ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN DUY PHƢƠNG
NGÔN TỪ THƠ
THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954)
NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Đinh Văn Đức
HÀ NỘI – 2016
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................... 8
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ...................................................... 8
6. Giá trị khoa học và giá trị thực tiễn.................................................................. 9
7. Cấu trúc luận văn ........................................................................................... 10
NỘI DUNG ....................................................................................................... 11
Chƣơng một. CƠ SỞ LÝ LUẬN ..................................................................... 11
Bookmark
not
defined.
2.2.1. Tính nhạc tạo nên cảm xúc trong thơ chống PhápError!
Bookmark
not defined.
2.2.2. Tính hội họa trong thơ trong thơ chống PhápError! Bookmark not
defined.
2.2.3. Cảm xúc trong thơ được bộc lộ thông qua việc xây dựng hình tượng
......................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.3. Các biện pháp tình thái ......................... Error! Bookmark not defined.
2.3.1. Nghĩa tình thái....................................... Error! Bookmark not defined.
2.3.2. Các phương tiện diễn đạt nghĩa tình tháiError!
Bookmark
not
defined.
2.4. Tiểu kết .................................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng ba. NGÔN TỪ THƠ THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
(1946-1954) NHÌN TỪ BÌNH DIỆN NGỮ DỤNGError!
Bookmark
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG CÁC KÍ TỰ VIẾT TẮT
DN
: Diễn ngôn
HĐNT
: Hành động ngôn từ
NNTT
: Ngôn ngữ truyền thông
PTDN
: Phân tích diễn ngôn
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong quá trình 30 năm phát triển của văn học cách mạng (1945-1975),
giai đoạn văn học 1945-1954 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ðây vừa là thời kỳ mở
đầu, đắp nền cho văn học mới vừa là bước chuyển tiếp lịch sử ghi nhận nhiều thay
đổi triệt để và sâu sắc, từ quan niệm nghệ thuật cho tới thực tế sáng tác. Vượt qua
những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh chiến tranh, văn học chín năm kháng
chiến chống Pháp đã khẳng định sự tồn tại và phát triển với tầm vóc xứng đáng.
của Thơ mới trên nhiều phương diện trong đó có thành tựu về ngôn ngữ và đưa nó
đến một cấp độ mới, vào lúc phong trào Thơ mới đã lụi tàn. Thời kì đầu, thơ kháng
chiến còn hơi hướng ngôn ngữ cũ, sau này nó tự điều chỉnh vừa kế thừa thành tựu
ngôn ngữ của Thơ mới, vừa tiến xa hơn một bước, đưa ngôn ngữ thơ từ chỗ của một
số tầng lớp trở thành ngôn ngữ của số đông người dân Việt Nam.
1.3. Ngôn ngữ mang trong tất cả tính chất thẩm mỹ của nó là chất liệu, là
phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học. Không có ngôn từ thì
không thể có tác phẩm văn học. Trong tác phẩm văn học ngôn từ là phương tiện
để cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề tư tưởng, nội dung, cảm
xúc, tâm trạng nhân vật trữ tình… Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn học là
ngôn từ toàn dân đã được nghệ thuật hóa. Ngôn từ đã được chọn lọc, gọt rũa,
trau chuốt và đặc biệt ngôn từ ấy phải đem lại cho người đọc những cảm xúc
thẩm mỹ, xúc cảm được nhận biết thông qua những rung động tình cảm.
Từ góc độ loại hình, thơ là thể loại thuộc loại hình trữ tình, hiện thực trong
thơ là hiện thực tâm trạng. Tiếng nói trong thơ là tiếng nói của tình cảm. Ngôn từ
thơ là một hiện tượng nghệ thuật. Theo M. Bakhtin “Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của
anh ta, anh ta làm chủ nó triệt để và không chia sẻ, sử dụng từng hình thái, từng từ
ngữ, từng thành ngữ theo mục đích trực tiếp… như những biểu hiện thuần khiết và
trực tiếp ý đồ của mình” [62, tr. 115]. Ngôn từ thơ thường mang đậm dấu ấn chủ
quan của nhà thơ. Roman Jakobson cũng cho rằng “Ngôn ngữ thơ không thay thế
đơn giản đối tượng được chỉ định, cũng không trở thành dấu hiệu vô hồn của hiện
thực, ngôn từ thơ chịu sự thống trị của chức năng thơ, tính thơ, nó có trọng lượng
riêng, giá trị riêng” [72, tr. 18].
1.4. Nghiên cứu thơ nói chung và nghiên cứu thơ thời kì kháng chiến chống
Pháp (1946–1954) nói riêng, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu, phê bình đã có
nhiều công trình và đạt được những thành tựu lớn. Xét trên bình diện lý luận, ngôn
ngữ thơ được nghiên cứu trên nhiều mặt: thi pháp thơ, cảm thụ thơ, tổ chức ngôn
ngữ, cấu trúc hình tượng thơ, đặc trưng của thơ, thể loại thơ, đặc điểm loại hình,
Jakobson về chức năng của ngôn ngữ thơ có vai trò như một cánh cửa gợi mở cho
các nhà nghiên cứu bước sang một con đường nghiên cứu thơ Việt Nam theo hướng
thi pháp học kết hợp với lý thuyết về chức năng ngôn ngữ thơ.
Ngôn ngữ văn học đã được đề cập ngắn gọn trong các giáo trình tu từ học,
phong cách học tiếng Việt hiện đại của các tác giả: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc,
Đào Thản, Nguyễn Thái Hòa, Hoàng Trọng Phiến...
Các công trình nghiên cứu văn học, đặc biệt là ngôn ngữ thơ ca đã được các
nhà lý luận, phê bình chuyên nghiệp, có uy tín trong giới văn chương như Thiếu
Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều… đi sâu tìm tòi, khám phá. Hoài Thanh
còn rất trẻ và đi “tìm cái đẹp trong nghệ thuật đã trở thành lí tưởng của cuộc đời
ông”. Trong bài giới thiệu “Một thời đại trong thi ca”, ông đã có những khái quát
sâu sắc về phong trào Thơ mới, từ nguồn gốc, quá trình hình thành, các giai đoạn
phát triển, các xu hướng [84, tr. 38]. Cuốn sách Nói chuyện thơ kháng chiến (1951)
tập hợp những bài nói chuyện về thơ của Hoài Thanh trước đông đảo công chúng trên
những nẻo đường đầy gian lao mà anh dũng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trước
sau Hoài Thanh vẫn là một nhà nghệ sĩ dạt dào tình cảm dân tộc, đồng bào và thiết tha
yêu thương quê hương đất nước. Với sự đồng cảm sâu xa, Hoài Thanh luôn khẳng định
“nội dung của thơ ca kháng chiến là tình yêu nước, và không có gì ngoài tình yêu nước,
không có gì ngoài những phương diện của tình yêu nước” [80, tr. 136].
Năm 1965, trong chuyên luận Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại Bùi
Văn Nguyên, Hà Minh Đức đã có cái nhìn sâu hơn về hình thức thơ. Đến năm 1987,
tác giả Vương Trí Nhàn đã khái quát “Bốn mươi năm phát triển ngôn ngữ văn học”
(In trong tập tiểu luận Một thời đại văn học mới, Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên).
Khi đề cập đến ngôn ngữ thơ, tác giả chỉ ra những thành tựu và cả những hạn chế
trong ngôn từ thơ mới.
Trần Đình Sử gắn với xu hướng nghiên cứu, phê bình theo hướng thi pháp
học hiện đại. Trần Đình Sử là người đi tiên phong trong việc giới thiệu một cách hệ
thống và đầy đủ thi pháp học hiện đại với tư cách một bộ môn khoa học từ lý thuyết
Giang Lân đã khái quát lại “Sự vận động của ngôn ngữ thơ” và khẳng định: “Qua
mỗi giai đoạn phát triển của thơ, ngôn ngữ thơ cũng không ngừng biến đổi”. Tác
giả nhận xét: “Ý thức khẳng định cá thể, cá tính, tự do tìm tòi, thể hiện nội tâm buộc
các nhà thơ trong phong trào Thơ mới tìm chữ, tìm câu để diễn tả đúng những rung
động tinh tế của tâm hồn một cách sinh động và chân thành...” [56, tr. 508-515].
Trong tác phẩm “Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học”, Mai Ngọc
Chừ đã khẳng định được vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ. Công
trình đã khai thác triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam: chức năng của vần, mối quan hệ
của nó với các yếu tố khác, đơn vị hiệp vần, hai mặt đồng nhất và khác biệt của vần
thơ, vai trò và quy luật phân bố các yếu tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt trong việc tạo
lập vần thơ, vấn đề phân loại vần, vị trí và sự hoạt động của các loại vần trong các
thể thơ, khổ thơ, vần xét về mặt hòa âm.
Thơ Việt Nam và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (2010) của Hà
Minh Đức là một công trình có nhiều giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Công
trình đi từ vấn đề lý luận vốn xưa nay đã được bàn đến “Xác định một quan niệm
đúng đắn về thơ”. Ông cho rằng “Xác định được một quan niệm chung, một định
nghĩa về thơ là một vấn đề cần thiết. Người ta đã bàn nhiều vấn đề về thơ nhưng
thực ra ý kiến vẫn có nhiều điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau và thực sự vẫn
chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về thơ” [29, tr. 14]. Không dừng lại ở đó, công
trình đi sâu bàn luận về các nội dung: nhà thơ, cái tôi và nhân vật trữ tình trong thơ;
Tính khuynh hướng của thơ ca; Cảm xúc và suy nghĩ trong thơ; Vấn đề phản ánh
hiện thực trong thơ; Truyền thống và sáng tạo trong thơ; Hình thức của thơ. Chế
Lan Viên trong lời đề tựa về cuốn sách đã nói “Những tác phẩm như thế này thật
cần biết bao nhiêu. Chỉ vì, mới hôm qua đây, những quyển như thế không thấy có
mấy, gần như là không có” [29, tr. 12].
Năm 2011, công trình Ngôn ngữ văn chương của Hoàng Kim Ngọc (chủ
biên) và Hoàng Trọng Phiến đã đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ
thơ. Trong đó, khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ công trình tập trung vào những nét trội,
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên, luận văn lựa chọn “ngôn từ thơ thời kì kháng chiến
chống Pháp (1946–1954)” làm đối tượng nghiên cứu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu đối tượng ở phạm vi ngữ nghĩa và ngữ dụng.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, ngoài những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học
ngôn ngữ chung, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp phân tích diễn ngôn trên bình diện ngữ nghĩa: tiến hành nghiên
cứu các văn bản thơ, phân tích các chức năng, thông điệp liên nhân và chức năng
tác động.
Phương pháp phân tích dụng học: tiến hành phân tích ngữ cảnh, phân tích
dụng học văn hóa qua các hành động ngôn từ, phân tích hành động ngôn từ trong
các diễn ngôn thơ.
Phương pháp miêu tả, phân loại và hệ thống hóa: phương pháp này dùng để
xác định tập hợp các đặc trưng khu biệt của ngôn từ thơ nhìn từ hai bình diện ngữ
nghĩa và ngữ dụng.
Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: phương pháp này được sử dụng để xử
lí ngữ liệu như thu thập ngữ liệu, thống kê ngữ liệu.
Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ văn học từ các bình diện văn hóa, tín hiệu
thẩm mỹ.
5.2. Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng nguồn tư liệu về thơ thời khì chống Pháp (1946-1954)
được chọn lọc từ :
Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Thơ ca 1945-1975), Quyển bốn (Lưu Khánh
Thơ chủ biên, 2010), từ tập VII đến tập XIII, NXB Văn học, Hà Nội.
pháp tăng hiệu lực tại lời và chức năng tác động của thơ.
NỘI DUNG
Chương một
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Quan niệm thơ
Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống con người, có
phạm vi phổ biến sâu và rộng. Thơ ca bao giờ cũng là tấm gương của tâm hồn, là
tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời. Thơ
là gì? là một câu hỏi lớn. Vì thế, từ thời cổ đại các nhà hiền triết: Arixtốt, Điđơrô,
Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên... đã bàn đến những vấn đề của thơ. M. Bakhtin
nhấn mạnh sự khu biệt của cái tôi trữ tình trong thơ: “Thơ là tiếng nói độc bạch,
chẳng hạn một bài thơ diễn đạt một nỗi oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ, một
suy tưởng” [62, tr. 19]. R. Tago (Ấn Độ) quan niệm về thơ lại nhấn mạnh đến chức
năng giáo dục lí tưởng thẩm mĩ của thơ: “Thơ dạy người ta cảm nhận đời sống một
cách tinh tế và sâu sắc. Thơ mở rộng và nâng cao tâm hồn người đọc. Thơ giáo dục
con người về cái đẹp” [64, tr. 104]. Raxun Gamzatop lại quan niệm: “Nhà thơ
không có con mắt của nhà hiện thực sẽ vất vưởng, sống dở, chết dở. Nhưng chỉ thấy
những chuyện có thực thôi thì cũng chẳng hay ho gì hơn. Thơ phi lí chỉ dễ hiểu với
chính nhà thơ và bạn bè thân tín của anh ta, đấy là một điều đáng buồn. Nhưng thơ
duy lí quá tới mức mọi con lừa đều hiểu được thì còn đáng buồn hơn” [64, tr. 106].
Nghĩa là ông cho rằng thơ phải mang tính gợi mở, nhưng cũng không nên quá trừu
tượng vì người đọc khó cảm thụ.
Bên cạnh những quan niệm của các tác giả nước ngoài, các tác giả Việt Nam
cũng có những quan niệm khác nhau về thơ. Tùy từng cái nhìn, sự soi chiếu trên
từng mặt, khía cạnh, đặc điểm mà các tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau.
Các nhà thơ, những người trực tiếp cầm bút sáng tác thơ lại có quan niệm khác. Nhà
thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống; thơ là cái nhụy của
cuộc sống; thơ là tiếng nói tri âm; thơ là chuyện đồng điệu” [48, tr. 432]. Nhà thơ
lại nêu quan niệm “Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức
ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật
phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát
nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật” [21, tr. 52].
Như vậy, có thể khẳng định có rất nhiều các khái niệm về thơ. Mỗi tác giả
đứng từ một góc nhìn khác nhau mà soi chiếu, cảm nhận, từ đó đưa ra những quan
niệm thơ khác nhau. Nhưng tựu chung lại là thơ được nhìn từ hai góc độ hình thức
thơ và nội dung thơ. Có quan niệm thiên về hình thức, cho rằng hình thức là cái
quan trọng của thơ. Nhưng cũng có quan niệm lại cho rằng thơ quan trọng là ý, là
tứ, là nội dung. Phần lớn các quan niệm cho rằng thơ là sự tổng hòa cả nội dung và
hình thức. Không thể có một tác phẩm thơ hay khi chỉ chú trọng vào một trong hai
mặt đó. Đây là quan niệm đúng đắn. Thơ hay phải hay cả nội dung và hình thức.
Nội dung phải ẩn trong hình thức và hình thức phải thể hiện được nội dung.
1.2. Ngôn từ thơ
1.2.1. Ngôn từ - chất liệu duy nhất để xây dựng hình tượng của văn
chương
Theo Từ điển Tiếng Việt (2004), Hoàng Phê (chủ biên), “ngôn từ là ngôn
ngữ được nói hay viết thành văn”. Có thể nói, tất cả các loại hình nghệ thuật, kể cả
văn chương, đều thống nhất ở một điểm cơ bản là phản ánh cuộc sống bằng hình
tượng. Hình tượng của nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc là có tính chất tĩnh
và chiếm một khoảng không gian nhất định; hình tượng của nghệ thuật âm nhạc,
điện ảnh… có tính chất động và diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định…
Hình tượng của các loại hình nghệ thuật khác nhau vừa có những điểm tương đồng,
lại vừa có những nét khác biệt. Sự khác nhau đó bởi chính là ở đặc trưng của chất
liệu xây dựng nên hình tượng nghệ thuật của chúng. Chất liệu màu sắc, đường nét
của hội họa khác hẳn chất lượng âm thanh của âm nhạc, hình khối của điêu khắc.
Chất liệu ngôn từ của hình tượng văn chương khác xa với màu sắc, âm thanh,
đường nét, hình khối của các nghệ thuật kia.
động, là bản thân quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người và người cụ thể, nảy
sinh trong một hoàn cảnh cụ thể và bao giờ cũng biểu đạt những tư tưởng nhất định,
mang màu sắc tình cảm và khuynh hướng tư tưởng nhất định. Lời bao gồm lời nói
và lời viết, đồng nghĩa với hoạt động ngôn từ.
Như vậy, chất liệu xây dựng hình tượng văn chương không phải là ngôn ngữ
mà là ngôn từ. Chỉ có ngôn từ - yếu tố vật chất mang tính hình tượng mà cơ sở là
câu, cái có khả năng phản ánh các yếu tố của hiện thực trong một tương quan nhất
định mới là chất liệu văn chương.
1.2.3. Ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ thơ
Có thể khẳng định ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính
đặc trưng của văn học. Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học.
Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo
tác phẩm. Và nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc
với tác phẩm.
Theo Từ điển Tiếng Việt (2004), Hoàng Phê (chủ biên), “ngôn ngữ văn học
là hình thức ngôn ngữ toàn dân tộc, có hệ thống chuẩn thống nhất, được sử dụng
trong mọi lĩnh vực đời sống văn hóa, chính trị, xã hội” [69, tr. 688]. Ngôn ngữ văn
học là kết quả của sự sáng tạo tập thể, là một trong những thành tựu văn hóa chung
của dân tộc nói bằng ngôn ngữ này. Ngôn ngữ văn học là nơi giữ gìn tất cả những gì
có giá trị được biểu hiện bằng ngôn từ đã được tạo ra bởi các thế hệ từng sử dụng
ngôn ngữ này.
“Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ được dùng trong các văn bản thơ. Do yêu cầu
thể hiện thế giới nội tâm, thế giới tinh thần, cách tổ chức ngôn ngữ của thơ khác
hẳn cách dùng lời nói của các phong cách chức năng phi nghệ thuật. Đặc trưng của
ngôn từ thơ là có tính tượng trưng, tính biểu cảm và chứa đựng sự bắt chước” [37,
tr. 307].
Có thể khẳng định ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ tiêu biểu cho ngôn ngữ văn
học, bởi các đặc điểm tính chính xác, tính hàm súc, tính biểu cảm, tính hình tượng
Văn thơ là một loại hoạt động giao tiếp, trong đó có dòng thơ kháng chiến.
Bản thân ngôn ngữ thơ, trong giao tiếp, nó cũng biểu hiện những chức năng nhất
định của mình.
Bàn về chức năng của ngôn ngữ thơ nói riêng, giới nghiên cứu thường nhắc
đến R. Jakobson (một học giả nổi tiếng của thời kì hậu cấu trúc luận).
Với hai công trình “Luận về ngữ học đại cương” và “Những vấn đề thi pháp
học”, R. Jakobson đã cung cấp một kho tư liệu gốc về lí thuyết để phát triển
phương pháp phê bình thi pháp học cấu trúc.
Ông cho rằng, mỗi chức năng ngôn ngữ lại có mối liên hệ trực tiếp với một
trong những bộ phận cấu thành của sơ đồ dữ liệu của ông mà chúng tôi đã dẫn ở
mục trên. Theo R. Jakobson (1960), trong giao tiếp, ngôn ngữ có 6 chức năng theo
thứ tự tương ứng với các nhân tố giao tiếp trong sơ đồ của ông đưa ra là:
Biểu hiện
Biểu cảm
Thi học
Kêu gọi
Sự duy trì tiếp xúc (Đưa đẩy)
Siêu ngữ
Hình 1.1: Sơ đồ 6 chức năng theo thứ tự tương ứng với các nhân tố trong sơ
đồ giao tiếp của R. Jakobson.
(Nguồn: Bài “Ngôn ngữ học và thi học” Cao Xuân Hạo dịch đăng trong tạp
chí Ngôn ngữ số 14/2001)
- Quy chiếu (nhận thức, biểu nghĩa);
- Biểu cảm, yêu cầu (hướng tới người nhận);
thân ngôn ngữ. Bất kì ngôn ngữ nào cũng phải lấy nó để thông báo, giải thích cho
chính nó, hay, khi nào người ta dùng ngôn ngữ để giải thích, mô tả chính ngôn ngữ
thì lúc đó người ta đang sử dụng chức năng thứ ba - chức năng siêu ngữ.
Siêu ngôn ngữ là việc người gửi và người nhận phải cùng kiểm tra xem hai
người có đang ở cùng một mã giao tiếp không, câu nói của họ có được hướng vào
tín mã không.
Trong giao tiếp, nếu tỉ lệ biểu hiện của những siêu ngữ càng cao thì khoảng
cách giữa hai người càng lớn, hoặc, đó là biểu hiện của sự phá vỡ mối quan hệ.
e. Tiểu chức năng “duy trì sự tiếp xúc”