BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐÀO XUÂN CƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC
GIA ĐÌNH - TỪ THỰC TIỄN TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HƯƠNG
Phản biện 1:…………………………………………………………......
…………………………………………………..............……………...
Phản biện 2:…………………………………………………………….
……………………………………………….......................…………..
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành
chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp …....., Nhà...... - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia
Số:… - Đường…………… - Quận……………… - TP………………
Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng …… năm 201...
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Một số công trình nghiên cứu được công bố về vấn đề này, cụ
thể:
1
“Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phòng
chống bạo lực gia đình” của Nguyễn Thị Ngọc Bích, Đại học Luật
Hà Nội;
“Tìm hiểu và thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình”
của Phạm Văn Dũng, Nguyễn Đình Thơ;
“Bàn về ranh giới giữa xử lý hình sự và xử lý hành chính các
hành vi bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Lan
Chi, Viện Nhà nước và Pháp luật;
“Phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nước ta hiện
nay- Thực trạng vấn đề và giải pháp” của Viện nghiên cứu Quyền con
người, Học viện Chính trị Quốc gia HCM 2008;
“Bạo lực gia đình–một sự sai lệch giá trị” của tác giả Lê Thị
Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh, NXB Khoa học xã hội 2007;
“Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình” của tác giả
Nguyễn Ngọc Điện;
“Pháp luật quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình đối với
phụ nữ” của tác giả Trần Thị Hòe;
“Tính hợp lý, khả thi của một số biện pháp xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình” của tác giả Phan
Thị Lan Hương;
“Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em - thực trạng và nguyên
nhân” của Ngô Thị Hường, Đại học Luật Hà Nội;
“Tổng quan về bạo lực và pháp luật phòng, chống bạo lực đối
làm rõ nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp
luật phòng, chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang.
3
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng pháp
luật phòng, chống BLGĐ trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang từ năm 2010
đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những
quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật phòng, chống
bạo lực gia đình, trên cơ sở những phương pháp nghiên cứu cụ thể:
thống kê, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, phân tích, so sánh để phân
tích và làm rõ các vấn đề khoa học cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, những vấn đề được nghiên cứu trong luận văn
góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình, đóng góp vào việc hoàn thiện pháp
luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thay đổi phần nào nhận
thức của người dân về vấn đề bạo lực gia đình, bên cạnh đó, những
giải pháp được đề xuất vận dụng vào thực tiễn sẽ nâng cao hiệu quả
viên khác trong gia đình. Các hành vi bạo lực gia đình có thể được
biểu hiện dưới dạng hành động như hành hạ, ngược đãi, đánh đập…
hoặc không hành động như bàng quan, thờ ơ, ghẻ lạnh, bỏ mặc hay
“chiến tranh lạnh”.
1.1.2.
Nguồn gốc bạo lực gia đình
Nguồn gốc của bạo lực trong gia đình là do sự nhận thức của
mỗi cá nhân chưa đầy đủ về bình đẳng giới. Bạo lực gia đình là biểu
hiện của sự bất bình đẳng giới, là sản phẩm của tư tưởng gia trưởng
“trọng nam khinh nữ”. Các yếu tố như tệ nạn xã hội, kinh tế thiếu
thốn, mâu thuẫn gia đình…cũng chỉ là những nguyên nhân thứ yếu
dẫn tới bạo lực gia đình. Vì vậy, để giải quyết được triệt để vấn đề bạo
lực gia đình, chúng ta cần phải thay đổi nhận thức của từng cá nhân
cũng như của cả cộng đồng về vấn đề bình đẳng giới.
5
1.1.3.
Đặc điểm của bạo lực gia đình:
Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi trái pháp luật, xâm phạm
những quyền cơ bản nhất của con người đó là quyền được sống, quyền
được tự do, quyền được bảo vệ.
Thứ hai, bạo lực gia đình là hành vi xảy ra giữa các thành viên
trong gia đình, tức là chủ thể có hành vi bạo lực và nạn nhân của hành
vi bạo lực ấy phải là thành viên trong gia đình.
Đối với xã hội: bạo lực gia đình để lại nhiều hậu quả
nghiêm trọng tới xã hội, làm giảm đi sự đóng góp về kinh tế, xã hội
của người bị bạo lực đối với xã hội; gây áp lực lên hệ thống y tế; chi
phí cho chăm sóc sức khỏe do bạo lực gia đình tăng lên; ảnh hưởng
đối với vấn đề kế hoạch hóa gia đình
1.2. Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
1.2.1.Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã
hội có liên quan tới hành vi bạo lực giữa các thành viên trong gia đình,
nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ, tạo điều kiện
cần thiết để xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc, văn minh, góp
phần ổn định trật tự xã hội, thực hiện các mục tiêu về quyền con
người, quyền công dân đã được Nhà nước ghi nhận.
1.2.2. Nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
Mục tiêu cơ bản của pháp luật về phòng, chống BLGĐ
Mục tiêu chung nhất của pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình đó là “xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh
phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội”,
trên cơ sở quyền bình đẳng giới được tôn trọng, trẻ em được chăm
sóc, bảo vệ và giáo dục, các quyền con người về tinh thần, kinh tế
được bảo vệ khỏi các hành vi bạo lực gia đình.
Các nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình
chức có thẩm quyền, có nghĩa vụ chăm sóc, bồi thường cho nạn nhân
của mình (quy định tại Điều 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình)
Trách nhiệm của cá nhân, gia đình và các cơ quan tổ
chức trong phòng, chống bạo lực gia đình
Phòng chống bạo lực gia đình là trách nhiệm của gia đình,
thành viên gia đình (Điều 32 Luật phòng, chống bạo lực gia đình); là
trách nhiệm của các cá nhân ( Điều 31 Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình) và là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức như: Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và một số Bộ, ngành
khác (Điều từ 36 đến Điều 41 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình).
8
Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
Người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình có thể bị xử lý bằng các biện pháp khác nhau: xử lý kỷ luật,
xử lý hành chính, xử lý theo pháp luật dân sự, xử lý theo pháp luật
hình sự. Tùy từng mức độ xâm hại do hành vi bạo lực gia đình gây ra
trong những trường hợp cụ thể để lựa chọn hình thức xử lý tương
xứng.
Vấn đề phòng ngừa bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân
chính trị- xã hội là các tổ chức đại diện quyền, lợi ích pháp chính của
9
phụ nữ và trẻ em, chính vì thế các tổ chức chính trị- xã hội đã thể hiện
được tiếng nói mạnh mẽ của mình trong công tác tuyên truyền, vận
động nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về bạo lực gia đình,
đồng thời tham mưu với các cấp có thẩm quyền về các văn bản hướng
dẫn thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình và tăng
cường vai trò kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật theo chức
năng, nhiệm vụ của mình.
1.3.2.
Yếu tố kinh tế
Việc xây dựng, thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực
gia đình đạt kết quả cần phải được thực hiện đồng bộ với các các
chính sách kinh tế, nâng cao nhận thức pháp luật về phòng chống bạo
lực gia đình phải đi đôi với nâng cao đời sống vật chất cho người dân.
Các chính sách kinh tế hiệu quả góp phần cải thiện đời sống vật chất
của người dân sẽ tạo nền tảng vững chắc cho việc nâng cao dân trí,
giảm thiểu bạo lực gia đình trong xã hội.
1.3.3.
Yếu tố văn hóa, xã hội.
Cần phải xây dựng cũng như thực hiện pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình để đảm bảo vừa mang tính răn đe, vừa định
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA
ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng bạo lực gia đình và pháp luật về phòng
chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
2.1.1. Thực trạng và nguyên nhân bạo lực gia đình ở tỉnh
Tuyên Quang
2.1.1.1. Thực trạng bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
Thứ nhất, bạo lực giữa vợ và chồng
Bạo lực giữa vợ và chồng là hình thức bạo lực được coi là phổ
biến nhất trong gia đình, trong đó bạo lực do người chồng gây ra chủ
yếu và lớn nhất là bạo lực về thể chất - hình thức bạo lực dễ nhận thấy
11
nhất và bị lên án mạnh mẽ nhất, thể hiện qua các hình thức cụ thể như
sau:
Bạo lực về thân thể: Bạo lực về thân thể là hình thức
khá phổ biến trong các dạng bạo lực gia đình hiện nay, là một trong
những nguyên nhân hàng đầu gây ra thương tích cho phụ nữ. Bạo
lực thân thể là dạng bạo lực phổ biến hiện nay ở cả khu vực nông
thôn lẫn thành thị, chiếm đa phần các vụ bạo lực gia đình trên địa
bàn.
Bạo lực về tinh thần: Cùng với bạo lực về thân thể, bạo
chấp nhận. Tại Tuyên Quang, do đa phần dân cư tâp trung ở khu vực
nông thôn, gắn với văn hóa làng xã, còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu,
do đó những hành động “dạy bảo” con cái, xuất phát từ quan niệm
“yêu cho roi cho vọt” và giáo dục cần phải nghiêm khắc vẫn còn là tư
tưởng phổ biến. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi những chuẩn
mực tiến bộ về quyền con người đã và đang được phổ biến trên thế
giới thì những tư tưởng, cách làm này cần được loại bỏ, đặc biệt là
những trường hợp bạo lực với con cái vượt ra ngoài phạm vi giáo dụcmột tình trạng ngày càng gia tăng- thì càng cần phải bị trừng trị
nghiêm khắc.
Thứ ba, bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình
Bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình với nhau
cũng đã tồn tại từ lâu nhưng chiếm tỷ lệ không lớn, vì mức độ phụ
thuộc giữa các thành viên này là không cao như giữa vợ chồng hay
cha mẹ với con. Nạn nhân của loại bạo lực này vẫn chủ yếu là phụ nữ
và trẻ em khi mà các thành viên này muốn tham gia vào việc “giáo
dục” những người làm dâu, làm con trong gia đình. Ngoài ra, những
mâu thuẫn trong gia đình không tìm được cách giải quyết cũng dẫn tới
nạn bạo lực giữa những thành viên khác: anh em, chú cháu đánh nhau
vì xích mích trong cuộc sống, vì tranh chấp tài sản; chị em mắng chửi,
nói xấu nhau…
2.1.1.2. Nguyên nhân của bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên
Quang
Bất bình đẳng giới
Nhiều cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu gần đây nhất đã chỉ
ra rằng có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình đối với phụ
13
Tệ nạn xã hội là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp
luật trong đó có vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình.
Thực tiễn đã chứng minh tệ nạn xã hội làm nhiều người đàn ông đã
mất tự chủ và thường giải quyết bất đồng với vợ bằng hành vi bạo lực.
Những tệ nạn xã hội được thường thấy đó là: nghiện rượu, ma túy, cờ
bạc, ngoại tình.
Hiểu biết pháp luật hạn chế
Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, mặc dù Luật Phòng, chống
bạo lực gia đình đã có hiệu lực từ năm 01/7/2008 nhưng nhận thức về
14
pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình còn nhiều hạn chế. Không chỉ
người dân thiếu hiểu biết mà nhiều lãnh đạo các cấp đã coi bạo lực gia
đình là chuyện nội bộ của gia đình, là chuyện trong nhà cần đóng cửa
bảo nhau và chưa có biện pháp can thiệp kịp thời. Phòng, chống bạo
lực gia đình đôi khi còn chưa được các cấp chính quyền, đoàn thể ở
địa phương quan tâm sâu sát do chưa nhận thức hết tầm quan trọng
của vấn đề..
Nguyên nhân từ phía người phụ nữ
Thực tế cho thấy nhiều người phụ nữ đã không nhận thức
được việc chồng sử dụng bạo lực đối với mình là trái pháp luật mà coi
đó là chuyện thường tình, không tránh khỏi trong cuộc sống gia đình,
bộ, công chức, viên chức, chiến sĩ lực lượng vũ trang và cộng đồng.
Đảm bảo môi trường pháp luật về lĩnh vực gia đình, góp phần củng
cố, xây dựng gia đình Việt Nam thực sự ấm no, bình đẳng, tiến bộ và
hạnh phúc.
Kế hoạch số 45/KH-UBND về thực hiện đề án: Tuyên truyền,
giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2010-2015 tỉnh Tuyên Quang để
đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nâng
cao nhận thức pháp luật của người dân về trò của người phụ nữ trong
gia đình và xã hội.
Đồng thời, để triển khai thực hiện Chiến lược phát triển gia
đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Chính phủ, ngày
26/6/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng Kế hoạch
số 45/KH-UBND về thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt
Nam và xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020.
Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân tỉnh còn ban hành hàng loạt
các Chỉ thị để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể hàng năm về công tác
gia đình trên địa bàn như: tổ chức ngày Quốc tế hạnh phúc 20 tháng 3,
16
ngày Gia đình Việt Nam 28 tháng 6, ngày Quốc tế xoá bỏ bạo lực đối
với phụ nữ và bình đẳng giới 25 tháng 11; thành lập Ban chỉ đạo công
tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình cấp tỉnh, huyện, xã
(hiện đã thành lập ở 141/141 xã, phường, thị trấn).
2.1.2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình ở tỉnh Tuyên Quang
Hạn chế:
Thứ nhất, công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện luật phòng,
chống bạo lực gia đình chưa thường xuyên, liên tục và còn thiếu các
giải pháp đồng bộ từ kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với chính sách pháp
luật, từ đó đã làm hạn chế những kết quả trong đấu tranh đẩy lùi bạo
lực gia đình.
Thứ hai, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên còn thiếu và
yếu, mặc dù đã được tập huấn, đào tạo nhưng vẫn chưa đáp ứng được
đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ.
Thứ ba, sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể có liên
quan trong công tác phòng chống bạo lực gia đình, mặc dù đã có sự
tập trung chỉ đạo từ các cấp lãnh đạo, song hiệu quả của công tác phối
hợp chưa cao, đôi khi còn nặng về hình thức.
Thứ tư, nhiều quy định của pháp luật về phòng chống bạo lực
gia đình chưa được thực thi nghiêm túc.
Thứ năm, đối với việc xử lý những hành vi vi phạm pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình thì sự vào cuộc của cơ quan chức năng
còn rất hạn chế.
18
2.2. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực
hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình
2.2.1.1. Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại địa phương để đảm bảo đẩy
lùi nạn bạo hành trong gia đình nhưng cũng tạo điều kiện tốt nhất để
xây dựng và phát triển gia đình, để các cá nhân trong gia đình được
đóng góp công sức vào quá trình phát triển chung của xã hội và cộng
đồng, đồng thời ngăn chặn có hiệu quả bạo lực gia đình tái diễn trong
tương lai.
2.2.1.4. Phát huy vai trò của cá nhân, tổ chức và cả
cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình; chú trọng những
biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình tại cộng đồng; phát hiện và
có những giải pháp hỗ trợ kịp thời đối với nạn nhân bạo lực gia
đình
Tính chất và mức độ của hành vi bạo lực gia đình đã ảnh
hưởng nghiêm trọng tới thể chất, tinh thần của nạn nhân, vì vậy, việc
phòng chống bạo lực gia đình phải được sự quan tâm và chung tay
giải quyết không chỉ của các cấp chính quyền mà còn của cả cộng
đồng.
2.2.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình
2.2.2.1. Xác định rõ hành vi bạo lực gia đình
Cần có sự hướng dẫn cụ thể và phải phân loại chi tiết và đầy
đủ về hành vi bạo lực gia đình từ đó mới có thể dễ dàng tuyên truyền,
giáo dục cho từng nhóm đối tượng cụ thể, tăng cường nhận thức về
20
những hành vi bạo lực gia đình, nhận diện chính xác hành vi vi phạm
để từ đó có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
2.2.2.2. Xác định rõ đối tượng của bạo lực gia đình
Hiện nay đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng, chống bạo lực
phạt hiện nay đối với một số tội liên quan đến những hành vi bạo lực
trong gia đình như: đối với tội bức tử (Điều 100) cao nhất là bảy năm
tù, còn các tội khác mức hình phạt cao nhất cũng chỉ tới ba năm tù là
chưa nghiêm, chưa đủ để mang tính răn đe. Do đó pháp luật hình sự
cần bổ sung thêm các tình tiết định khung như: "phạm tội đối với vợ,
chồng, con cái" và "gây tổn hại sức khỏe cho các thành viên trong gia
đình" vào các tội danh trên.
2.2.3. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về
phòng, chống bạo lực gia đình
2.2.3.1. Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ủy
Đảng, chính quyền địa phương và phát huy vai trò của cả hệ thống
chính trị trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình
Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần chỉ đạo
kịp thời, nhất quán, tăng cường hiệu quả phối kết hợp giữa các ban
ngành, cơ quan, tổ chức trên địa bàn trong công tác phòng chống
bạo lực gia đình, huy động những nguồn lực tại chỗ cũng như
nguồn vốn xã hội hóa duy trì và nhân rộng hoạt động của các mô
hình phòng chống bạo lực gia đình có hiệu quả, phát huy tối đa sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tại địa phương đối với
công tác phòng, chống bạo lực gia đình.
2.2.3.2. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ chuyên trách trong công tác phòng, chống bạo lực
gia đình
Cần có những chiến lược dài hạn trong công tác đào tạo,
bồi dưỡng những cán bộ thực thi pháp luật chuyên trách tại địa
22
phương như: cán bộ tư pháp, báo cáo viên, tuyên truyền viên,