CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN - Pdf 64

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI
NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN (2003 - 2007)
2.1. TÌNH HÌNH ĐÓI NGHÈO TẠI NGHỆ AN
2.1.1. Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Nghệ An thuộc Bắc trung bộ Việt Nam, toạ độ địa lý từ 18
0
33’10’’đến
200
0
vĩ bắc và từ 103
0
50’ đến 105
0
kinh đông. Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hoá với
đường biên dài 196,13km; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với đường biên dài
92,6km; phía Tây giáp nước bạn Lào với đường biên giới dài 419 km; phía
Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 82km. Có diện tích đất tự nhiên
16.487,29 km
2
; trong đó, đất lâm nghiệp chiếm 41%, đất nông nghiệp chiếm
11%, đất chuyên dùng chiếm 3,6%, quỹ đất chưa sử dụng chiếm 42%. Có 01
thành phố loại II (Thành Phố Vinh), 01 thị xã (Thị xã Cửa Lò) và 17 huyện;
trong đó, 10 huyện miền núi: Thanh Chương, Kỳ Sơn, Tương Dương, Con
Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn; 07
huyện đồng bằng: Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu,
Quỳnh Lưu, Yên Thành. Quy mô hành chính có 464 xã, 18 thị trấn, 24 phường.
Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức
tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh. Nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây

khoáng sản quý hiếm như vàng, đá rubi, thiếc, đá trắng, đá granit, đá bazan…
Loại khoáng sản có điều kiện phát triển với quy mô lớn gắn với thị trường là:
Đá vôi (nguyên liệu sản xuất xi măng) có trữ lượng trên 1 tỷ m
3
, tổng trữ lượng
đá trắng (Quỳ Hợp) có trên 100 triệu m
3
; đá Bazan trữ lượng trên 360 triệu m
3
.
Thiếc Quỳ Hợp trữ lượng trên 70.000 tấn…
- Tài nguyên nước: Nghệ An có nguồn nước mặt dồi dào (trên 300 tỷ m
3
)
do lượng mưa bình quân hàng năm lớn (từ 1.800 mm đến 2.000 mm) thuận lợi
cho phát triển sản xuất, dân sinh. Hệ thống sông ngòi phân phối dày đặc (mật độ
lên tới 0,6- 0,7km/km
2
). Lớn nhất là sông Cả với lưu vực chiếm 80% diện tích
tự nhiên, có 117 thác lớn nhỏ có khả năng xây dựng thuỷ điện; trong đó, có thác
Bản Vẽ đang được xây dựng tại huyện Tương Dương.
2.1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Nghệ An những năm đổi mới, kinh tế có bước phát triển khá, tốc độ GDP
bình quân hàng năm đạt từ 9-10% (năm 2006 đạt 10,2%, năm 2007 đạt 10,5%).
Cơ cấu kinh tế năm 2007 chuyển dịch đúng hướng: Nông nghiệp 33,09% xuống
31,03%, công nghiệp xây dựng 30,34% lên 32,01%, dịch vụ 36,57% lên
36,96%; sản lượng lương thực nông nghiệp cả năm đạt 1,053 triệu tấn/kế hoạch
1 triệu tấn, giảm 7,9% so với cùng kỳ. Một số cây công nghiệp như lạc, sắn,
mía, chè, ngô tăng về năng suất và sản lượng. Lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục
tăng so với năm 2006. Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm đạt 5.710 tỷ đồng,

- Nguồn thu ngân sách còn thấp và tăng chậm; nhu cầu chi ngân sách
ngày càng lớn; khả năng cân đối thu chi ngân sách trên địa bàn còn rất khó
khăn.
- Kết cấu hạ tầng kỹ thuật tuy đã được cải thiện nhiều, song vẫn chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển.
- Các vấn đề xã hội còn nhiều bức xúc, trình độ lao động chưa đáp ứng.
Đời sống nhân dân vẫn ở dưới mức trung bình của cả nước, miền núi, vùng sâu,
vùng xa gặp nhiều khó khăn. Mức thu nhập bình quân đầu người của Nghệ An
năm 2007 là 7.470.000 đồng, bằng 60% so với thu nhập bình quân đầu người
của cả nước (thu nhập bình quân của cả nước là 835 USD, tương đương
13.360.000 đồng).
- Việc bình xét hộ nghèo tại các địa phương thiếu chính xác, chưa bám
vào các tiêu chí đề ra theo quyết định số170/2005/QĐ-TTg, ngày 08/7/2005 của
Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn
2006- 2010 nên tại các địa phương số hộ nghèo thực tế lớn hơn nhiều so với hộ
nghèo có tên trong danh sách qua các năm.
- Việc đánh giá số hộ thoát nghèo qua các năm chưa chính xác.
- Thời tiết khí hậu khắc nghiệt, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 24-27
0
C,
vào mùa hè tại một số huyện miền núi cao như: Quỳ Châu, Tương Dương nhiệt
độ có ngày lên đến 42
0
, lượng mưa bình quân lớn so với cả nước, bình quân dao
động từ 1.117-1.960mm, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, thiên tai hạn
hán thường xuyên xảy ra, hàng năm phải đón từ 10 cơn bão trở lên.
2.1.2. Thực trạng đói nghèo tại tỉnh Nghệ An
2.1.2.1. Số lượng, cơ cấu và phân bố hộ đói nghèo ở Nghệ An
Nghệ An là tỉnh nằm trong khu vực Bắc Miền Trung, là tỉnh đất rộng,
người đông. Hiện là một tỉnh nghèo, tiềm lực kinh tế còn mỏng, điểm xuất phát

năm 2006
Số hộ
thoát
nghèo
Số hộ
rơi vào
nghèo
Tổng số
hộ
nghèo
Tỷ lệ
nghèo
(%)
cột 5
chia cột 1
A B 1 2 3 4 5 6.
Khu vực đồng bằng
425.38
9
66.389
19.65
3
11.218 57.954 13.62
1 TP Vinh 53.964 3.145 1.070 412 2.487 4.61
2 TX Cửa Lò 10.292 917 211 140 846 8.22
3 H. Nam Đàn 36.278 6.311 2.041 1.287 5.557 15.32
4 H. Hưng Nguyên 28.468 4.843 1.132 690 4.401 15.46
5 H. Nghi Lộc 49.916 8.976 2.013 1.964 8.927 17.88
6 H. Đô Lương 46.028 7.976 2.472 1.259 6.763 14.69
7 H. Diễn Châu 63.490 10.963 3.396 1.870 9.437 14.86

19.59
(Nguồn: Báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo năm 2007, số 2026/BC/LĐ-TBXH
ngày 31/12/2007 của Sở Lao Động TBXH tỉnh Nghệ An).
2.1.2.2. Đặc điểm và nguyên nhân đói nghèo tại Nghệ An
a. Đặc điểm.
- Vùng miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều so với vùng đồng bằng
(miền núi tỷ lệ hộ nghèo chiếm 30,16%, vùng đồng bằng 13,62%). Vùng đồng
bào dân tộc thiểu số có hộ nghèo cao (45.429 hộ), nhiều hộ thiếu ăn quanh năm,
đặc biệt là đến vụ giáp hạt. Thức ăn của hộ nghèo không bổ dưỡng, đôi khi
không đủ tiền mua gạo phải sống không có gạo; ăn ngô, sắn… qua ngày.
- Hộ nghèo ở vùng đồng bằng tập trung vào các gia đình có nhiều người
không có tay nghề, không có việc làm hoặc chỉ đi làm thuê hàng ngày không ổn
định.
- Quan niệm của người nghèo sự thiếu thốn về vật chất một phần do đời
sống bất ổn, cảm giác bị xa lánh và có ít quan hệ xã hội, không muốn kết bạn
với người giàu.
- Hộ nghèo có anh, chị, em họ hàng cũng nghèo nên không có sự giúp đỡ
về mọi mặt.
- Chẳng có gì để giải trí (không có tivi, đài…), hiểu biết xã hội kém, hay
uống rượu, đánh bạc.
- Chi tiêu theo đầu người của hộ đồng bào dân tộc thiểu số thấp hơn rất
nhiều so với người kinh, các hộ dân tộc có quy mô hộ lớn và có nhiều con hơn
các hộ trung bình; về trình độ học vấn của chủ hộ và của vợ hoặc chồng cũng
thấp hơn. Tài sản dưới dạng nhà ở hoặc những tài sản khác cũng thấp hơn trung
bình; trẻ em các hộ nghèo thường bị suy dinh dưỡng, phải lao động nặng nhọc
từ khi còn bé.
b. Nguyên nhân
- Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt; vùng đồng bằng ven biển, vùng núi,
vùng sâu, vùng xa, trình độ dân trí thấp.
- Do chưa có cơ chế đồng bộ:

tổng số hộ nghèo đói toàn tỉnh; các hộ nghèo có quy mô gia đình lớn nhưng sức
lao động ít.
Trong tổng số 130.370 hộ nghèo có tại thời điểm điều tra được chia thành
các nhóm nguyên nhân chính sau đây:
- Do thiếu vốn và tư liệu sản xuất, chiếm 49,9% (65.055 hộ).
- Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn, chiếm 20,7% (26.987 hộ).
- Thiếu đất sản xuất, chiếm 12,6% (16.427 hộ).
- Thiếu lao động, chiếm 9,3% (12.124 hộ).
- Ốm đau, tàn tật, chiếm 5,1% (6.649 hộ).
- Tai nạn, rủi ro, chiếm 0,91% (1.186 hộ).
- Lười lao động, chiếm 0,68% (887 hộ).
- Mắc các tệ nạn xã hội, chiếm 0,81% (1.056 hộ).
2.2. TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN,
MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI TỈNH NGHỆ AN
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Nghệ An được thành lập, theo quyết
định số 44/QĐ- HĐQT ngày 14/01/2003 của Chủ tịch HĐQT- NHCSXH Việt
Nam; trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo và chính thức đi
vào hoạt động ngày 09/4/2003. Đây là đơn vị thành viên trực thuộc Hội sở
chính, đại diện pháp nhân theo uỷ quyền của Tổng Giám đốc trong việc chỉ đạo,
điều hành các hoạt động của NHCSXH trên địa bàn Nghệ An. Chức năng,
nhiệm vụ của chi nhánh là: Nhận bàn giao vốn cho vay hộ nghèo từ
NHNo&PTNT, vốn giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước, vốn cho vay học
sinh, sinh viên từ Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ sang; huy động vốn để cho
vay các đối tượng. NHCSXH tỉnh Nghệ An được thành lập trên cơ sở tổ chức
lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, nên sau khi thành lập 01 Phó giám đốc
NHNo&PTNT, kiêm Giám đốc Ngân hàng Phục vụ người nghèo sang làm
Giám đốc chi nhánh. Tại cấp huyện Phó giám đốc NHNo&PTNT sang làm
Giám đốc phòng giao dịch. Về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động khi mới

2007 có 204 người; trong đó, tại Văn phòng NHCSXH tỉnh có 31 người, ở
phòng giao dịch huyện, thị xã có 173 người, bình quân mỗi phòng giao dịch 09
người.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status