ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
PHẠM THỊ DIỆU LINH
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
LƢU TRỮ CẤP HUYỆN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LƢU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
HÀ NỘI - 2009
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
PHẠM THỊ DIỆU LINH
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
LƢU TRỮ CẤP HUYỆN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lƣu trữ
Mã số: 60 32 24
LUẬN VĂN THẠC SĨ LƢU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. Vƣơng Đình
Quyền
HÀ NỘI - 2009
2.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ CÁN BỘ CỦA LƢU TRỮ CẤP HUYỆN TẠI THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
2.3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ Ở LƢU TRỮ CẤP HUYỆN CỦA THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
2.4.
3.1.
3.2.
27
31
46
46
56
62
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG TÁC LƢU TRỮ Ở CẤP HUYỆN CỦA THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
73
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC LƢU TRỮ
CẤP HUYỆN CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC LƢU TRỮ
CẤP HUYỆN TẠI HÀ NỘI
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC LƢU TRỮ CẤP HUYỆN TẠI
HÀ NỘI
76
76
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tổ chức hành chính cấp quận, huyện và tƣơng đƣơng (sau đây gọi tắt là
cấp huyện) đã đƣợc hình thành từ sớm và trở thành một cấp hành chính trung
gian có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức quản lý nhà nƣớc theo lãnh thổ.
Song song với sự ra đời của đơn vị hành chính cấp huyện, các cơ quan quản lý
nhà nƣớc ở cấp này cũng đƣợc hình thành. Sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945, tổ chức hành chính cấp huyện vẫn đƣợc duy trì. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký Sắc lệnh số 63/SL ngày 22-11-1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban
hành chính các cấp ở vùng nông thôn và Sắc lệnh số 77/SL ngày 21-12-1945 về
tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố nhằm thiết lập bộ máy
chính quyền cách mạng ở cấp hành chính quan trọng này. Hiến Pháp1946 đƣợc
ban hành đã ghi nhận và khẳng định sự tồn tại của bộ máy chính quyền cấp
huyện trong hai Sắc lệnh kể trên. Từ đó tới nay, Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, kéo theo đó là những
biến đổi trong tổ chức bộ máy nhà nƣớc, nhƣng tổ chức hành chính và chính
quyền cấp huyện vẫn đƣợc duy trì tƣơng đối ổn định và ngày càng đƣợc củng cố,
đồng thời khẳng định vai trò của cấp này trong bộ máy quản lý của Nhà nƣớc ta.
Với tƣ cách là một đơn vị hành chính với đầy đủ các yếu tố tự nhiên và xã hội, ở
cấp huyện không chỉ tồn tại các cơ quan quan lý nhà nƣớc mà còn xuất hiện các
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất thực hiện nhiều chức năng
khác nhau trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoạt động của
những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này cùng với lịch sử hình thành và phát
triển của các huyện là nguồn gốc tạo nên những tài liệu lƣu trữ có giá trị. Đó
cũng là cơ sở quan trọng để khẳng định vị trí, vai trò của lƣu trữ huyện trong hệ
thống tổ chức lƣu trữ ở Việt Nam nhất là khi thực tế này có những mâu thuẫn
với quan điểm không coi cấp huyện là một cấp hành chính cần tổ chức lƣu trữ
lịch sử trong dự thảo Luật Lƣu trữ Việt Nam.
4
xã, Hà Nội đã có những thay đổi, làm ảnh hƣởng đến nhiều hoạt động của các
huyện, trong đó có công tác lƣu trữ. Do đó, việc khảo sát thực trạng công tác lƣu
trữ ở các huyện tại Hà Nội không chỉ cung cấp những thông tin về công tác lƣu
1
Pháp lệnh Lƣu trữ Quốc gia năm 2001.
5
trữ mà còn phần nào phản ảnh một số vấn đề thực tiễn xảy ra khi tiến hành điều
chỉnh địa giới hành chính ở Hà Nội.
Từ những xuất phát điểm trên, chúng tôi lựa chọn “Các giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác lưu trữ cấp huyện tại thành phố Hà Nội” làm đề tài luận
văn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi hƣớng đến ba mục tiêu cơ bản:
- Mô tả đƣợc về nội dung, thành phần và ý nghĩa của tài liệu lƣu trữ đƣợc
hình thành ở cấp huyện của Hà Nội để khẳng định vị trí, vai trò của lƣu trữ cấp
huyện;
- Phản ảnh đƣợc thực trạng công tác lƣu trữ tại các huyện và tƣơng đƣơng
của Hà Nội để làm cơ sở xây dựng các giải pháp liên quan;
- Đƣa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động của lƣu
trữ huyện tại Hà Nội.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này đƣợc triển khai với việc tập trung nghiên cứu hai đối tƣợng cơ
bản:
- Thực trạng tổ chức và hoạt động của lƣu trữ huyện tại Hà Nội;
- Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng.
Thành phần, nội dung, ý nghĩa của tài liệu lƣu trữ cấp huyện của Hà Nội
đƣợc quy định bởi tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc cấp huyện,
bởi lịch sử hình thành, phát triển và những đặc điểm văn hóa của Hà Nội. Do
vậy, nhiệm vụ này đặt ra cho tác giả trách nhiệm phải tìm hiểu, mô tả, khái quát
đƣợc những vấn để kể trên để làm căn cứ lý giải cho những đặc trƣng của tài liệu
lƣu trữ cấp huyện của Hà Nội cũng nhƣ giới thiệu về những tài liệu lƣu trữ này
nhƣ một loại hình di sản của Hà Nội.
- Phản ảnh thực trạng công tác lƣu trữ ở các huyện của Hà Nội:
Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lƣu trữ cấp huyện của Hà Nội
chỉ mang tính khả thi khi đƣợc xây dựng trên cơ sở đánh giá thực trạng của công
tác này. Do đó, với nhiệm vụ này, tác giả phải mô tả, khái quát đƣợc tình hình tổ
chức, biên chế, tình hình thực hiện nghiệp vụ lƣu trữ ở cấp huyện tại Hà Nội với
những số liệu và ví dụ thuyết phục.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lƣu trữ của các huyện
ở Hà Nội: Dựa vào kết quả thực hiện hai nhiệm vụ trên, tác giả sẽ đề xuất hệ
thống các giải pháp đồng bộ, trong đó chú trọng một vài giải pháp đƣợc coi là có
tính tiên quyết.
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
7
Về công tác lƣu trữ ở các cấp, trong đó có cấp huyện không phải là hƣớng
nghiên cứu hoàn tòan mới. Trong số nhiều công trình nghiên cứu về công tác lƣu
trữ, đã có những công trình đƣợc thực hiện một cách nghiêm túc, có đóng góp
quan trọng về khoa học và thực tiễn. Đó là đề tài cấp ngành “Cơ sở lý luận và
thực tiễn về tổ chức các kho lưu trữ ở Việt Nam” do Vƣơng Đình Quyền chủ trì,
đó là đề tài do TS. Dƣơng Văn Khảm chủ trì: “Cơ sở khoa học để tổ chức quản
lý nhà nước về công tác văn thư lưu trữ”. Đó là các luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Lƣu trữ học và Tƣ liệu học nhƣ : “Hoàn thiện hệ thống tổ chức lưu trữ
của hai tác giả PGS. TSKH Nguyễn Văn Thâm và TS. Nghiêm Kỳ Hồng. …
- Nghiên cứu chuyên sâu về tổ chức lƣu trữ ở cấp trung ƣơng hoặc cấp
tỉnh nhƣ trong khóa luận tốt nghiệp khóa 1991-1995 của sinh viên Nguyễn Thị
Lan Anh với nhan đề “Một số ý kiến bước đầu về tổ chứ lưu trữ chuyên ngành ở
nước ta”, bài viết “Xây dựng kho lưu trữ tỉnh là yêu cầu cấp bách” của tác giả
Phạm Thanh Dũng,…
- Với những nghiên cứu riêng cho lƣu trữ huyện, ngòai bài viết của tác giả
Hồ Văn Quýnh, đáng kể chỉ có luận văn thạc sĩ của Ths. Nguyễn Nghĩa Văn với
tựa đề “Cơ sở khoa học để định thời hạn bảo quản văn bản quản lý nhà nước ở
cấp huyện”. Luận văn này tập trung nghiên cứu các nguyên tắc, cơ sở để thực
hiện một nghiệp vụ lƣu trữ cụ thể trong công tác lƣu trữ huyện mà chƣa có
những khảo cứu rộng hơn.
Nhƣ vậy, các nghiên cứu về công tác lƣu trữ các cấp khá phong phú và có
nhiều giá trị tham khảo, đặc biệt là những nghiên cứu và đề xuất mang tính khoa
học, khẳng định các tiền đề, điều kiện và yêu cầu thiết lập các lƣu trữ. Tuy
nhiên, các nghiên cứu trực tiếp liên quan đến lƣu trữ huyện không nhiều và chƣa
có nghiên cứu nào đánh giá năng lực, thực trạng tổ chức của lƣu trữ cấp này
cũng nhƣ các giải pháp phát huy năng lực cần thiết của nó trong bối cảnh đƣợc
thừa nhận là một lƣu trữ lịch sử. Vì vậy, việc tập trung tìm hiểu năng lực hiện tại
của các lƣu trữ huyện và khả năng phát huy hiệu quả của nó trong điều kiện hiện
nay là điểm khác biệt trong nghiên cứu của tác giả so với những nghiên cứu
trƣớc đó.
6. Tài liệu tham khảo
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã sử dụng những nguồn tài liệu cơ
bản sau:
- Các giáo trình, sách chuyên khảo về lịch sử tổ chức hành chính, tổ chức
nhà nƣớc và lịch sử ngành nhƣ: Lịch sử nhà nƣớc và pháp luật Việt Nam của TS.
Vũ Thị Phụng; Văn bản quản lý nhà nƣớc và công tác công văn giấy tờ thời
phong kiến Việt Nam của PGS. Vƣơng Đình Quyền, Lƣu trữ Việt Nam - những
chặng đƣờng phát triển của PGS. TSKH. Nguyễn Văn Thâm và Ts. Nghiêm Kỳ
- Các phƣơng pháp logic, tổng hợp và thống kê: Đây là những phƣơng
pháp đƣợc sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn. Với lƣợng
thông tin tƣơng đối lớn, đa chiều, thậm chí có nhiều mâu thuẫn, tác giả phải sử
dụng các bảng thống kê tổng hợp và so sánh để tìm ra những số liệu đúng với
thực tế nhất cũng nhƣ phát hiện những vấn đề hoặc nội dung cần đƣợc phân tích
khoa học và giải quyết.
10
Các phƣơng pháp trên đều đƣợc vận dụng trên cơ sở phƣơng pháp luận
của Chủ nghĩa Mác- Lênin và cách tiếp cận hệ thống.
8. Đóng góp của đề tài
Nếu đƣợc thực hiện tốt luận văn sẽ có đóng góp quan trọng về mặt thực
tiễn ở hai điểm cơ bản sau:
- Góp phần cung cấp những lý giải khoa học cho việc xác định vị trí, vai
trò của lƣu trữ huyện trong bối cảnh sự tồn tại của lƣu trữ này đang trở thành chủ
đề thảo luận của các nhà khoa học và nhà quản lý khi Luật Lƣu trữ đang trong
quá trình xây dựng;
- Cung cấp một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các
lƣu trữ huyện ở Hà Nội nói riêng và những địa phƣơng khác nói chung khi thực
trạng công tác lƣu trữ ở cấp huyện còn nhiều bất cập.
9. Bố cục của luận văn
Luận văn của chúng tôi gồm 3 phần:
+ Phần Mở đầu: giới thiệu chung về đề tài và luận văn trong đó mô tả
những cơ sở để triển khai đề tài và khẳng định tính nghiêm túc của tác giả trong
quá trình thực hiện.
+ Phần Nội dung chính: gồm 3 chƣơng
- Chƣơng 1: Tổng quan về tài liệu lƣu trữ huyện của thành phố Hà Nội
Trong Chƣơng này, chúng tôi giới thiệu chung về tổ chức bộ máy và
những hƣớng nghiên cứu mới trong lúc các nhà khoa học và nhà quản lý vẫn
đang tiếp tục hòan thiện hệ thống lý luận và văn bản quản lý cho ngành lƣu trữ ở
Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận đƣợc sự góp ý và dìu
dắt tận tình của thầy giáo hƣớng dẫn là PGS. Vƣơng Đình Quyền. Tác giả cũng
đã nhận đƣợc sự cộng tác và chia sẻ của các cán bộ đang công tác trong ngành
lƣu trữ từ Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc đến cán bộ lƣu trữ tại các huyện và
tƣơng đƣơng. Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ quan trọng đó.
Tác giả cũng gửi lời cảm ơn chân thành và ghi nhận tới các đồng nghiệp và các
em sinh viên vì những đóng góp của họ khi trao đổi và góp ý.
Do những hạn chế từ phía chủ quan và khách quan, bao gồm cả những
khó khăn về địa bàn khảo sát rộng, những biến động về tổ chức lƣu trữ ở địa
phƣơng và khó khăn khi tiếp cận các nguồn tƣ liệu, luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót. Tác giả mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các độc giả, các
nhà nghiên cứu nhằm hoàn thiện đề tài trong những nghiên cứu tiếp theo.
12
NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU LƢU TRỮ CẤP HUYỆN CỦA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN Ở
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hà Nội là vùng đất đƣợc hình thành từ sớm, là một trong những đồng
bằng thuộc châu thổ sông Hồng – nơi khởi nguồn của nền văn minh lúa nƣớc.
Hà Nội bắt đầu trở thành kinh đô của nƣớc Đại Việt khi vua Lý Công Uẩn dời
đô về thành Đại La và đổi tên thành Thăng Long năm 1010. Kinh thành Thăng
Long ngày đó có diện tích gần tƣơng ứng với quận Hoàn Kiếm và một phần hai
quận Đống Đa, Hai Bà Trƣng ngày nay. Trải qua nhiều thế kỷ dƣới sự cai trị của
đầu khi mới bắt đầu hoạt động nhƣng sau khi Hiến Pháp 1946 có hiệu lực, cấp
huyện đƣợc xác định là một cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và xã. Cùng với
đó, Nhà nƣớc Việt Nam mới cũng đã thiết lập bộ máy ở địa phƣơng với cơ quan
dân cử là Hội đồng nhân dân (HĐND) xã có vai trò là cơ quan quyền lực nhà
nƣớc ở cả cấp huyện và cấp xã, Ủy ban hành chính (UBHC) huyện là cơ quan
chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính và quản lý4. Ngoài ra, trong thời gian
bị địch tạm chiếm (đầu năm 1947 đến 1954), để phù hợp với tình hình mới,
chính quyền cấp huyện ở Hà Nội đƣợc tổ chức lại, UBHC đƣợc đổi tên thành Ủy
ban kháng chiến – hành chính (UBKC-HC).
Việc chia tách và sáp nhập các đơn vị hành chính ở Việt Nam đƣợc diễn
ra nhiều lần do hệ quả của chiến tranh và sự thay đổi trong quy định của các bản
Hiến Pháp (từ Hiến pháp 1946 đến Hiến Pháp 1992). Tuy nhiên, sự thay đổi này
chủ yếu diễn ra ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, còn cấp huyện từ
khi đƣợc xác lập theo Hiến Pháp 1946 đến nay về cơ bản không thay đổi vị trí
pháp lý.
Khi Hiến Pháp 1992 đƣợc sửa đổi, các huyện, thành phố, thị xã trực thuộc
tỉnh và quận, huyện, thị xã của thành phố trực thuộc trung ƣơng vẫn đƣợc coi là
đơn vị hành chính cấp trung gian giữa tỉnh và xã. Quận và huyện đều là đơn vị
2
Theo Nguyễn Vinh Phúc: 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009,
trang 95.
3
Theo Vũ Thị Phụng: Giáo trình Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật Việt Nam, NXB ĐHQGHN, năm 1997, trang
175,176.
4
Theo Vũ Thị Phụng, đã dẫn, trang 219, 230.
14
quyền lực nhà nƣớc, cơ quan hành chính – hành pháp và cơ quan tƣ pháp. Ngoài
các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc, nhiều cơ quan nhà nƣớc khác cũng đƣợc
thành lập ở cấp huyện, phối hợp với bộ máy nhà nƣớc trong việc quản lý và triển
15
khai các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tổ chức bộ máy nhà nƣớc ở cấp
huyện bao gồm những cơ quan sau:
1.1.1. Cơ quan quyền lực nhà nƣớc cấp huyện
Cơ quan quyền lực nhà nƣớc cấp huyện là HĐND huyện. “Hội đồng nhân
dân là cơ quan quyền lực nhà nước đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”5.
Với vị trí pháp lý và vai trò là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng,
HĐND huyện thực hiện hai chức năng cơ bản: một là, quyết định những chủ
trƣơng, biện pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng ở địa phƣơng, làm tròn nghĩa vụ của địa phƣơng đối với nhà nƣớc;
hai là, thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thƣờng trực HĐND, đối
với các cơ quan hành chính – hành pháp, cơ quan tƣ pháp cùng cấp, các cơ quan
nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lƣợng vũ trang nhân dân và
công dân ở địa phƣơng về việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cũng nhƣ việc tuân theo pháp luật.
Những nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND huyện đƣợc quy định thống
nhất tại các điều từ Điều 19 đến Điều 25 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân năm 2003. Trong đó, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND
huyện đƣợc quy định chi tiết trên các lĩnh vực sau:
- Về kinh tế: HĐND huyện đƣợc quyết định các vấn đề về kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, quyết định các biện pháp phát huy mọi tiềm năng của địa
phƣơng trong việc phát triển kinh tế theo quy định của pháp luật; quyết định dự
toán thu – chi ngân sách; quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các công
dân tộc thiểu số, đảm bảo thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo.
- Về thi hành pháp luật: HĐND huyện quyết định các biện pháp bảo đảm
việc thi hành pháp luật, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
- Về xây dựng chính quyền địa phƣơng và quản lý địa giới hành chính:
HĐND huyện có quyền bổ nhiệm, bãi nhiệm các chức danh trong Thƣờng trực
HĐND, lãnh đạo các ban của HĐND, Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân
(TAND) cùng cấp; bỏ phiếu tín nhiệm đối với ngƣời giữ chức vụ do HĐND bầu;
bãi bỏ một phần hoặc tòan bộ văn bản trái pháp luật của UBND cùng cấp,
HĐND cấp xã; thông qua đề án điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phƣơng.
Đó là những chức năng, nhiệm vụ chung cho HĐND quận, huyện, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh. Tuy nhiên, do tính chất khác biệt về địa bàn quản lý
giữa quận, huyện và thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh nên Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định thêm nhiệm vụ và quyền
hạn của HĐND quận và HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Theo đó, HĐND
quận đƣợc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện thống nhất kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội và quy hoạch đô thị của thành phố; quyết định biện pháp
bảo đảm trật tự công cộng, giao thông, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi
trƣờng, cảnh quan đô thị; quyết định biện pháp quản lý dân cƣ đô thị và tổ chức
17
đời sống nhân dân trong quận. HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh đƣợc thông
qua quy hoạch tổng thể về xây dựng và phát triển của thị xã, thành phố thuộc
tỉnh trên cơ sở quy hoạch chung của tỉnh để trình Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp
trên trực tiếp phê duyệt; quyết định kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô
thị của thị xã, thành phố thuộc tỉnh; quyết định biện pháp bảo đảm trật tự công
cộng, giao thông, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trƣờng, cảnh quan đô
thị; quyết định các biện pháp quản lý dân cƣ đô thị và tổ chức đời sống nhân dân
trên địa bàn.
cuối cùng của cơ quan này và năm 2009 sẽ đánh dấu việc chấm dứt hoạt động
của một loại hình cơ quan chính quyền có vị trí tƣơng đối quan trọng và hoạt
động tƣơng đối lâu dài trong suốt hơn 50 năm qua (1946-2009).
1.1.2. Cơ quan hành chính – hành pháp cấp huyện
Cơ quan hành chính – hành pháp ở cấp huyện là UBND huyện.
Vị trí pháp lý: UBND huyện là cơ quan chấp hành của HĐND huyện, là
cơ quan hành chính nhà nƣớc ở huyện, chịu trách nhiệm trƣớc HĐND huyện và
cơ quan nhà nƣớc cấp trên6.
UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng, góp
phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nƣớc
từ trung ƣơng đến cơ sở.
UBND huyện thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn trên các lĩnh vực:
kinh tế; nông nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, thủy lợi và đất đai; công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp; xây dựng, giao thông vận tải; thƣơng mại, dịch vụ và du
lịch; giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội, thông tin và thể dục thể thao; khoa học,
công nghệ, tài nguyên và môi trƣờng; quốc phòng, an ninh, trật tự, an tòan xã
hội; thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; thực hiện các nhiệm vụ
trong việc thi hành pháp luật; xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành
chính. Những nhiệm vụ và quyền hạn chung của UBND huyện và tƣơng đƣơng
đƣợc quy định trong các điều từ Điều 97 đến Điều 107 Luật tổ chức HĐND,
UBND năm 2003. Cũng xuất phát từ những đặc thù riêng giữa các đơn vị hành
chính tƣơng đƣơng là quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh mà Luật này
quy định thêm những nhiệm vụ và quyền hạn riêng cho từng loại hình đơn vị
hành chính nhƣ vậy.
UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh đƣợc thực hiện thêm các nhiệm vụ
sau:
Xây dựng quy hoạch phát triển đô thị của thị xã, thành phố thuộc
tỉnh trình HĐND cùng cấp thông qua để trình cấp trên phê duyệt;
Thực hiện các nghị quyết của HĐND về quy hoạch tổng thể về xây
dựng và phát triển đô thị của thị xã, thành phố; thực hiện các biện
các quyết định quản lý đúng đắn và triển khai thực hiện các quyết định đó đƣợc
chính xác, kịp thời, UBND đƣợc sự tham mƣu, giúp việc của các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND. Nghị định 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm
2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
huyện, quận, thành phố, thị xã thuộc tỉnh nhƣ sau:
- Các cơ quan chuyên môn đƣợc tổ chức thống nhất ở các quận, huyện,
thành phố, thị xã thuộc tỉnh bao gồm 10 cơ quan. Đó là:
Phòng Nội vụ
Phòng Văn hóa – Thông tin
Phòng Tƣ pháp
Phòng Giáo dục – Đào tạo
Phòng Tài chính- Kế hoạch
Văn phòng HĐND-UBND
20
Phòng Tài nguyên- Môi trƣờng
Thanh tra huyện
Phòng Lao động, Thƣơng binh và Xã hội
Phòng Y tế
- Ở các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các huyện có tốc độ phát triển
kinh tế - xã hội và tốc độ đô thị hóa cao đƣợc thành lập thêm Phòng Kinh tế và
Phòng quản lý đô thị;
- Ở các huyện đƣợc thành lập thêm Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Phòng Công Thƣơng.
Ngoài ra, xuất phát từ nhu cầu quản lý và các hoạt động kinh tế -xã hội
của địa phƣơng, đƣợc sự cho phép của Chính phủ và UBND thành phố, UBND
huyện còn thành lập thêm một số bộ phận để đảm đƣơng những công việc do
UBND huyện giao. Các bộ phận đó bao gồm các đội chuyên môn nhƣ: Đội quản
lý thị trƣờng, Đội quản lý trật tự xây dựng, Đội giao thông công chính, Đội thi
Ngoài hoạt động tƣ pháp của UBND huyện liên quan đến hoạt động quản
lý hộ tịch, thi hành án,…, hoạt động tƣ pháp của các cơ quan kiểm sát và xét xử
cấp huyện cũng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự nghiêm minh của
pháp luật trên địa bàn. Các cơ quan kiểm sát và xét xử gồm Viện kiểm sát nhân
dân (VKSND) và Toà án nhân dân (TAND) huyện là các cơ quan tƣ pháp ở cấp
huyện.
* TAND huyện là cơ quan xét xử của địa phƣơng, xét xử những vụ án
hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải
quyết những việc khác theo quy định của pháp luật7.
TAND huyện có chức năng cơ bản là bảo vệ sự nghiêm minh của luật
pháp và góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho công dân. Nhiệm vụ của TAND
huyện là xét xử sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng. Để
thực hiện nhiệm vụ này, TAND huyện có Chánh án, một hoặc hai Phó Chánh án,
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thƣ ký Tòa án. Ngòai vai trò của ngƣời làm
công tác xét xử, Chánh án và Phó Chánh án TAND huyện còn có nhiệm vụ tổ
chức công tác xét xử và các công tác mang tính chất quản lý hành chính khác đối
với các đơn vị thuộc Tòa, báo cáo công tác của Tòa trƣớc HĐND cùng cấp và
TAND cấp trên. Giúp việc cho TAND huyện là bộ máy bao gồm các bộ phận
hành chính, văn thƣ – lƣu trữ, kế toán và những bộ phận phục vụ khác… nhằm
đảm bảo công tác thông tin và hậu cần cho hoạt động của tòa án.
* Viện kiểm sát nhân dân huyện là cơ quan thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tƣ pháp ở địa phƣơng theo quy định của pháp luật 8. Với
chức năng của mình, VKSND huyện cũng có nhiệm vụ bảo vệ tính nghiêm minh
của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm
7
8
Theo Điều 1, Luật Tổ chức TAND năm 2002.
Theo Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002.
sát hoạt động của các cơ quan này và bầu ra Chánh án TAND nhằm đảm bảo
thực hiện quyền lực của nhân dân địa phƣơng. Bên cạnh đó, trong quá trình thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan này cũng có sự phối hợp chặt
chẽ với UBND trong việc triển khai công tác điều tra, xét xử, giáo dục pháp luật
cho ngƣời dân. UBND cần đảm bảo các điều kiện để cơ quan tƣ pháp có thể tiếp
cận tài liệu, con ngƣời nhằm phục vụ hoạt động điều tra, xét xử. Hơn thế nữa,
UBND cũng quản lý và thực hiện công tác thi hành những bản án do Chánh án
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Lan Anh: Một số ý kiến bước đầu về tổ chức lưu trữ
chuyên ngành ở nước ta hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp khóa 1991-1995, Tƣ liệu
Khoa Lƣu trữ học và QTVP.
2. Báo cáo số 266/BC-VP ngày 05-8-2005 của Văn phòng UBND tỉnh Hà
Tây về công tác văn thƣ, lƣu trữ Văn phòng UBND tỉnh Hà Tây năm 2004-2005.
3. Báo cáo số 146/BC-VP ngày 27-4-2007 của Văn phòng UBND tỉnh Hà
Tây về kết quả thực hiện công tác văn thƣ, lƣu trữ năm 2006.
4. Báo cáo số 07/BC-VP ngày 27-12-2007 của Văn phòng HĐND-UBND
thành phố Sơn Tây về kết quả công tác văn thƣ-lƣu trữ năm 2007.
5. Nguyễn Thị Chinh: Mạng lưới các kho, các Trung tâm Lưu trữ Nhà
nước qua 40 năm chặng đường hình thành và phát triển, Khóa luận tốt nghiệp
khóa 1998-2002, Tƣ liệu Khoa Lƣu trữ học và QTVP.
6. Chỉ thị số 16/2003/CT-UB ngày 19-5-2003 của UBND thành phố Hà
Nội về việc tăng cƣờng tổ chức, chỉ đạo, quản lý công tác lƣu trữ.
7. Chỉ thị số 36/1999/CT-UB ngày 28-10-1999 của UBND tỉnh Hà Tây về
chấn chỉnh công tác quản lý công văn giấy tờ và công tác lƣu trữ.
8. Chỉ thị số 33/CT-UB ngày 28-6-1993 của UBND thành phố Hà Nội về
việc tăng cƣờng quản lý công tác văn thƣ, lƣu trữ.
định, Hà Nội, 1997, Tƣ liệu Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc.
20. Hoàng Hải Hậu: Bảo tồn, lưu giữ, quản lý và khai thác sử dụng thần
tích, thần sắc ở Việt Nam- Quá khứ và hiện tại (qua khảo sát thần tích, thần sắc
ở Bắc Ninh, Hà Tây và Viện nghiên cứu Hán - Nôm), Hà Nội, 2007,Khóa luận
tốt nghiệp khóa 2002-2007, Tƣ liệu Khoa Lƣu trữ học và QTVP.
21. Hƣớng dẫn số 390/HD-VP ngày 16-10-2003 của Văn phòng UBND
thành phố Hà Nội về công tác quản lý công văn giấy tờ, văn thƣ-lƣu trữ tại
UBND xã, phƣờng, thị trấn.
22. PGS. TS. Dƣơng Văn Khảm (chủ nhiệm): Cơ sở khoa học để tổ chức
quản lý nhà nước về công tác văn thư – lưu trữ, Báo cáo tổng thuật đề tài của
Cục Lƣu trữ Nhà nƣớc, Hà Nội, 2001, Tƣ liệu Khoa Lƣu trữ học và QTVP.
23. PGS. TS. Dƣơng Văn Khảm: Công tác lưu trữ nhà nước và xây dựng
hệ thống cơ quan lưu trữ trung ương và địa phương, Tạp Chí Tổ chức nhà nƣớc
số 8/2002, Tƣ liệu Khoa Lƣu trữ học và QTVP.
24. Kế hoạch số 78/KH-UBND ngày 30-10-2007 của UBND thành phố
Hà Nội thực hiện Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg ngày 02-3-2007 của Thủ tƣớng
Chính phủ về việc tăng cƣờng bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lƣu trữ.
25