp học phổ thông: Mức
cho vay tối đa không vượt quá 4 khoản chi phí học tập gồm: tiền học phí phải nộp theo
qui định của Bộ giáo dục và Đào tạo, kinh phí xây dựng trường, tiền mua dụng cụ học
tập và sách giáo khoa, tiền mua trang phục học đường.
- Về thủ tục: Điều kiện cho vay được nới lỏng, dựa vào tín chấp (xác nhận
của chính quyền địa phương, tổ chính trị - xã hội ). Hộ nghèo được vay vốn tín
dụng ưu đãi trước tiên phải tự nguyện gia nhập Tổ TK&VV. Sau đó hộ nghèo viết
giấy đề nghị vay vốn (theo mẫu quy định) gửi Tổ trưởng Tổ TK&VV. Tổ TK&VV
có trách nhiệm bình xét và lập danh sách hộ nghèo đề nghị được vay vốn lên UBND
xã xác nhận sau đó gửi danh sách tới bên cho vay để làm thủ tục phê duyệt và nhận
thông báo những trường hợp hộ nghèo được vay và hẹn lịch giải ngân, địa điểm giải
ngân để hộ nghèo tiếp tục làm các thủ tục còn lại trong quy trình vay vốn.
dựng Quy ước hoạt động của Tổ, bình xét công khai các hộ có nhu cầu xin vay vốn
và đủ điều kiện vay đưa vào danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH (mẫu
số 03) theo quy định nghiệp vụ cho vay của từng chương trình, trình Ban xoá đói
giảm nghèo cấp xã xác nhận, UBND cấp xã xét duyệt và đề nghị Ngân hàng cho vay.
Nhận và thông báo kết quả phê duyệt danh sách hộ gia đình được vay vốn
cho Tổ TK&VV để Tổ TK&VV thông báo đến từng hộ gia đình được vay vốn.
Cùng Tổ TK&VV chứng kiến việc giải ngân, thu nợ, thu lãi của người vay tại các
Điểm giao dịch của NHCSXH (xem sơ đồ 1.1).
CƠ CHẾ QUẢN LÝ CHO VAY ỦY THÁC THEO QUY TRÌNH CHO VAY
NGÂN HÀNG CSXH
HỘI NÔNG DÂN
Hội TW
Nội
dung
9
Nội
dung
8
Nội
dung
7
Nội
dung
Nông dân quản lý. Giám sát quá trình sử dụng vốn vay của các hộ. Phối hợp với
Ban quản lý Tổ TK&VV đôn đốc người vay trả nợ gốc, lãi theo định kỳ đã thoả
thuận. Thông báo kịp thời cho Ngân hàng nơi cho vay về các trường hợp sử dụng
vốn vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, chết,
mất tích…) và rủi ro do chủ quan như: sử dụng vốn vay sai mục đích, người vay