TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM
TS. Lê Thị Diệu Huyền
Học viện Ngân hàng
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ngày càng khẳng định vị trí và vai trò
của mình trong nền kinh tế. Tuy nhiên, với những đặc điểm của mình, các DNNVV
Việt Nam là những đối tượng “nhạy cảm” nhất với những thay đổi của chính sách
lãi suất. Trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, kinh tế vĩ mô trong
nước bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực, lạm phát tăng cao, kéo theo đó là lãi suất
cho vay của các ngân hàng tăng trong khoảng thời gian dài, đã khiến nhiều
DNNVV lâm vào tình trạng rất khó khăn. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả sẽ
phân tích tác động của điều hành chính sách lãi suất đến hoạt động của các
DNNVV tại Việt Nam hiện nay.
Diễn biến chính sách lãi suất thời gian qua tại Việt Nam
Giai đoạn thắt chặt chính sách tiền tệ từ khoảng cuối năm 2007 đến giữa
năm 2008, sau đó là sự nới lỏng chính sách tiền tệ và kích cầu nền kinh tế khi gánh
chịu ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ. Giai đoạn năm 2010-2011 là
giai đoạn chính sách tiền tệ thắt chặt thận trọng. Trong suốt khoảng thời gian từ
2008-2011, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã rất nhiều lần điều chỉnh lãi suất cơ
bản (xem Hình 1) nhằm thực hiện điều chỉnh chính sách lãi suất theo biến động
của nền kinh tế.
Hình 1. Thay đổi lãi suất cơ bản giai đoạn 2008-2011
tình hình lãi suất cơ bản giai đoạn 2008-2011
12/01/2011
01/01/2011
08/01/2011
06/01/2011
11/05/2008
10/01/2008
07/01/2008
06/01/2008
05/01/2008
03/01/2008
01/01/2008
14%
14%
14%
14%
13,00%
12%
12%
12%
11%
10,00%
9%9%9%9%9%9%9%9%9%9%9%9%9%
8,75%
8,75%
8,75%
8,75%
1,81%/năm, lãi suất cho vay USD bình quân 6,4%/năm. Đến đầu năm 2012, mức
lãi suất huy động của các NHTM có xu hướng giảm từ 14% xuống 12% và dự kiến
giảm tới 9%, điều này khiến lãi suất cho vay cũng sẽ giảm xuống từ tới 12%.
Hình 2. Thay đổi lãi suất cơ bản, lãi suất huy động, lãi suất cho vay
Nguồn: Báo Tuổi trẻ ngày 30/01/2010
Những gói hỗ trợ lãi suất cho DNNVV thời gian qua tại Việt Nam
Trong năm 2009, Chính phủ đã thực hiện gói kích thích kinh tế với quy mô
khoảng gần 8 tỉ USD để hỗ trợ nền kinh tế và khu vực doanh nghiệp chống chọi lại
cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu. Gói kích thích kinh tế bao gồm các
chính sách như bảo lãnh tín dụng cho các DNNVV, giãn và miễn giảm thuế thu
nhập doanh nghiệp và VAT, hỗ trợ 4% lãi suất cho vay ngắn hạn và trung hạn, và
nhiều chính sách khác. Trong số các loại hình hỗ trợ thì hỗ trợ lãi suất chiếm một
vị trí đặc biệt quan trọng. Mặc dù quy mô ngân sách để thực hiện chính sách này
chỉ giới hạn trong khoảng 1 tỉ USD (17.000 tỉ VND), nhưng ảnh hưởng của nó
được cho là rất đáng kể do hiệu ứng đòn bẩy lớn. Nhưng bản chất của chính sách
này là giúp các doanh nghiệp-đối tượng của chính sách được tiếp cận vốn với chi
phí thấp hơn, đồng thời khuyến khích các ngân hàng cho vay đối với các doanh
nghiệp, đặc biệt là DNNVV. Qua đó, có thể coi đây là cách hỗ trợ vốn một cách
gián tiếp cho nền kinh tế.
Bảng 1: Các gói kích thích kinh tế của Chính phủ năm 2009
Giá trị (tỷ VND) Tỷ trọng (%)
Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV
29.750
29,2
9.191
9
kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn để phục vụ sản xuất
kinh doanh. Gói “hỗ trợ” lần này được xem gói hỗ trợ đảm bảo sự công bằng hơn
so với gói hỗ trợ năm 2009 nhưng cũng không phải là gói “cứu trợ” nên chắc chắn
tác động của nó cũng cần phải có thời gian phát huy hiệu quả. Trong thời gian vừa
qua những gói hỗ trợ của Chính phủ đã có những tác động không nhỏ đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của loại hình DNNVV trên những khía cạnh nhất định.
Tác động của chính sách lãi suất đến hoạt động của DNNVV
Theo số liệu điều tra của Bộ kế hoạch và Đầu tư, DNNVV chiếm 97% tổng số
doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp khoảng 48% GDP, 1/2 tổng kim ngạch xuất
khẩu, chiếm hơn 30% tổng đầu tư vốn toàn xã hội; thu hút trên 50,1% lao động, tốc
độ gia tăng việc làm mới trong khu vực DNNVV trong giai đoạn 2006-2010 đạt
trung bình khoảng 17,2%/năm (tức mỗi năm trung bình khoảng hơn 700.000 việc
làm mới. Tuy nhiên, năm 2011, các chỉ tiêu về doanh nghiệp mới thành lập cũng
như khả năng thu hút lao động giảm xuống đáng kể, đặc biệt vốn đầu tư của
DNNVV sa sút và chỉ bằng 70% cùng kì năm 2010. Nếu như năm 2009 có 85.000
DNNVV được thành lập mới thì đến năm 2010 chỉ còn 83.740. Bước sang năm
đầu năm 2012, số doanh nghiệp giải thể, ngưng hoạt động tăng lên nhanh chóng
(tính đến cuối tháng 3, ước khoảng 10.000 doanh nghiệp ngưng hoạt động. với
3.000 doanh nghiệp giải thể trong đó phần lớn là DNNVV), cao nhất trong vòng 20
năm qua.
Hình 3. Số lượng DNNVV mới được thành lập giai đoạn 2006-2011
85,000
90,000
83,740
80,000
Nguồn: Cục Phát triển Doanh nghiệp, Bộ KH&ĐT, 2011* tính đến hết 30/10/2010
Sự biến động của chính sách lãi suất đã khiến nhiều DNNVV chịu những
ảnh hướng to lớn, nhất là khi khoảng 70% DNNVV vẫn chọn nguồn vốn ngân
hàng để đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất- kinh doanh. Những ảnh hưởng này thể
hiện trên một số khía cạnh sau:
Tác động của chính sách lãi suất đến khả năng tiếp cận vốn và chi phí đầu
vào của doanh nghiệp. Trong Đề tài nghiên cứu số 20 của nhóm tác giả tại Trung
tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra
rằng: “Khả năng tiếp cận vốn của các DNNVV khó hơn so với doanh nghiệp lớn;
doanh nghiệp Nhà nước dễ tiếp cận vốn hơn so với các loại hình doanh nghiệp
khác; doanh nghiệp kinh doanh trong nước khó tiếp cận vốn hơn so với doanh
nghiệp kinh doanh trên thị trường quốc tế”. Điều này dẫn tới các doanh nghiệp
chịu nhiều thiệt thòi hơn so với ngân hàng khi chính sách lãi suất thay đổi.
Thực tế, có nhiều nhân tố tác động đến khả năng vay vốn của DNNVV như
điều kiện thế chấp, khó khăn về thời hạn vay, khó khăn về thiếu dự án kinh
doanh…nhưng sự thay đổi về lãi suất (tăng cao) là nhân tố hàng đầu khiến cho khả
năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp trở nên khó khăn hơn. Mức lãi suất cho
vay tăng cao khiến cho các ngân hàng cũng dè dặt hơn khi cho vay đối với các
DNNVV do phần lớn DNNVV có qui mô nhỏ, trình độ sản xuất yếu kém, chưa tạo
được thương hiệu, uy tín trên thị trường cộng với sự thiếu minh bạch về tài chính,
khiến cho khoản cho vay của các ngân hàng với các DNNVV rủi ro hơn.
Trong điều kiện thông tin bất cân xứng quá lớn như Việt Nam, một trong
những tiêu chí để NHTM quyết định cho vay là phải có tài sản đảm bảo, nhưng với
qui mô vốn không cao nên tài sản đảm bảo của DNNVV cũng không đủ để thế
chấp tương xứng với lượng vốn vay. Ngoài ra là khả năng lập những dự án sản
xuất kinh doanh khả thi của DNNVV cũng là nguyên nhân khiến họ khó tiếp cận
vốn của ngân hàng.
2010
2009
ROA
ROE
ROA
ROE
Bán lẻ
5,9
14,8
6,9
15,5
Bảo hiểm
5,0
8,9
4,4
8,8
Bất động sản
8,1
26,6
6,3
29,6
Công nghệ thông tin
8,5
26,3
9,1
29,4
Dầu khí
5,8
19,2
6,2
24,2
Ngân hàng
1,2
18,0
1,6
19,6
Ô tô và phụ tùng
10,1
17,2
23,8
42,4
Tài nguyên cơ bản
7,1
16,4
8,2
20,2
Thực phẩm và đồ uống
11,5
21,0
7,9
12,2
Truyền thông
7,2
11,7
8,2
14,1
Xây dựng và vật liệu
6,5
16,7
7,2
giúp sàng lọc những doanh nghiệp yếu kém. Chính vì vậy, trong thời gian tới, để
phát huy những mặt mạnh, tạo điều kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp và tránh những
ảnh hưởng bất lợi cho DNNVV, điều hành chính sách nên bám sát theo diễn biến
nền kinh tế và thị trường, tập trung vào một số vấn đề sau:
Thứ nhất, NHNN nên điều hành chính sách lãi suất một cách linh hoạt phù
hợp với diễn biến thị trường và điều kiện kinh tế, hỗ trợ sự phát triển lành mạnh
của DNNVV. Trước hết, cần tiếp tục giảm mức lãi suất cho vay đối với DNNVV,
mặc dù hiện nay đã giảm mức lãi suất cho vay xuống 15%, dự kiến tiếp tục giảm
tiếp tới 12% nhưng còn cao hơn rất nhiều so với các nước (chẳng hạn, các nước lân
cận chỉ có 5% như Thái Lan, Trug Quốc). Điều này tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp có thể tiếp cận với nguồn vốn vay có chi phí hợp lý, đồng thời, cũng không
quá gây áp lực đối với các ngân hàng. Tuy nhiên, kết hợp với việc giảm lãi suất
cần phải có những biện pháp điều chỉnh để ổn định tỷ giá VND so với USD vì
giảm lãi suất sẽ thu hẹp mức chênh lệch lãi suất giữa VND và USD khiến cho tiền
đồng trở nên kém hấp dẫn và với mức lạm phát cao khiến mục tiêu ổn định tỷ giá
sẽ khó đạt được. Hơn nữa, giảm lãi suất không thực hiện một cách chính xác sẽ
khiến nỗ lực kiểm soát lạm phát, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, kiểm soát tỷ giá
ngày càng trở nên khó khăn.
Thứ hai, Chính phủ áp dụng đồng bộ các giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế
vĩ mô, đặc biệt ổn định giá nguyên, vật liệu đầu vào để doanh nghiệp yên tâm sản
xuất, cùng với thị trường thế giới hồi phục và tăng sức mua là lối thoát lớn nhất
cho doanh nghiệp trong thời gian tới. Mặc dù gói hỗ trợ 29.000 tỷ của Chính phủ
chưa thể phát huy hiệu quả ngay nhưng trong thời gian tới cần tăng cường hơn nữa
việc giám sát thực hiện đúng mục đích của các khoản vay nhằm đem đến hiệu quả
cuối cùng của các gói hỗ trợ. Ngoài ra, tạo điều kiện cho ngân hàng có những
chính sách thuận tiện hơn cho các doanh nghiệp trong thủ tục vay vốn cũng như
gia hạn nợ để đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể tạm thời tồn tại trong điều kiện
kinh tế nhiều khó khăn.
Thứ ba, các DNNVV cũng cần chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn vốn
thay thế, tránh tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn từ ngân hàng với