ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ HUYỀN CHINH
ẢNH HƢỞNG CỦA BÁO ĐIỆN TỬ ĐỐI VỚI LỐI SỐNG
CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60320101
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Hoài Sơn
Hà Nội – 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
6
1. Lý do lựa chọn đề tài 6
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 8
2.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới
8
2.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài tại Việt Nam
14
Luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận: 14
5.2. Phương pháp cụ thể
14
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
16
6.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài 16
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
7. Kết cấu của luận văn
17
17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ BÁO ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
1.1. Một số khái niệm công cụ liên quan đến luận văn
1.1.1. Khái niệm báo điện tử 18
1.1.2. Khái niệm giới trẻ
19
1.1.3. Khái niệm lối sống
22
Error! Bookmark not defined.
2.1.1. Báo điện tử Vietnamnet Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Báo điện tử VnExpress Error! Bookmark not defined.
2.2.3. Báo điện tử Dân trí
Error! Bookmark not defined.
2.2.4. Báo điện tử Tuổi Trẻ Online
Error! Bookmark not defined.
2.2.5. Báo điện tử Thanhnien.vn
Error! Bookmark not defined.
2.2. Thực trạng sử dụng báo điện tử trong giới trẻ hiện nay Error! Bookmark not
defined.
2.2.1. Mục đích sử dụng báo điện tử Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Địa điểm và phương tiện sử dụng báo điện tử
defined.
Error! Bookmark not
2.2.3. Thời gian sử dụng báo điện tử Error! Bookmark not defined.
2.3. Nhận diện và đánh giá tác động của báo điện tử đối với lối sống của giới trẻ hiện
nay Error! Bookmark not defined.
2.3.1. Nhận diện tác động của báo điện tử đối với lối sống của giới trẻ Error!
Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
24
Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC VIẾT TẮT
BTV
Biên tập viên
CNH
Công nghiệp hóa
HĐH
Hiện đại hóa
KHXH&NV
Khoa học Xã hội và Nhân văn
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
Xã hội Chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Báo điện tử là một loại hình báo chí non trẻ, ra đời sau loại hình báo in, báo phát
thanh và báo hình nhưng sự ảnh hưởng cũng như phát triển của báo điện tử trong thời đại
công nghệ thông tin hiện nay thì không một loại hình báo chí nào sánh bằng. Ngoài
những đặc trưng riêng, báo điện tử còn mang những vai trò của báo chí nói chung trong
xã hội như: Là kênh tạo lập, định hướng và hướng dẫn dư luận; Là kênh chủ yếu cung
cấp kiến thức thông tin về tình hình thời sự trong nước và quốc tế cho nhân dân; Là một
công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách xã hội; Là một định chế với những
quy tắc và chuẩn mực riêng của mình và có những quan hệ mật thiết với các định chế
khác trong xã hội; Là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của
mọi cá nhân, là phương tiện cung cấp thông tin, kiến thức và giải trí cho người dân.
Chính những vai trò trên đã làm cho báo điện tử có sự ảnh hưởng vô cùng lớn đối
với người dân nói chung, đặc biệt là giới trẻ. Đây là những người thường xuyên tiếp cận
với internet nói chung và báo điện tử nói riêng do đặc thù về điều kiện sống, công việc,
nhận thức và hành vi.
Theo báo cáo về tình hình internet tại khu vực Đông Nam Á tính đến cuối tháng
7/2013 của hãng nghiên cứu thị trường comScore, với 16,1 triệu người dùng internet
hàng tháng, Việt Nam là quốc gia có dân số trực tuyến lớn nhất tại khu vực ASEAN.
Cũng theo thống kê của comScore, Việt Nam còn là quốc gia có lượng người dùng
internet ở độ tuổi trẻ nhất khu vực, với 42% người sử dụng ở độ tuổi 15 – 24, độ tuổi
người dùng internet từ 25 đến 34 chiếm 32%. Theo Trung tâm internet Việt Nam
(VNNIC), người dùng internet ở nước ta nhìn chung có trình độ học vấn tương đối khá, là
học sinh, sinh viên, trí thức, công chức, viên chức. Khi ngồi trước máy tính, người đọc
thường có nhu cầu học tập, tìm kiếm thông tin bổ ích qua các báo, tạp chí và trang thông
tin điện tử chính thống trong nước và các tờ báo điện tử và các trang mạng xã hội
(MXH), các trang web nước ngoài.
từ doanh số, báo điện tử đang dần xuất hiện những dấu hiệu tiêu cực trong việc đưa tin,
làm ảnh hưởng tới lối sống, suy nghĩ và hành vi của giới trẻ.
Tháng 12/2010, một nhóm thiếu niên ở TP Vinh (Nghệ An) bị bắt vì hành vi phá
máy ATM để trộm tiền. Nguyên nhân là những em này đã học lỏm phương pháp phá máy
ATM để trộm tiền được miêu tả rất tỉ mỉ trên các tờ báo. Sự việc cho thấy mặt trái của
thông tin báo chí đối với giới trẻ.
Bên cạnh những tờ báo nghiêm túc, có không ít tờ báo thu hút độc giả bằng những
bài báo có nhan đề giật gân, nội dung khai thác những đề tài kịch tính, thị hiếu tầm
thường, dục vọng thấp kém của con người. Những bạn trẻ không có bản lĩnh, thiếu nền
tảng tri thức và nhân cách sẽ dễ dàng bị lôi cuốn bởi những bài báo có tính giải trí rẻ tiền,
vô bổ và thậm chí là độc hại. Nhiều nhà báo đã phải tâm sự, đôi khi những bài báo công
phu, tâm đắc nhất của họ về một đề tài thời sự nóng hổi thì lượng người đọc không đáng
kể, trong khi đó, một thông tin dạng “chó cắn xe” lại trở thành tin nhiều người đọc nhất.
Việc các ngôi sao, người mẫu, diễn viên thường xuyên xuất hiện với tần suất dày
đặc bằng các chiêu trò lố lăng dễ khiến giới trẻ bị ngộ nhận đó là những giá trị thời
thượng được xã hội tôn vinh, kích thích giới trẻ học đòi theo những điều phù phiếm, sao
nhãng và coi nhẹ giá trị chân chính của cuộc sống. Không ít bạn trẻ bị ảnh hưởng cách sử
dụng ngôn ngữ thiếu trong sáng, thiếu chính xác, lạm dụng tiếng nước ngoài trên báo chí.
Sự ảnh hưởng, tác động của báo điện tử đối với thế hệ trẻ là một vấn đề rất lớn
nhưng lại chưa được quan tâm đúng mực. Đến nay cũng chưa có bất cứ công trình nghiên
cứu công phu, nghiêm túc nào về nhu cầu, thị hiếu cũng như những ảnh hưởng của báo
điện tử đối với việc hình thành lối sống của giới trẻ. Lãnh đạo của các tòa soạn cũng chưa
nhận thức hết vai trò của báo điện tử trong việc ảnh hưởng tới lối sống của giới trẻ; các
phóng viên, BTV cũng chưa làm tốt chức năng, nhiệm vụ và đạo đức trong quá trình sáng
tạo tác phẩm.
Nhận thức rõ tầm quan trọng về sự ảnh hưởng của báo điện tử đối với lối sống của
giới trẻ, trong khả năng hữu hạn của bản thân, tác giả đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của
báo điện tử đối với lối sống của giới trẻ Việt Nam hiện nay” làm đề tài cho luận văn thạc
PTTT đại chúng như: tivi, trò chơi điện tử, video âm nhạc, Internet… đối với trẻ em và
thanh thiếu niên; “Effects of Media on Teens: A Look at the Research” (Tạm dịch: Ảnh
hưởng của phương tiện truyền thông đối với giới trẻ: Một góc nhìn nghiên cứu) của hai
tác giả Alison Burkhardt và Daniel White Hodge đăng trên website của trường Đại học
North Park ngày 01/05/2012, trong đó đã chỉ ra rằng, PTTT đại chúng đã đưa ra những
“chỉ số” để những người trẻ định hình cái gì là “bình thường” và “không bình thường”,
củng cố kiến thức, giúp họ nhận thức rõ về bản thân và những người xung quanh mình.
2.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài tại Việt Nam
Tuy ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng báo điện tử lại nhanh
chóng có được chỗ đứng nhất định, vững vàng trong lòng bạn đọc. Trải qua gần 20 năm
hình thành và phát triển, báo điện tử đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của
báo chí nói riêng và đời sống xã hội nói chung. Bởi vậy, báo điện tử đã trở thành đề tài
nghiên cứu của rất nhiều người từ học sinh – sinh viên cho đến các cử nhân, thạc sĩ,
nghiên cứu sinh hay các nhà nghiên cứu, các phóng viên, BTV…
Trước hết, về mặt lý luận và những vấn đề cơ bản của báo điện tử như: sự ra đời và
phát triển của báo điện tử, khái niệm và đặc trưng của báo điện tử, phương thức sáng tạo
tác phẩm báo điện tử… phải kể đến các cuốn sách tiêu biểu như:“Báo mạng điện tử
những vấn đề cơ bản” – TS. Nguyễn Thị Trường Giang chủ biên (Nxb Chính trị - Hành
chính, Hà Nội – 2011); “Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo” – TS. Nguyễn Thị Trường
Giang chủ biên (Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội – 2011); “Báo mạng điện tử - Đặc
trưng và phương pháp sáng tạo” – TS. Nguyễn Trí Nhiệm, TS. Nguyễn Thị Trường
Giang đồng chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội – 2014); “Các thủ thuật
làm báo điện tử” do Vũ Kim Hải, Đinh Thuận biên soạn.
Trong cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” –
TS Nguyễn Thành Lợi, Nxb Thông tin và Truyền thông, tháng 06/2014 đã giới thiệu
những nét khái quát nhất về các vấn đề khá mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên
thế giới nhiều năm – nhiều thập kỷ qua như: truyền thông xã hội, các lý thuyết về truyền
thông, hội tụ truyền thông, xu hướng tòa soạn báo hội tụ và những kỹ năng cần thiết trong
hưởng của các PTTT hiện đại đối với thế hệ trẻ, những người có khả năng tiếp thu công
nghệ nhanh chóng.
Tuy nhiên, trong các đề tài trên, báo điện tử đóng vai trò như một trong những
PTTT nên luận văn không chỉ ra chi tiết, cũng không có những thông tin mang tính chất
nghiên cứu chuyên về loại hình này đối với giới trẻ hiện nay.
Tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về báo chí
nói chung và báo điện tử nói riêng, trong đó cũng có nói tới sự ảnh hưởng của chúng đối
với người trẻ. Đơn cử: “Thực trạng tiếp nhận báo mạng điện tử của học sinh phổ thông
trung học ở nội thành Hà Nội hiện nay” – Luận văn Thạc sĩ của Phạm Duy Đức, năm
2013; “Báo mạng điện tử đối với việc phát triển hỗ trợ kỹ năng mềm cho sinh viên Thành
phố Hồ Chí Minh” – Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Châu, năm 2014; “Tương
tác giữa tòa soạn và công chúng báo mạng điện tử (Khảo sát báo Vietnamnet.vn,
VnExpress.net và Tuoitre.com.vn từ 01/2006 đến 01/2011) – Luận văn Thạc sĩ của
Nguyễn Hoàng Quỳnh Hương… Tuy có đề cập tới các vấn đề cơ bản nhất của báo điện
tử và giới trẻ nhưng những luận văn này chưa tập trung đề cập tới sự ảnh hưởng của loại
hình này tới lối sống của giới trẻ Việt Nam hiện nay.
Trong khả năng giới hạn của mình, tác giả luận văn đã cố gắng đọc và tìm hiểu về
các tài liệu nghiên cứu trên, coi đó là những kiến thức bổ sung để làm sáng tỏ những ảnh
hưởng của báo điện tử đối với lối sống của giới trẻ hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu của luận văn hướng tới làm sáng tỏ các lý thuyết về báo điện tử,
nêu bật lên mối quan hệ của loại hình báo chí này đối với lối sống của giới trẻ đặt dưới
góc độ báo chí. Trên cơ sở khảo sát các tờ báo điện tử: /> (để
ngắn gọn, tác giả sẽ gọi tên các báo điện tử trên lần lượt là: VnExpress, Dân Trí,
Vietnamnet, Tuổi Trẻ Online, Thanh niên Online) trong thời gian 6 tháng, luận văn sẽ chỉ
ra thực trạng ảnh hưởng của báo điện tử đối với lối sống của giới trẻ Việt Nam hiện nay;
đánh giá về vai trò và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ảnh hưởng của
bởi đây là hai phiên bản điện tử hoàn hảo, tin cậy của báo in Tuổi Trẻ và Thanh Niên. Cả
hai báo đều có cơ quan chủ quản lần lượt là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp
Thanh niên Việt Nam, cơ quan có liên quan trực tiếp đến người trẻ.
Như vậy, với sự lựa chọn gồm cả báo điện tử chính thống, phiên bản điện tử hoàn hảo
của báo in, luận văn đã có sự đa dạng trong việc lựa chọn đối tượng khảo sát.
- Về mặt thời gian: Luận văn tiến hành khảo sát trên các báo điện tử VnExpress,
Vietnamnet, Dân Trí, Tuổi Trẻ Online, Thanh Niên Online từ 01/01/2016 – 30/06/2016.
Dù thời gian khảo sát không dài nhưng với số lượng tin bài thường xuyên cập nhật lớn
cũng giúp cho người thực hiện luận văn có cái nhìn toàn diện về sự tác động của báo điện
tử đối với lối sống của giới trẻ Việt Nam hiện nay.
Tác giả cũng tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi với những bạn trẻ có độ tuổi từ 15 –
28 tuổi, làm việc ở các lĩnh vực khác nhau như: học sinh – sinh viên, kinh doanh – buôn
bán, nhân viên văn phòng,… để làm rõ sự khác biệt trong sở thích tiếp cận thông tin,
nhận thức, hành vi của họ sau khi tiếp nhận thông tin. Từ đó đi sâu vào nghiên cứu sự tác
động của báo điện tử đối với giới trẻ.
Trong khả năng giới hạn của mình, cũng như điều kiện thời gian và kinh phí không
cho phép, tác giả tập trung khảo sát giới trẻ sinh sống chủ yếu ở thành phố lớn là Hà Nội.
Sở dĩ như vậy là bởi, đây là thành phố hiện đại và phát triển bậc nhất cả nước, tập trung
đông đảo lực lượng lao động đến từ nhiều tỉnh thành. Đây cũng được coi là cái nôi của
văn hóa, có nhịp sống sôi động, trẻ trung và thường xuyên đổi mới.
Mặc dù công nghệ và internet giờ đã trở nên phổ biến, cập nhật đến từng ngõ nhỏ
nhưng để tiếp cận được với báo điện tử thường xuyên, liên tục thì đòi hỏi độc giả phải có
trình độ nhất định và biết về công nghệ thông tin. Do đó, những người trẻ tuổi sinh sống
và làm việc tại các thành phố lớn sẽ đáp ứng được tiêu chí này nhiều hơn so với những
người trẻ ở khu vực khác.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận:
Theo khung phân tích này, báo điện tử đóng vai trò là nơi tạo ra thông tin (nguồn)
về các lĩnh vực trong cuộc sống. Những thông tin này tiếp cận với giới trẻ thông qua các
PTTT đại chúng, giới trẻ cũng tiếp cận thông tin trên báo điện tử dưới nhiều hình thức
khác nhau và cũng xử lý thông tin theo cách riêng của mình. Những thông tin trên báo
điện tử, gián tiếp hoặc trực tiếp tác động đến nhận thức của giới trẻ. Chính những nhận
thức này là yếu tố tạo nên lối sống cho giới trẻ, được thể hiện qua: Cách thức tiếp nhận
thông tin, cách thức thể hiện bản thân, cách thức học tập và làm việc, cách thức giải trí và
thói quen sinh hoạt hàng ngày.
Khung phân tích luận văn là cái nhìn tổng quan nhất về sự ảnh hưởng của báo điện
tử đối với lối sống của giới trẻ. Khung phân tích này sẽ được diễn giải chi tiết trong các
chương của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài
Đề tài làm rõ những khái niệm và vấn đề lý luận liên quan đến việc sự ảnh hưởng
của báo điện tử đối với lối sống của giới trẻ Việt Nam hiện nay. Đồng thời, đề tài cũng
góp phần đưa ra những giải pháp, cách thức cụ thể nhằm nâng cao sự ảnh hưởng tích cực
của báo điện tử đối với lối sống của giới trẻ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về mă ̣t thực tiễn , luận văn đem đế n cái nhin
̀ sơ lươ ̣c về th ực trạng ảnh hưởng của
báo điện tử bao gồm cả ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp, ảnh hưởng tích cực và tiêu cực
đối với lối sống của giới trẻ Việt Nam hiện nay. Từ đó, những người làm báo điện tử, đặc
biệt là những phóng viên, BTV chuyên về những chuyên mục dành cho giới trẻ sẽ thấy
được ưu và nhược điểm của những thông tin khi đưa lên báo. Luận văn cũng đưa ra
những giải pháp cụ thể trong việc truyền tải, tiếp nhận và quản lý thông tin trên báo điện
tử nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau.
Ngoài ra, luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho sinh viên báo chí, đặc biệt là
sinh viên chuyên ngành báo điện tử; phóng viên, BTV báo điện tử và những người quan
Tribune ra đời vào tháng 5/1992 báo điện tử đã có sự phát triển một cách chóng mặt khi
chỉ 8 năm sau đó (đầu năm 2000) trên thế giới đã thống kê được con số lên tới 8.474 tờ
báo điện tử. Bắt đầu từ năm 2000 trở đi, các hãng thông tấn lớn trên thế giới như: AFP,
Reuter… các đài truyền hình như: CNN, NBC… các tờ báo như New York Times,
Washington Post... đều có tờ báo điện tử của mình và coi đó là phương tiện để phát triển
thêm công chúng báo chí.
Tại Việt Nam, chỉ một tháng sau khi Việt Nam nối mạng internet, ngày 31/12/1997,
tạp chí Quê hương có địa chỉ: đã trở thành tờ báo điện tử đầu
tiên ở nước ta. Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đánh dấu sự ra đời của báo
điện tử tại Việt Nam, từ đó đến nay, số lượng báo điện tử tại nước ta đã có sự phát triển
mạnh mẽ.
Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại rất nhiều cách gọi khác nhau đối với loại
hình báo chí này: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper),
báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện
tử.
Báo điện tử là khái niệm thông dụng nhất hiện nay, nó gắn liền với tên gọi của
nhiều tờ báo điện tử thuộc cơ quan báo in như: Quê Hương điện tử, Nhân Dân điện tử,
Lao Động điện tử... Ngay trong các văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật
ngữ “báo điện tử”.
Trong nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23/08/2001 của Chính phủ về Quản lý và
cung cấp dịch vụ internet, ở Điều 12 có ghi: Dịch vụ thông tin trên internet là một loại
hình dịch vụ ứng dụng internet, bao gồm dịch vụ phát hành báo chí (báo in, báo hình, báo
điện tử), phát hành xuất bản phẩm trên internet và dịch vụ cung cấp các loại hình điện tử
khác trên internet.
Trong Điều 3, Chương 1 của Luật số 12/1999/QH10 ngày 12/06/1999 về Sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 28/12/1989 cũng có ghi thuật ngữ “báo điện tử (được thực hiện trên
mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng
về mọi phương diện. Người trẻ là người đang trong phát triển, hoàn thiện để có một nhận
thức viên mãn và tương thích với đại đa số trong cộng đồng.
Trong Từ điển Di sản Hoa Kỳ và Bách khoa toàn thư Britannica cũng đã đưa ra
định nghĩa, người trẻ là người nằm trong độ tuổi chuyển giao phát triển sinh lý và tâm lý,
thể chất và tinh thần, tiến trình diễn ra giữa thời kỳ thiếu niên và người trưởng thành
(người lớn). Quá trình chuyển giao này liên quan đến thay đổi về phương diện sinh học
(ví dụ như dậy thì), xã hội và tâm lý, trong đó những thay đổi về sinh lý và tâm lý thường
dễ nhận thấy hơn.
Từ điển Oxford lại giải thích, thời điểm kết thúc độ tuổi “trẻ” và bắt đầu trở thành
“người lớn” được quy ước ở mỗi nước một khác thậm chí khác nhau ở ngay trong một
quốc gia, căn cứ vào các quyền công dân và quyền con người. Cách xác định một người
còn “trẻ” hay “trưởng thành” thông qua việc xác định đủ tuổi cho một quyền gì đó cụ thể
chẳng hạn như có chứng minh thư nhân dân, có bằng lái xe, có quyền quan hệ tình dục,
nhập ngũ, bầu cử, hay lập gia đình.
Theo UNESCO (phương diện văn hoá - xã hội), “người trẻ” nên được hiểu là những
người thuộc giai đoạn chuyển giao từ sự phụ thuộc của trẻ em đến sự độc lập của người
lớn và nhận thức về sự tương thuộc (phụ thuộc lẫn nhau) giữa các thành viên trong một
cộng đồng. Người trẻ hay tuổi trẻ là một phạm trù tương đối, linh hoạt hơn là chiếu theo
độ tuổi cố định. UNESCO không có một độ tuổi cố định để xác định “giới trẻ” mà tuỳ
vào bối cảnh, lĩnh vực và phạm vi.
Trong khi Hiến chương Thanh niên châu Phi (AYC) cho rằng “người trẻ” là những
người thuộc độ tuổi từ 15 đến 35 thì Liên Hợp Quốc (UN) xác định “giới trẻ” là những
người thuộc độ tuổi từ 15 - 24. Tất cả các báo cáo, thống kê của Liên Hợp Quốc đều căn
cứ vào định nghĩa này, chẳng hạn như sách trắng của Liên Hợp Quốc về dân số, giáo dục,
việc làm và y tế.
Theo điều I, Luật Thanh niên quy định: Thanh niên là công dân Việt Nam đủ mười
sáu tuổi đến ba mươi tuổi [32, tr. 1].
Theo từ điển tiếng Việt “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành”
quan, niềm tin và lý tưởng. Tình cảm, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân của thanh niên
có bước chuyển biến mới. So với tuổi thiếu niên, nhận thức chính trị - xã hội của thanh
niên, sự định hình và hoàn thiện các thuộc tính nhân cách diễn ra với tốc độ nhanh,
cường độ mạnh, cùng với sự tác động của cảm xúc có phân cực rõ ràng. Khả năng chịu
sự tác động của bên ngoài một cách nhanh nhạy, có thẩm định và tự điều chỉnh, khả
năng thích ứng xã hội cao, nếu có hướng dẫn đúng” [14, tr. 209].
Với những đặc điểm tâm sinh lý đang trong giai đoạn hình và phát triển, giới trẻ
đang đối mặt với nhiều nguy cơ và thách thức. Bởi vậy, việc chăm lo giáo dục đạo đức,
tư tưởng và lối sống cho giới trẻ là vô cùng cấp thiết, cần được chú trọng quan tâm.
Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải chăm lo
giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ trở thành những người kế thừa
xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho
đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
1.1.3. Khái niệm lối sống
Lố i số ng (đa ̣o đức và chuẩ n giá tri ̣xã hô ̣i ) là những yếu tố cơ bản trong đời sống xã
hô ̣i của mỗi con người và mỗi nề n văn hóa . Chúng gắn liền với các cơ sở kinh tế , chính
trị, tư tưởng và mo ̣i mă ̣t của đời số ng vâ ̣t chấ t , tinh thầ n của toàn xã hô ̣i. Mỗi xã hô ̣i trong
từng thời kỳ lich
̣ sử nhấ t đinh,
̣ đều có lối sống, đa ̣o đức cũng như các thước đo giá tri ̣quy
đinh
̣ trâ ̣t tự và sự phát triể n ổ n đinh
̣ cho cả cô ̣ng đồ ng , đồ ng thời chi phố i các mố i quan
hê ̣ giữa người này với người khác , giữa nhóm xã hô ̣i này với nhóm xã hô ̣i khác , giữa mỗi
con người với toàn thể đời số ng xã hô ̣i.
Ở một bình diện chung nhất, lối sống là một phạm trù thuộc lĩnh vực văn hóa. Khi
nói về phạm trù “lối sống”, có rất nhiều quan niệm khác nhau do cách tiếp cận khác
nhau.
một giai cấp, một tập đoàn xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Ở đây, những chuẩn mực, giá trị, những truyền thống, tập quán có vai trò hết sức
lớn đến phương thức hoạt động, tu duy cách ứng xử của người ta trong xã hội. Tất cả tạo
thành cơ sở của khuôn mẫu hành vi của mỗi người, mỗi nhóm và tập đoàn người khác
nhau trong xã hội. Nói cách khác, lối sống là tổng thể các nét căn bản đặc trưng cho hoạt
động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội trong những điều kiện xã hội nhất
định về mặt lịch sử. Nó là những cách thức, phép tắc tổ chức và điều khiển đời sống cá
nhân, cộng đồng đã được thừa nhận rộng rãi và trở thành thói quen.
Từ những khái niệm khác nhau như trên có thể đưa ra một khái niệm chung tổng
quát như sau: Lối sống là tổng hợp toàn bộ các mô hình, cách thức và phong cách sống
của con người thể hiện trong mọi phương thức cũng như lĩnh vực hoạt động, từ sản xuất,
tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con
người, giữa chủ thể với đối tượng, giữa điều kiện với phương tiện và mục đích sống.
Trong lối sống tổng hoà những nét cơ bản, khắc hoạ những đặc điểm cuộc sống của các
cá nhân, các nhóm người, của giai cấp, dân tộc trong một xã hội nhất định. [28, tr. 2324].
Một số nhận biết về tiêu chí lối sống:
Lối sống thể hiện văn minh nhân loại và truyền thống văn hóa của một dân tộc, cả
các giá trị phổ quát và cả các giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử của từng DANH
MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lại Thị Hải Bình (2006), Báo chí với quá trình hình thành nhân cách của học
sinh – sinh viên, Luận văn thạc sĩ, Khoa Báo chí và Truyền thông – Đại học KHXH&NV,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Minh Châu (2014), Báo mạng điện tử đối với việc hỗ trợ phát triển
kỹ năng mềm cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền.
3. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.
4. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2005), Chỉ thị số 52 CT/TW về Phát triển và