THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY hộ NGHÈO tại NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH xã hội TỈNH điện BIÊN - Pdf 47

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận án này là do bản thân thực hiện, cùng với sự
hướng dẫn của TS. Nguyễn Thanh Phương. Các nội dung nghiên cứu và kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân
tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi
trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh
giá, cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, đã được thể hiện trong
phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình.
Điện Biên, ngày tháng năm 2016
Tác giả


ii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN......................................................................................................i
MỤC LỤC .............................................................................................................ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT................................................................................v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ.......................................................................vi
MỞ ĐẦU .............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài...........................................................................2
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu..............................................2
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................2
5. Kết cấu của luận văn...........................................................................................3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ

1.6.1. Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính
sách xã hội ở một số tỉnh.........................................................................................29
1.6.2. Bài học kinh nghiệm có khả năng vận dụng vào Ngân hàng Chính sách Xã
hội Điện Biên...........................................................................................................32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI
NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN...............................34
2.1. Khái quát Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Điện Biên............................34
2.1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội và bối cảnh ra đời của Ngân hàng Chính sách Xã
hội....................................................................................................................34
2.1.2. Quá trình phát triển của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Điện Biên........36
2.1.3. Mô hình tổ chức Ngân hàng Chính sách Xã hội Tỉnh Điện Biên...................37
2.1.4. Những nét chính trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh
Điện Biên trong những năm gần đây.......................................................................39
2.2. Thực trạng chất lượng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội
tỉnh Điện Biên........................................................................................................47
2.2.1. Các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của
ngân hàng chính sách xã hội...................................................................................47
2.2.2. Chính sách và các sản phẩm cho vay hộ nghèo. của ngân hàng chính sách xã
hội tỉnh Điện Biên....................................................................................................48
2.2.3 Quy trình thực hiện.........................................................................................52
2.2.4.Phân tích thực trạng chất lượng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách
Xã hội tỉnh Điện Biên..............................................................................................53
2.3. Đánh giá chất lượng cho vay hộ nghèo tại ngân hàng Chính sách Xã hội
tỉnh Điện Biên........................................................................................................64
2.3.1. Kết quả đạt được............................................................................................64
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân.....................................................................73
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ
NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TỈNH ĐIỆN BIÊN.......77
3.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính
sách Xã hội tỉnh Điện Biên....................................................................................77


HĐQT:

Hội đồng quản trị

XĐGN:

Xóa đói giảm nghèo

Tổ TK & VV

Tổ tiết kiệm và vay vốn

SXKD

Sản xuất kinh doanh

UBND

Ủy ban nhân dân


vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Danh mục bảng
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn...................................................................................40
Bảng 2.2: Doanh số cho vay thu nợ và dư nợ..........................................................44
Bảng 2.3. Hoạt động cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác năm 2015
................................................................................................................................ 46


Bảng 3.1: Các chỉ tiêu kế hoạch giảm tỷ lệ hộ cận nghèo của Tỉnh Điện Biên giai
đoạn 2015- 2017.....................................................................................................78
Bảng 3.2: Nhu cầu sử dụng vốn vay........................................................................80
Danh mục biểu
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Điện Biên..............37
Sơ đồ 2.2: Quy trình cho vay vốn............................................................................52

Danh mục sơ đồ
Biểu đồ 2.1: Số hộ thoát nghèo trong tổng số hộ được vay vốn...............................59
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng nguyên nhân nợ quá hạn.......................................................61


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 25 năm đổi mới Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, song Việt
Nam vẫn là một nước được xếp vào diện nghèo trên thế giới, thu nhập bình quân
đầu người thấp, tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế còn cao, phát triển kinh tế xã hội giữa
các vùng, các khu vực ngày càng có sự chênh lệnh. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng
định qua các kỳ Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa (VIII - IX) trong đó
coi xoá đói giảm nghèo là vấn đề cấp bách cần thực hiện thường xuyên liên tục để rút
ngắn khoảng cách giàu nghèo với các nước trên thế giới và giữa các vùng trong nước,
giữa miền núi và đồng bằng, giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, để thực hiện
phương châm “tiến tới dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Để thực hiện thắng lợi phương châm đó, việc sử dụng tốt các nguồn vốn và
đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu đối với nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo trên cả nước
là vấn đề trọng tâm, có ý nghĩa quyết định. Thực tế những năm qua cho thấy Đảng,
Nhà nước và địa phương đã cụ thể hoá các bước của Nghị quyết Đại hội về xoá đói

phạm vi 3 phường Thanh Bình, Him Lam, Tân Thanh thuộc thành phố Điện Biên.
Nhằm mục tiêu tìm ra nguyên nhân tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng
cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Điện Biên.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay hộ nghèo của Ngân
hàng Chính sách Xã hội.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính
sách Xã hội tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay hộ
nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Điện Biên.


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 25 năm đổi mới Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể, song Việt
Nam vẫn là một nước được xếp vào diện nghèo trên thế giới, thu nhập bình quân
đầu người thấp, tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế còn cao, phát triển kinh tế xã hội giữa
các vùng, các khu vực ngày càng có sự chênh lệnh. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng
định qua các kỳ Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa (VIII - IX) trong đó
coi xoá đói giảm nghèo là vấn đề cấp bách cần thực hiện thường xuyên liên tục để rút
ngắn khoảng cách giàu nghèo với các nước trên thế giới và giữa các vùng trong nước,
giữa miền núi và đồng bằng, giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số, để thực hiện
phương châm “tiến tới dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Để thực hiện thắng lợi phương châm đó, việc sử dụng tốt các nguồn vốn và
đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu đối với nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo trên cả nước
là vấn đề trọng tâm, có ý nghĩa quyết định. Thực tế những năm qua cho thấy Đảng,
Nhà nước và địa phương đã cụ thể hoá các bước của Nghị quyết Đại hội về xoá đói

Nhằm mục tiêu tìm ra nguyên nhân tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng
cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Điện Biên.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay hộ nghèo của Ngân
hàng Chính sách Xã hội.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính
sách Xã hội tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay hộ
nghèo đối với Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh Điện Biên.


4

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NGHÈO
CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1.1. Khái quát cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách Xã hội
1.1.1. Lịch sử hình thành của Ngân hàng Chính sách Xã Hội
1.1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển như một tổ chức trung gian tài
chính huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn
cho sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Hoạt động của ngân hàng là kinh
doanh tiền tệ; ngân hàng tồn tại và phát triển vì tạo ra mức chênh lệch dương giữa
lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Lợi nhuận được hình thành từ nghiệp vụ này.
Ngày nay, ngân hàng đã mở rộng nhiều nghiệp vụ mới đồng thời áp dụng các dịch
vụ như: thanh toán, tư vấn tài chính, bảo lãnh, thuê mua bảo hiểm, môi giới đầu tư
… và trở thành “bách hoá tài chính”. Song nghiệp vụ truyền thống và cơ bản của
ngân hàng vẫn là huy động vốn và cho vay. Trong hoạt động của mình, các ngân
hàng luôn quan tâm đến lợi nhuận, tạo sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường. Lãi

nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước đóng góp. Quỹ được
sử dụng cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức
cho vay 500.000 đồng/hộ, người vay không phải bảo đảm tiền vay.
Từ kinh nghiệm thực tiễn hai năm thực hiện Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo,
ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc
thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam), hoạt động không vì mục
tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất. Và
đến ngày 4 tháng 10 năm 2002, chính thức được tách khỏi Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn và lấy tên là Ngân hàng Chính sách xã hội theo quyết định
131/2002/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ Việt Nam.
Với mô hình tổ chức được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương
trên cơ sở tận dụng bộ máy và màng lưới sẵn có của NHNo&PTNT Việt Nam, Ngân
hàng Phục vụ người nghèo đã thiết lập được kênh tín dụng riêng để hỗ trợ tài chính
cho các hộ nghèo ở Việt Nam với các chính sách tín dụng hợp lý, giúp hộ nghèo có
vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, từng bước làm quen với nền sản
xuất hàng hoá và có điều kiện thoát khỏi đói nghèo.
Ngân hàng Chính sách xã hội (tên giao dịch tiếng Anh: Vietnam Bank for
Social Policies, viết tắt: VBSP) là ngân hàng quốc doanh được thành lập theo Quyết
định 131/2002/QĐ-TTg ngày 4 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ Việt
Nam trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ Người nghèo thuộc Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Việc xây dựng Ngân hàng Chính sách xã
hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là hộ nghèo, học sinh, sinh
viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giải quyết
việc làm, đi lao động có thời hạn ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ


6

sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa,

kinh tế xã hội.
NHCSXH là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm
giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín


7

dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều
kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế
gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh - dân chủ - công bằng - văn minh
1.2 Cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội
1.2.1. Khái niệm về cho vay
Cho vay còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn
tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính
cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. 2 Do
hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên
đi vay gọi là con nợ. Hay nói một cách khác, cho vay là một phạm trù kinh tế, trong
đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị cho một
cá nhân hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay
mượn và thu hồi món vay… Hoạt động cho vay ra đời, tồn tại và phát triển cùng với
nền sản xuất hàng hóa. Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hóa
và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại của hoạt động là một tất yếu khách quan.
1.2.2. Quan điểm cho vay hộ nghèo
Cho vay hộ nghèo có mối liên hệ mật thiết đối với phát triển, giảm tỷ lệ
nghèo đói. Tuy nhiên, mức độ tác động của hoạt động cho vay đối với giảm nghèo
đói lại chủ yếu dựa vào chính sách của Chính phủ của mỗi nước. Các chính sách
khác nhau xuất phát từ các trường phái khác nhau về hoạt động cho vay đối với hộ
nghèo. Có rất nhiều quan điểm khác nhau đối với vấn đề này, nghiên cứu này chỉ
tập trung vào phân tích 5 trường phái đang ảnh hưởng nhiều đến việc hoạch định
chiến lược cho việc cung cấp vốn đối với hộ nghèo, bao gồm: trường phái cổ điển,

người vay, làm xói mòn sự vững mạnh của người cho vay. Mặt khác, tỷ lệ lãi suất
cho vay thấp không thể tạo được sự hấp dẫn đối với người gửi tiết kiệm, ít nhất tỷ lệ
lãi suất cho vay phải tương đương với lãi suất huy động tiết kiệm cộng với chi phí
giao dịch. Tỷ lệ lãi suất thấp gây ra cầu về vay vốn tăng vượt quá cung, kéo theo các
hoạt động tiêu cực để được vay vốn, gây ra sự bất công làm cho tình trạng đói
nghèo càng trở nên trầm trọng hơn do có xu hướng khuyến khích và hỗ trợ những
người giàu và sản xuất lơn hơn là những người nghèo, do mối quan hệ cá nhân, khả
năng hối lộ quan chức, ưu tiên cấp vốn và hoàn trả...
Thứ ba: Tỷ lệ hoàn trả thấp
Tín dụng trợ giá thường có tỷ lệ hoàn trả thấp, nghiên cứu thực tế cho thấy,
trừ một vài trường hợp cá biệt, tỷ lệ không trả được của các chương trình trợ giá tín
dụng ở các nước đang phát triển dao động từ 40 đến 95%. Lãi suất cho vay hộ
nghèo càng thấp tỷ lệ hoàn trả càng thấp. Nguyên nhân của tình trạng mày là: không
có khả năng trả được nợ (mất mùa, …); không có ý thức trả (do nhận thức rằng tiền
vay là một khoản trợ cấp hoặc được hưởng chính sách).
* Trường phái kiềm chế tài chính
Cung cấp vốn vay ưu đãi là một trong những mối quan tâm của Chính phủ ở
hầu hết các nước đang phát triển. Với sự trợ giúp của các nhà tài trợ, Chính phủ xác


9

định mục đích hoạt động, chi phối hệ thống tài chính cung cấp vốn cho hộ nghèo
theo cách là khống chế lãi suất, tín dụng theo mục tiêu chỉ định, lãi suất ưu đãi và sự
hạn chế về mặt pháp lý đối với tính thể chế của các tổ chức tài chính. Tác động của
việc kiểm soát, chi phối, kìm hãm tài chính đối với phát triển của hệ thống tài chính
là rất lớn.
Quan điểm của trường phái kiềm chế tài chính cũng có một số bất cập như
quan điểm cổ điểm ở chỗ kết quả không mong đợi của lãi suất thấp và tỷ lệ hoàn trả.
Ngoài ra, việc không chế lãi suất dẫn đến tiền lãi thu được thấp, các tổ chức

trường không cạnh tranh lại không có quan hệ với khu vực chính thức.
Trường phái thể chế kiểu mới
Theo quan điểm của trường phái này, thị trường tín dụng đối với hộ nghèo ở
hầu hết các nước đang phát triển đều có nét nổi bật là thông tin không hoàn hảo,
thông tin không cân xứng và để mất một số thị trường. Hộ nghèo thường bị vướng
vào thông tin không cân xứng nhiều hơn so với các hộ khá giả. Chính vì thế, quan
điểm cấp tín dụng đối với hộ nghèo của trường phái này là: chương trình tín dụng rẻ
và cho vay thông qua tín chấp, thông qua sự bảo đảm của hợp tác xã và nhóm nông
dân được thành lập chính thức nhằm giúp người nghèo vượt qua tình trạng thiếu
vốn. Ở các nước đang phát triển, lòng tin chủ yếu dựa vào mối quan hệ cá nhân và
nó trở thành một yếu tố quan trọng trong vấn đề giảm chi phí.
Tiếp cận đa hệ thống – xu hướng mở rộng vốn cho vay đối với hộ nghèo
Cho vay đối với người nghèo là một trong những vấn đề quan tâm của Chính
phủ các nước đang phát triển. Với sự hỗ trợ của các nhà tài trợ chính, Chính phủ các
nước đang phát triển tiến hành cấp vốn vay với lãi suất ưu đãi và xem nó như là
nguyên tắc chính trong hoạt động hỗ trợ người nghèo. Tín dụng được cho vay trực
tiếp đến người nghèo, tất cả các khoản rủi ro được chuyển từ người vay đến ngân
hàng và cuối cùng là Chính phủ phải gánh chịu qua việc xoá nợ cho các tổ chức tài
chính tham gia thực hiện chương trình này.
Kinh nghiệm của các nước đang phát triển chỉ ra rằng: người nghèo thường
không thu được lợi ích từ sự kiềm chế tài chính. Trên thực tế, họ gánh chịu phần lớn
cái giá của sự kiềm chế này. Người ta đang nhận định rằng một tập hợp đầy đủ các
dịch vụ tài chính cho người nghèo phụ thuộc trước hết vào chất lượng cũng như tính
hiệu quả của các trung gian tài chính, khả năng tồn tại của các dịch vụ tài chính này,
đến lượt chúng lại phụ thuộc vào sự phát triển lành mạnh của toàn bộ hệ thống tài
chính. Do vậy, sự tiếp cận đa hệ thống có vai trò quan trọng trong việc cấp vốn cho
hộ nghèo.
Các quy tắc can thiệp cơ bản của quan điểm tiếp cận đa hệ thống là:
- Bất cứ sự can thiệp nào cũng chỉ có thể bắt đầu từ hiện trạng của toàn bộ hệ
thống tại thời điểm nhất định. Nó bao gồm việc thiết lập về văn hóa, xã hội, chính

động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín
dụng của các Ngân hàng Thương mại mà nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau.
* Mục tiêu: Cho vay hộ nghèo nhằm vào việc giúp những người nghèo đói
có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục tiêu
XĐGN, không vì mục đích lợi nhuận.
* Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất
kinh doanh. Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn mực nghèo đói
do Bộ LĐ-TBXH hoặc do địa phương công bố trong từng thời kỳ. Thực hiện cho vay có
hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thoả thuận.
* Điều kiện: Có một số điều kiện, tuỳ theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác
nhau, từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với
3

TS. Trương Thị Hồng "Giáo trình nghiệp vụ tín dụng ngân hàng", NXB Tài chính, năm 2006, tr 75.


12

thực tế. Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của cho vay đối với người
nghèo đó là: Khi được vay vốn không phải thế chấp tài sản.
1.2.3. Đặc điểm cho vay hộ nghèo của Ngân hàng Chính sách Xã hội
Cho vay hộ nghèo là loại hình hoạt động kinh tế mang tính chất chính sách
xã hội. Nhưng vì bản chất của cho vay là một loại hình cung cấp tài chính, chịu ảnh
hưởng bởi các quy luật kinh tế khách quan trong cơ chế thị trường như: quy luật
cung cấp, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị...Do vậy những vấn đề lãi suất cho
vay như thế nào? Lãi suất huy động ở mức nào để huy động được? Nguồn vốn cần
bao nhiêu? Điều kiện cho vay như thế nào để phù hợp với hộ nghèo? Căn cứ chuẩn
mực đói nghèo như thế nào để cho vay?...luôn là những vấn đề cần quan tâm của
những nhà hoạch định chính sách. Để giải quyết những vấn đề này tuỳ theo quan
điểm của mỗi quốc gia đưa ra những giải pháp khác nhau. Riêng đối với Việt Nam

chịu áp lực chi phí đầu vào cao, nhưng Nhà nước có thể huy động được nguồn vốn
lớn dài hạn phục vụ cho chương trình. Hoặc phương thức cho vay như thế nào, giải
ngân gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, tổ chức đoàn thể hay giải ngân trực
tiếp đến với hộ vay nghèo cần vay vốn…
Về chuẩn mực nhận diện đối tượng hộ nghèo, hiện nay hầu hết các quốc gia
đều đưa ra các chuẩn mực đói nghèo khác nhau để xác định ngưỡng nghèo và mức
độ đói nghèo của mỗi quốc gia. Việc đưa ra chuẩn đói, nghèo có thể căn cứ vào: chỉ
tiêu chất lượng cuộc sống bao gồm ba mục tiêu cơ bản là: tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của
trẻ sơ sinh và tỷ lệ mù chữ hoặc dựa vào chỉ tiêu phát triển con người bao gồm: tuổi
thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trên năm; chỉ
tiêu nhu cầu dinh dưỡng tính theo mức tiêu dùng quy ra killocalo cho một người
trong ngày; hoặc chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân đầu người trong năm, đây là
chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và các tổ chức quốc tế đang dùng để xác định
giàu, nghèo. Hiện nay Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của
toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 720 USD/người/năm.
Vì hoạt động cho vay đối với người nghèo là tín dụng chính sách cần phải
quản lý số lượng hộ được nhận diện vay vốn và có chính sách điều chỉnh kịp thời để
tạo công bằng cho các vùng, các địa phương trong một quốc gia nên việc xây dựng
chuẩn mực hộ nghèo để làm căn cứ cho vay vốn là thực sự cần thiết.
Mức cho vay tối đa cho mỗi hộ vay vốn: tuỳ thuộc vào số lượng hộ vay vốn
và khả năng huy động nguồn vốn có được để xác định mức cho vay tối đa cho mỗi
hộ vay vốn. Nhưng nếu chỉ căn cứ khả năng nguồn và số hộ vay để xác định mức
cho vay từng hộ thì sẽ thiếu thực tế, không khoa học và không mang tính kinh tế,
đòi hỏi cần phải khảo sát nhu cầu cần thiết cho mỗi hộ ở từng vùng khác nhau và
mỗi đối tượng đầu tư khác nhau để xác định mức cho vay tối đa. Nếu cho vay hộ
nghèo không đủ mức đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ là một trong những nguyên
nhân làm hộ nghèo khó khăn hơn không phát huy được hiệu quả đồng vốn.
Về lãi suất cho vay hộ nghèo: đây là một vấn đề phức tạp, cần có bước đi
thích hợp. Nếu cho vay theo lãi suất bao cấp, lãi suất thấp hơn lãi suất trên thị
trường, có mặt lợi đó là giúp người nghèo trong lúc khó khăn, giảm chi phí đầu vào,

Do vậy quá trình thực hiện xoá đói giảm nghèo để phát huy mặt lợi, hạn chế
mặt bất lợi trong các phương thức đã nảy sinh phương thức kết hợp đó là phương
thức uỷ thác từng phần, vừa kết hợp trách nhiệm cộng đồng vừa nâng cao việc quản
lý đồng vốn cho vay đối với hộ nghèo.
Cho vay hộ nghèo có đặc điểm khác biệt hơn so với tín dụng ngân hàng
thương mại đó là:
- Mục đích hoạt động cho vay hộ nghèo không vì mục tiêu lợi nhuận mà là
góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo.
- Đối tượng vay vốn là hộ nghèo.
- Được ưu đãi về điều kiện vay vốn như: không phải thế chấp tài sản, được
miễn các khoản lệ phí khi vay vốn.
- Lãi suất cho vay được áp dụng theo mức lãi suất cho vay ưu đãi do Nhà


15

nước quy định theo từng thời kỳ.
- Được Nhà nước hỗ trợ xử lý khi gặp những rủi ro khách quan.
1.3. Quan điểm về chất lượng cho vay hộ nghèo của Ngân hàng
Chính Sách Xã hội.
1.3.1 Quan điểm về hộ nghèo
Trong một thời gian dài, các nhà kinh tế và nhiều nhà nghiên cứu đã điịnh
nghĩa giàu nghèo theo quan điểm định lượng, tức là đưa ra một chỉ số để đo lường
chủ yếu nhằm đơn giản hoá việc hoạch định chính sách.
- Một số quan điểm về "nghèo":
 Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ
chức tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như
sau : " Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những
nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa
nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status