1. Như một yêu cầu tất yếu của đời sống
Ranh giới và sự đan xen các phương thức biểu đạt, cũng như thể loại chủ đạo và sự pha trộn,
xâm lấn lẫn nhau giữa các thể loại trong mỗi sáng tạo văn học nghệ thuật là tất yếu. Bởi nghệ
thuật chính là cuộc sống. Cuộc sống không phải là một mớ hỗn độn phi logic, nhưng cũng không
phải là các khoản mục có ranh giới trắng đen, cao thấp quá rạch ròi; cuộc sống như nó vốn có
vừa tỏ, vừa mờ; vừa thực, vừa ảo; vừa tường minh chính xác, vừa mơ hồ huyền hoặc… Trong
khi quan niệm về các phương thức và yêu cầu phản ánh cuộc sống theo những nét đặc trưng của
các phương thức cũng chỉ mang tính chất tương đối. Và vì thế việc gọi một văn bản-tác phẩm là
truyện ngắn hay tùy bút, thơ hay văn xuôi; miêu tả hay kể chuyện, tự sự hay thuyết minh… suy
cho cùng cũng chỉ là tương đối.
Những tác phẩm như Bông hồng vàng, Bình minh mưa[1], “Đaghetxtan của tôi”[1]…là tiểu
thuyết hay truyện vừa; ký sự hay tự truyện; văn xuôi hay thơ; tùy bút hay lí luận về phương pháp
sáng tác…? Rất khó trả lời theo cách hiểu thông thường bởi chúng đều là những tác phẩm vượt
ra ngoài định nghĩa và biến thể của loại hình văn học. Nó được viết một cách rất tự do, phóng
khoáng. Rất nhiều tác phẩm văn học được viết với một bút pháp đa dạng, đa phương thức nhằm
tái hiện lại những sắc màu sinh động của cuộc sống. Ở những tác phẩm này các thể loại đan xen
nâng đỡ hỗ trợ lẫn nhau. Nghị luận mà vẫn dạt dào cảm xúc; tùy bút mà rất giàu tự sự, đầy chi
tiết, sự kiện, nhân vật; đối thoại, độc thoại; miêu tả mà vẫn đậm chất nghị luận, nhiều trang miêu
tả miên man, lẫn với giọng triết lí, những ngẫm suy thời cuộc; thuyết minh mà đầy tính nghệ
thuật, rất nhiều bài bút kí viết theo phương thức giới thiệu đặc điểm, nêu rõ công năng, bày vẽ
cách làm…thế mà vẫn tràn ngập chất thơ, lênh láng một cái tôi trữ tình,… Thực tiễn sáng tác cho
thấy thật khó mà tìm được một văn bản chỉ sử dụng đơn nhất một phương thức phản ánh. Trong
cuốn “Văn miêu tả và kể chuyện”, khi giới thiệu một số đoạn văn, tập hợp chúng trong phần trích
tuyển, nhà văn Phạm Hổ đã phải thừa nhận rằng: “Muốn chia văn miêu tả riêng, văn kể chuyện
riêng, nhưng không thể làm được. Vì chỉ có một đôi đoạn văn thuần là miêu tả, hoặc thuần là kể
chuyện, còn phần lớn, cả hai thể loại đều xen lẫn vào nhau”[1]
Tuy sự đan xen, hoà trộn các phương thức trong cùng một văn bản dường như là một tất yếu,
nhưng không thấy ranh giới của các phương thức ấy trong việc tiếp nhận thưởng thức văn bảntác phẩm cũng là một hạn chế- một bằng chứng về việc không hiểu bản chất của sáng tạo nghệ
thuật; không thấy cái hay cái tinh tế và kì diệu của tác phẩm văn chương. Một nhà văn Pháp
nhỏ“[1]
b) Đoạn kể về chị Dậu
“Đàn chó cứ vây kín chung quanh chị dậu như quân đèn cù. Hình như chúng nó muốn cố làm
hết phận sự với chủ: con nào con nấy nhe răng lè lưỡi, chỉ chực vồ vào hai chân chị chàng đáng
thương.
Cái nón dùng làm khí giới đã bị đàn vật cắn rách tan tành. Chị Dậu luống cuống không biết làm
thế nào. Bí quá, chị phải giơ hai nắm tay đánh nhau bộ với “đội lính coi nhà“ của ông Nghị.“[1]
Ở Đoạn a), tất cả các chi tiết hầu như tập trung vẽ ngoại hình, tả tâm trạng, làm nổi rõ chân dung
chị Dậu. Dễ dàng nhận ra đây là một đoạn văn thuộc kiểu văn bản miêu tả. Ngô Tất Tố chỉ tập
trung vẽ chân dung chị Dậu. Ở đoạn b), các chi tiết tập trung thuật lại, kể lại một sự việc, hành
động đã xảy ra: vừa bước vào sân nhà Nghị Quế, để thương lượng chuyện bán con, bán chó, đã
bị đội lính giữ nhà của ông Nghị xông ra cắn, chị Dậu phải tìm mọi cách chống cự lại chúng.
Đoạn b) là đoạn rất có “chuyện” chúng là văn tự sự, đoạn a) chỉ là những bức vẽ, những tấmn
ảnh, chúng không có “chuyện”, và là văn miêu tả.
Trong văn bản miêu tả, người ta phải chú ý đến việc làm sao cho cảnh, người, vật hiện lên với
đầy đủ đường nét, màu sắc, tiết tấu riêng của nó. Vì vậy, phải chú ý đặc biệt đến việc quan sát.
Tùy theo yêu cầu của việc miêu tả mà chọn vị trí, thời điểm quan sát cho thích hợp. Có thể quan
sát đối tượng từ một hay nhiều góc độ, thời điểm.
Tuy nhiên như trên đã nêu, trong thực tế, các đoạn văn miêu tả và kể chuyện không tồn tại đơn
độc, chúng “xen lẫn nhau”, là “phương tiện” của nhau... Hãy đọc đoạn văn sau:
“ Không ! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn, nhưng lại đáng buồn theo một
nghĩa khác. Tôi ở nhà Binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão
Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao trong nhà. Tôi
xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai
mắt long lên sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sủi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một
cái, nảy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đên hai giờ
đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và
lại một ý nghĩ, một cảm tưởng…
Cũng như văn miêu tả, văn biểu cảm, ít khi sử dụng độc lập. Nó thường được sử dụng phối hợp
với văn miêu tả, tự sự, văn thuyết minh,…
Truyện ngắn Cố hương của Lỗ Tấn, Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ của Thạch Lam, Tỏa nhị
Kiều của Xuân Diệu, Mợ Du của Nguyên Hồng, Bức tranh của Nguyễn Minh Châu,… thường
được xem là những truyện ngắn trữ tình bởi chúng rất giàu tính biểu cảm. Trong Cố hương của
Lỗ Tấn, thỉnh thoảng ta nghe thấy một thứ tiếng nói vọng lên từ tâm hồn nhân vật Tấn, người kể
chuyện xưng “tôi”, rất biểu cảm: “Tôi nằm xuống, nghe nước róc rách vỗ vào mạn thuyền. Biết
là tôi đang đi theo con đường của tôi. Tôi nghĩ bụng: tôi và Nhuận Thổ, tuy cách bức đến như
thế này, nhưng con cháu chúng tôi vẫn còn thân thiết với nhau. Chẳng phải là cháu Hoàng đang
mơ tưởng nhớ đến Thủy Sinh đó ư? Tôi mong ước chúng nó sẽ không giống chúng tôi, không
bao giờ phải cách bức nhau cả… Nhưng tôi cũng không muốn chúng nó vì thân thiết với nhau
mà phải vất vả, chạy vạy như tôi, cũng không muốn chúng nó phải khốn khổ và đần độn như
Nhuận Thổ; cũng không muốn chúng nó phải khốn khổ và tàn nhẫn như bao nhiêu người khác.
Chúng nó cần phải sống một cuộc đời mới, một cuộc đời mà chúng gtôi chưa từng được sống.”
Tự sự và biểu cảm cũng có mối quan hệ xen lồng. Trong văn biểu cảm cũng có thể có những câu
chuyện, nhân vật... nghĩa là các yếu tố tự sự. Tuy nhiên, các yếu tố tự sự này không phát triển
thành những mâu thuẫn phức tạp vì chúng chỉ là phương tiện để biểu lộ tình cảm hay thuyết
minh cho một tư tưởng nào đó của chủ thể mà thôi.
Cũng như với văn bản miêu tả, văn biểu cảm và tự sự thường không tách khỏi nhau trong thực tế.
Những đoạn văn biểu cảm thường được trích ra từ những truyện ngắn hay tiểu thuyết, và trái lại,
trong các tác phẩm biểu cảm vẫn có những đoạn văn tự sự.
Trong văn bản tự sự, ngoài các yếu tố tình tiết, yếu tố miêu tả cảnh vật, con người... còn có yếu
tố biểu cảm. Những yếu tố biểu cảm (vui, buồn, giận hờn, lo âu, mong ước, hi vọng, nhớ
thương...) luôn luôn hòa quyện vào cảnh vật, sự việc đang diễn ra, đang được nói đến. Khi viết
văn tự sự, người viết sẽ kết hợp kết hợp phương thức biểu cảm trong bài viết của mình khi muốn
bày tỏ cảm xúc, khơi gợi sự đồng cảm ở người nghe, người đọc. Các yếu tố biểu cảm trong văn
bản tự sự thường được biểu hiện qua ba dạng thức sau đây:
Nguyễn yêu da diết và nặng lòng với Cô Tô, một mảnh hồn của đất nước trên vùng vịnh Bắc Bộ,
đến mức nào!
2.3. Tự sự và thuyết minh
Tự sự và thuyết minh là hai kiểu văn bản rất khác nhau. Nhưng trong văn bản thuyết minh, khi
cần, người ta cũng lồng ghép vào một số đoạn văn tự sự. Ví dụ khi thuyết minh về một thắng tích
lịch sử, người ta có thể đưa vào một số đoạn trần thuật một sự kiện lịch sử, kể lại một huyền
thoại,… liên quan trực tiếp đến thắng tích lịch sử ấy. Khi thuyết minh một vấn đề văn hóa, văn
học, người ta có thể thuật, tóm tắt lại một tác phẩm văn học làm cơ sở, luận cứ cho việc thuyết
minh sinh động, sáng rõ thuyết phục hơn.
Sự lồng ghép này có thể ứng dụng rất phổ biến trong loại truyện viết về các danh nhân, các nhà
văn hoá- khoa học, các nhà văn- nghệ sĩ lớn; truyện về các nhân vật lịch sử... Chẳng hạn trích
đoạn sau đây kể về cuộc đời Võ Nguyên Giáp, một nhân vật lịch sử của Việt Nam thời hiện đại.
Nếu đọc toàn bộ văn bản tự sự này, ta sẽ thấy người viết giới thiệu rất nhiều những con người, số
liệu và sự kiện lịch sử có thật một cách khách quan nhằm giúp người đọc thấy rõ chân dung của
nhân vật lịch sử Võ Nguyên Giáp. Đó chính là vai trò của văn thuyết minh trong tự sự :“
Khoảng đầu tháng 10.1930, trong cuộc khủng bố Xô Viết Nghệ - Tĩnh, Võ Nguyên Giáp bị bắt và
bị giam ở nhà lao Thừa phủ (Huế), cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái, em trai là Võ
Thuần Nho và các thầy giáo Đặng Thai Mai, Lê Viết Lượng... Cuối năm 1931, nhờ sự can thiệp
của Hội Cứu tế đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do nhưng lại bị Công sứ Pháp tại
Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế tiếp tục làm báo Tiếng dân, Võ Nguyên Giáp bèn trở về quê
rồi ra Hà Nội, miệt mài tự học chương trình hai lớp đệ tam, đệ tứ trung học và chương trình
bằng Tú tài phần I. Lúc này, Trường Trung học Albert Sarraut tại Hà Nội mở một lớp thí sinh tự
do cho những ai muốn dự thi Tú tài phần II. Võ Nguyên Giáp đăng ký thi và đã đỗ đầu. Bạn học
cùng lớp này có Phạm Huy Thông. Sau khi có bằng tú tài toàn phần, Võ Nguyên Giáp được
nhận vào dạy ở Trường tư thục Thăng Long về Lịch sử và Pháp văn.” [1]
Ngược lại trong văn tự sự, khi cần, người ta cũng lồng ghép vào một số đoạn thuyết minh với
những số liệu, sự kiện, chi tiết rất cụ thể nhằm tạo ấn tượng sâu đậm về đối tượng được nói tới.
Chẳng hạn đoạn viết về cây xà nu trong thiên truyện Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành:
Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu
ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là
những người đáng thương, không bao giờ ta thương...”, hoặc “ Một người đau chân có lúc nào
quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì
người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa”[1] v.v.
Các yếu tố nghị luận cũng không nhằm mục đích nào khác là khắc sâu, tô đậm thêm tính cách
nhân vật và khơi gợi trong người đọc những suy ngẫm về con người, cuộc đời. Văn bản tự sự sau
đây là một văn bản chứa các yếu tố nghị luận như thế.
Bức tranh tuyệt vời[1]
Một hoạ sĩ suốt đời mơ ước vẽ một bức tranh đẹp nhất trần gian. Ông đến hỏi vị giáo sĩ để biết
được điều gì đẹp nhất. Vị giáo sĩ trả lời : "Tôi nghĩ điều đẹp nhất trần gian là niềm tin, vì niềm
tin nâng cao giá trị con người".
Hoạ sĩ cũng đặt câu hỏi tương tự với cô gái và được trả lời : "Tình yêu là điều đẹp nhất trần
gian, bởi tình yêu làm cho cay đắng trở nên ngọt ngào, mang đến nụ cười cho kẻ khóc than, làm
cho điều bé nhỏ trở nên cao trọng, cuộc sống sẽ nhàm chán biết bao nếu không có tình yêu".
Cuối cùng hoạ sĩ gặp một người lính mới từ trận mạc trở về. Được hỏi, người lính trả lời : "Hoà
bình là cái đẹp nhất trần gian, ở đâu có hoà bình ở đó có cái đẹp". Và hoạ sĩ tự hỏi mình : "Làm
sao tôi có thể vẽ cùng lúc niềm tin, hoà bình và tình yêu ?".
... Khi trở về nhà, ông nhận ra niềm tin trong ánh mắt các con, tình yêu trong cái hôn của người
vợ. Chính những điều đó làm tâm hồn ông tràn ngập hạnh phúc và bình an. Hoạ sĩ đã hiểu thế
nào là điều đẹp nhất trần gian. Sau khi hoàn thành tác phẩm, ông đặt tên cho nó là : "Gia đình".
Thật vậy, gia đình là nơi đầy ắp tiếng cười của trẻ thơ, tiếng hát của người mẹ và sức mạnh của
người cha. Nơi đó có hơi ấm của những con tim biết yêu, là ánh sáng của đôi mắt tràn đầy hạnh
phúc, là sự ân cần, là lòng chung thuỷ. Gia đình là ngôi thánh đường đầu tiên cho tuổi thơ học
những điều hay lẽ phải, niềm tin và lí tưởng sống.
- Đó là nơi chúng ta tìm về để được an ủi, nâng đỡ.
- Đó là nơi những món ăn đơn sơ cũng là mĩ vị.
lòng thương nhớ mênh mông”[1]...
Rất nhiều từ ngữ tả tình, gợi tình, nhưng cái buồn “từ kiếp trước” ấy chỉ cốt làm cho cảnh vật có
được cái linh hồn huyền bí của một đêm sông nước tĩnh mặc.
Trong văn miêu tả lại có những đoạn văn tả nội tâm, thật khó phân biệt với văn biểu cảm, nhất là
khi miêu tả nội tâm của chính mình:
... “Tôi luôn cảm thấy buồn và cô đơn. Nhất là buổi chiều. Những người đi làm đồng hay đi đâu
đó đều trở về nhà, hí húi nấu cơm và bận rộn với bao nhiêu công việc gia đình. Những lúc ấy, tôi
một mình đi bộ ra cánh đồng. Mộ mẹ tôi kia- một nấm đất con con nằm giữa đồng lúa. Tôi hái
một bó hoa có đủ các màu để lên góc mộ. Rồi tôi ngồi xuống bên cạnh. Mặt đất âm ấm quen
thuộc và gần gũi. Phút chốc, tôi như bị ngợp đi trước một thiên nhiên rộng lớn lung linh màu sắc
và vang động những âm thanh. Một cơn mưa bóng mây. Phía chân trời ửng lên màu hồng tía vừa
rực rỡ vừa im lìm. Những bông lúa trổ nhánh màu xanh lục vươn cao toả những chiếc lá dài sắc
nhọn vào trong hoàng hôn tím lịm. Bầy châu chấu bay lên, cánh mỏng nhiều màu sắc va vào
nhau tiếng rào rào như mưa sa. Cái áo trắng tôi đang mặc đã đổi sang màu tím sẫm của hoàng
hôn. Tôi bàng hoàng khi từ đâu đó cất lên tiếng sáo diều nghiêng trầm lảnh lói- những âm thanh
trong trẻo hoà vào trong trời đất mênh mông rợp bóng mây ngũ sắc. Ôi thiên nhiên rộng lớn,
hùng vĩ, kì lạ có thấy chăng kiếp người nhỏ bé, khổ ải và ngắn ngủi. Mẹ ơi, sao mẹ không còn
sống đến hôm nay để con trò chuyện với mẹ, để con khóc với mẹ. Bà thương con, nhưng bà già
rồi, con không muốn làm bà buồn khổ. Chỉ có mẹ, con tin thế, là mẹ hiểu con. Mẹ ở đâu ? Nước
mắt tôi chảy dài xuống má...”[1]
Những nhận xét và đánh giá đều tập trung vào làm rõ thêm đặc điểm và yêu cầu của một đoạn
văn tự sự có kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm. Chẳng hạn với đoạn văn của
Nam Cao sau đây:
“ Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi chơi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
- Cậu vàng đi đời rồi, ông giáo ạ !
- Cụ bán rồi ?
- Bán rồi. Họ vừa bắt xong.
Lão cố làm ra vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm
2.6. Nghị luận và các phương thức khác
Văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội, có vai trò rèn
luyện tư duy và năng lực biểu đạt những vấn đề có ý nghĩa trong thực tế đời sống. So với các
kiểu văn bản như kể chuyện, miêu tả, biểu cảm... văn nghị luận có những điểm khác biệt.
Nếu như văn miêu tả, kể chuyện chỉ qua một số từ ngữ mà lột tả và làm sống dậy trước mắt
người đọc thần thái của sự vật, sự việc... thì văn nghị luận lại tiêu biểu cho cách nói chặt chẽ,
hùng hồn và giàu sức thuyết phục. Nếu như văn hư cấu tác động nhiều vào trí tưởng tượng, kích
thích óc quan sát… thì văn nghị luận tác động mạnh mẽ vào nhận thức lí tính, nâng cao khả năng
lập luận, rèn luyện tư duy lô-gic cho người viết.
Khác với văn hình tượng, văn nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu
bằng lí lẽ và lập luận. Nếu như văn hư cấu nhằm kích thích trí tưởng tượng, xây
dựng óc quan sát tinh tế với tình cảm chân thực, những khám phá hồn nhiên về thiên nhiên, về
đời sống gia đình, xã hội... thì văn nghị luận nhằm hình thành và phát triển khả năng lập luận
chặt chẽ, trình bày những lí lẽ và dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu sức thuyết phục, diễn tả
những suy nghĩ và nêu ý kiến riêng của mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống hoặc trong
văn học, nghệ thuật. Hãy đọc và so sánh các đoạn văn sau:
Đoạn 1: “... Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi. Mặt trăng tròn, to và đỏ từ từ lên ở chân trời sau
rặng tre đen của làng xa. Mấy sợi mây còn vắt ngang qua, mỗi lúc một mảnh dần, rồi tắt hẳn.
Trên quãng đồng ruộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại thoảng những hương thơm ngát.
Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, thật là sáng trăng hẳn; trời bây giờ trong vắt,
thăm thẳm và cao; mặt trăng nhỏ lại sáng vằng vặc ở trên không và du du như sáo diều; ánh trăng
trong chảy khắp cả trên ngành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường nhựa trắng xoá.
Trong cái vườn nhỏ trên bờ ao, Tuấn nằm trên chõng kê vào bóng tối, ngửa mặt lên trời. Chàng
nhìn trăng qua cành lá tre, cạnh lá sắc và đen như mực vắt qua mặt trăng, như một bức tranh Tàu.
Rêu ở tấm đá bờ ao cạnh đó bốc lên hơi lạnh. Bức tường hoa giữa vườn sáng ánh trăng lên, lá
lựu dày và nhỏ lấp lánh như thủy tinh.
Bóng cây trông mát quá, thân mật và kín đáo”...
(Thạch Lam- Nắng trong vườn)
giữa vườn” cũng “sáng ánh trăng lên”; và cuối cùng, ánh trăng làm cho những “lá lựu dày và
nhỏ lấp lánh như thủy tinh”...
Khai thác vẻ đẹp của đêm trăng, nhà văn Thạch Lam đã tìm thấy cái vẻ đẹp rất thanh tú, tao
nhã hiếm thấy, và đặc biệt là cả một nét đẹp thâm trầm, bí ẩn của đêm trăng vạn đại. Cho nên,
hình ảnh “bóng cây” dưới đêm trăng cũng sao mà bí ẩn và như có linh hồn: “Bóng cây trông mát
quá, thân mật và kín đáo”... Nổi bật trong bút pháp miêu tả của Thạch Lam là một kiểu hội họa
bằng lời tràn ngập chất thi vị. Có rất nhiều ý, nhiều từ ngữ giống như trong một bài thơ:“... Ngày
chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi... Mấy sợi mây còn vắtngang qua, mỗi lúc một mảnh dần,
rồi tắt hẳn.... Ánh trăng trong chảy khắp cả trên ngành cây, kẽ lá, tràn ngập trên con đường nhựa
trắng xoá”...
Trái lại với đoạn 1, đoạn 2 là một đoạn văn nghị luận đặc sắc. Điều gì giúp ta nhận ra đó là văn
nghị luận ?
Trước hết ở đoạn văn sau hiện thực được nói tới không phải là sự vật, sự việc, con người. Ở đây
người viết không nhằm miêu tả, dựng lên trước mắt người đọc cảnh vật một đêm trăng tuyệt đẹp
( như đoạn 1) mà tập trung nêu lên ý kiến, thể hiện quan điểm, thái độ của mình trước một vấn đề
của cuộc sống. Đó chính là luận điểm mà người viết muốn làm sáng tỏ, muốn thuyết phục người
đọc, người nghe và thuyết phục chính mình.
Linh hồn của bài văn nghị luận là luận điểm, tức là tư tưởng, quan điểm, chủ trương, đánh giá
của người viết được thể hiện dưới hình thức những câu văn có tính chất khẳng định hay phủ
định. Trong đoạn văn thứ 2, luận điểm mà Xuân Diệu muốn khẳng định và làm sáng tỏ là: Nhìn
chung trong thơ cổ điển của ta, bao gồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên, nếu xét về khía cạnh có tính
dân tộc hơn cả, thơ Hồ Xuân Hương là tiêu biểu nhất.
Có thể nói mỗi loại văn có một vẻ đẹp riêng. Nếu như văn miêu tả, kể chuyện chỉ qua một số từ
ngữ mà lột tả và làm sống dậy trước mắt người đọc thần thái của sự vật, sự việc... thì văn nghị
luận lại tiêu biểu cho cách nói chặt chẽ, hùng hồn và giàu sức thuyết phục. Do đặc điểm này mà
người viết văn nghị luận cần phải biết tư duy trừu tượng, nghĩa là phải có quan điểm, có quan
niệm, có chủ kiến; đồng thời phải biết vận dụng các thao tác phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn
dịch, so sánh... một cách hợp lý, hợp logic để phát biểu những nhận định, tư tưởng, suy nghĩ, thái