SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NINH BÌNH
TRƯỜNG THPT BÌNH MINH
BÀI DỰ THI
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP
DÀNH CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC
Giáo viên: Dương Thị Thu Trang
Bộ môn: Ngữ Văn
Tổ: Văn – Sử - Địa - GDCD
Bình Minh, tháng 01/2015
Trang 1
Phiếu thông tin về giáo viên dự thi
- Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình
- Trường THPT Bình Minh
- Địa chỉ: Khối 6 – tt Bình Minh – Kim Sơn – Ninh Bình
- Điện thoại: 0303 863 507
- Email:
- Họ và tên giáo viên: Dương Thị Thu Trang
Môn: Ngữ Văn
Điện thoại:0974220848
Email:
Trang 2
giải quyết tình huống trong cuộc sống và ứng dụng vào thực tế đời sống.
5. Thiết bị dạy học, học liệu
-Các thiết bị, đồ dùng dạy học, học liệu sử dụng trong dạy học: SGK, máy chiếu, tranh
ảnh minh họa, tài liệu sưu tầm của HS.
- Các ứng dụng CNTT trong việc dạy và học của bài học: dùng máy chiếu để trình
chiếu các tranh ảnh và tài liệu minh họa.
6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học
Một số biện pháp cụ thể:
Trang 3
Tôi nêu ra một số suy nghĩ về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp như sau:
* Tích hợp Văn – Lịch sử : Tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng những kiến thức
về hoàn cảnh lịch sử,về nhân vật lịch sử. . . để thuyết minh về nhân vật lịch sử,danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử quê hương.
* Tích hợp Văn – Địa lý: Tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng kiến thức hiểu biết về
các địa danh để thuyết minh về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử quê hương.
* Tích hợp Văn – Âm nhạc: Ví dụ khi thuyết minh về một loại hình ca nhạc, một nét
đẹp trong phong tục truyền thống,một thể loại văn học( ngâm khúc, hát nói…), có thể cho các
em hát, hoặc ngâm thơ, làm như vậy các em sẽ hứng thú học hơn và kiến thức sẽ được khắc
sâu hơn.
* Tích hợp Văn – Mỹ thuật: Khi thuyết minh về danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử quê
hương,… GV có thể cho học sinh vẽ tranh minh họa một cảnh mà học sinh yêu thích, sau đó
các em đặt tiêu đề cho bức tranh và nêu lý do vì sao lại chọn danh lam thắng cảnh ấy để tái
hiện bằng tranh vẽ.
Định hướng tích hợp:
Thực tế trong khi dạy văn thuyết minh, GV có thể thực hiện tích hợp theo nhiều cách
thức khác nhau. Việc lưa chọn cách thức nào là tùy thuộc vào nội dung cụ thể của từng bài
GV cần lưu ý xây dựng đề kiểm tra 15 phút, 2 tiết, học kỳ theo yêu cầu tích hợp. Cấu trúc
của một bài kiểm tra thường có 2 phần.
- Phần I ( trắc nghiệm ) Phần này chiếm 30 % số điểm, nhằm kiểm tra các kiến thức
về đọc – hiểu về tiếng Việt.
- Phần II ( tự luận ) phần này chiếm 70 % số điểm nhằm kiểm tra kiến thức và kỹ
năng Tập làm văn qua một bài hoặc một đoạn văn ngắn.
Trang 4
6.7 Tích hợp gắn với đời sống xã hội
Bài học thường được gắn với đời sống xã hội. Sự tích hợp này rất tự nhiên vì văn học
xuất phát từ cuộc sống xã hội và trở về với cuộc sống. Dạy văn thuyết minh, GV cần rèn
luyện kĩ năng nhìn nhận đánh giá về các tác phẩm văn học cũng như các sự vật, hiện tượng
trong cuộc sống.
7. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra học sinh bằng hình thức kiểm tra Tự luận – Viết bài tập làm văn
8. Các sản phẩm của học sinh
Các sản phẩm của học sinh: tranh ảnh minh họa,bản đồ Ninh Bình, các bài báo, tài liệu lịch
sử- địa lí, văn hóa địa phương, bài thu hoạch, bài làm văn của các em.
Trang 5
Giảng dạy phần văn thuyết minh theo hướng tích hợp kiến
thức lịch sử - địa lý –văn hóa địa phương
Trước khi dạy phần văn thuyết minh, tôi cho học sinh làm một bài tập lớn như sau:
Giả sử có tình huống sau: Một đoàn khách đến Ninh Bình để tham quan. Nếu
được làm hướng dẫn viên du lịch em sẽ giới thiệu gì về Ninh Bình? Hãy chuẩn bị một tài
văn bản“Lễ Nô-en của Giáo dân Phát Diệm” “Cơm cháy Ninh Bình”.
Trang 6
Mục đích của việc tích hợp: giáo dục thêm những hiểu biết về quê hương, bồi dưỡng
lòng tự hào và yêu quê hương đất nước mình.
Việc sử dụng những tài liệu thu thập của học sinh vào bài học sẽ giúp các em có hứng thú học
hơn.
+Khi dạy bài tính chuẩn xác và hấp dẫn của văn bản thuyết minh, tôi hướng dẫn học
sinh sử dụng ngay những tài liệu thu thập của nhóm mình vào văn bài văn thuyết minh để
viết những văn bản có tính chuẩn xác và hấp dẫn.
+ Trong bài: luyện tập viết đoạn văn thuyết minh, GV có thể yêu cầu HS viết đoạn văn
thuyết minh về một nét đẹp văn hóa, một nghề truyền thống của quê hương. Đối với học sinh
trường THPT Bình Minh-Kim Sơn,có thể yêu cầu các em vận dụng kiến thức thực tế để viết
đoạn văn thuyết minh về nghề truyền thống ở Kim Sơn ( dệt chiếu, thủ công mĩ nghệ,
nấu rượu…), học sinh sẽ cảm thấy rất hứng thú.
Trang 7
Soạn giáo án theo hướng tích hợp:
Tiết 55: CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH
Ngày soạn:
A.Mục đích yêu cầu
Gíup HS:
-Trình bày và phân tích các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh: kết cấu theo thời
gian, không gian, kết cấu theo trật tự logic của đối tượng thuyết minh và nhận thức của người
đọc; kết cấu hỗn hợp.
Nhóm 3: Trả lời câu hỏi c
Nhóm 4: Trả lời câu hỏi d
Sau 6 phút cử đại diện trình bày GV
điều chỉnh, bổ sung
PV: Tìm các ý chính tạo thành nội
dung văn bản thuyết minh?
PV: Cách sắp xếp ý?
PV: Cơ sở của sự sắp xếp?
DG: Sự việc xảy ra thường có mở đầu,
phát triển và kết thúc.Tôn trọng sự thật,
cốt để người đọc, người nghe hình
dung đầy đủ và mạch lạc một lễ hội
Lễ Nô-en của Giáo dân Phát Diệm
a.Mục đích của văn bản:Giới thiệu về Lễ Nô-en của
Giáo dân Phát Diệm: Địa điểm, thời gian, diễn biến
và ý nghĩa lễ hội đối với đời sống tinh thần của
Giáo dân Phát Diệm
b.Các ý chính tạo thành nội dung văn bản
-Địa điểm lễ hội
-Thời gian lễ hội:
-diễn biến lễ hội
-Ý nghĩa lễ hội đối với đời sống nhân dân
C. Cách sắp xếp ý
-Theo thời gian, diễn biến của sự việc
-Kết hợp lời kể & miêu tả
-Lời kể là chủ yếu
d.Các hình thức kết cấu chủ yếu đã được sử dụng
trong văn bản thuyết minh: theo trình tự thời gian
diễn biến của sự việc.
Tam Cốc Bích Động,Nhà thờ Đá Phát
Diệm )
a.Giới thiệu một đặc sản nổi tiếng:
b. Các ý chính
c.Các ý sắp xếp theo quan hệ kết hợp
-Quan hệ không gian: từ ngoài vào trong
-Quan hệ logic: Các phương diện khác nhau của
cơm cháy: hình dáng, màu sắc, hương vị, giá trị ...
-Quan hệ nhân quả
III.Ghi nhớ:
SGK
IV.Luyện tập
1.BT1
Ta nên kết hợp trình tự logic: Sự vật, sự việc theo
cácmối quan hệ: nhân-quả, chung-riêng, liệt kê các
mặt các phương diện .
2.BT2
3. BT3,4: GV hướng dẫn HS về nhà làm
E. Củng cố
Trình bày các hình thức của văn bản thuyết minh?
. Dặn dò
Học bài
Soạn bài: “Lập dàn ý bài văn thuyết minh”
G. Rút kinh nghiệm:
Trang 9
hướng dẫn viên du lịch em sẽ
NỘI DUNG BÀI HỌC
I.Tính chuẩn xác trong văn bản thuyết minh
1. Tính chuẩn xác và một số biện pháp bảo đảm tính
chuẩn xác của văn bản thuyết minh
-Mục đích của văn bản thuyết minh là cung cấp những
tri thức về sự vật khách quan nhằm giúp cho hiểu bíêt
của người đọc, người nghe thêm chính xác và phong
phú→Chuẩn xác là yêu cầu đầu tiên cũng là yêu cầu
quan trọng nhất của văn bản thuyết minh.
-biện pháp đảm bảo tính chuẩn xác:
+Tìm hiểu thấu đáo trước khi viết, tôn trọng thực tế
khách quan
+Thu thập đầy đủ tài liệu tham khảo, cập nhật tài
liệu…→cơ sở khoa học
giới thiệu gì về Ninh Bình. Hãy
chuẩn bị một tài liệu để thuyết
minh về quê hương Ninh Bình.
PV: Để đạt được sự chuẩn xác
chúng ta cần chú ý sử dụng những
tư liệu nào?
→định hướng: sử dụng những tài
liệu đáng tin cậy, những số liệu
chính xác, mang tính thời sự về
Ninh Bình
2.Luyện tập
G V hướng dẫn HS đối chiếu với a.-Trong chương trình Ngữ văn 10 không chỉ có VHDG
Trang 10
cách đây một ngàn năm.
c.Văn bản dẫn trong bài tập khong thể sử dụng để thuyết
minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì nội dung của nó
không nói đến Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư các một nhà
thơ .
II.Tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh
1.Tính hấp dẫn và một số biện pháp tạo tính hấp dẫn
của văn bản thuyết minh
-Văn bản thuyết minhg không hấp dẫn người ta sẽ không
đọc, văn bản không có tác dụng→tính hấp dẫn vô cùng
quan trọng
-Biện pháp tạo nên sự hấp dẫn:
+Đưa ra những chi tiết cụ thể, sinh động, những con
số chính xác để bài văn không trừu tượng mơ hồ.
+So sánh để làm nổi bật sự khác biệt, khắc sâu vào trí
nhớ người nghe, người đọc.
+Kết hợp và sử dung các kiểu câu làm cho bài văn
thuyết minh biến hoá linh hoạt, không đơn điệu.
+Khi cần nên phối hợp nhiều kiến thức để đối tượng
cần thuyết minh được soi rọi từ mọi mặt.
lam thắng cảnh, địa điểm du lịch
tiêu biểu ở Ninh Bình: Chùa bái
Đính, Tràng An, Tam Cốc Bích
Động,Nhà thờ Đá Phát Diệm...
-Một số lễ hội truyền thống ở
Ninh Bình: lễ hội đền Trần, lễ hội
Trường Yên,...
-Đặc sản Ninh Bình
GV trình chiếu hình ảnh, tư liệu
(SGK)
IV.Luyện tập
E. Cñng cè, dÆn dß
- Hệ thống kiến thức đ· học
- So¹n bµi theo ph©n phèi ch¬ng tr×nh
G. Rót kinh nghiÖm:
Trang 12
Tiết: 63
Ngày soạn:
LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN THUYẾT MINH
A. Mục tiêu
- Củng cố vững chắc kĩ năng viết đoạn văn đã được học, đồng thời thấy được mối liên hệ
giữa các kĩ năng đó với kĩ năng lập dàn ý.
- Luyện viết đoạn văn thuyết minh.
-Sử dụng ngay những tài liệu thu thập của nhóm mình để viết đoạn văn thuyết minh về
nghề truyền thống ở Kim Sơn ( dệt chiếu, thủ công mĩ nghệ, nấu rượu…)
B. Phương tiện
- SGK, SGV, TL tham khảo.
- Thiết kế bài giảng.
C. Phương pháp
- Phát vấn, trao đổi thảo luận, thực hành.
D. Tiến hành
1 Ổn định lớp
2 kiểm tra bài cũ
- Sắp xếp ý theo thứ tự rõ ràng …
kiểm tra qua các câu hỏi SGK.
Các nhóm chấm điểm cho nhau, GV nhận - Vận dụng đúng và sáng tạo các phương pháp
…
xét, kiểm tra lại kết quả.
III. Ghi nhớ: SGK.
(?) Để viết được một đoạn văn thuyết IV. Luyện tập.
Bài tập : Viết 1 đoạn văn nối tiếp ý đoạn mà
minh cần phải làm gì
vừa hoàn thành.
GV yêu cầu học sinh đọc ghi nhớ SGK.
E. Cñng cè, dÆn dß
- Hệ thống kiến thức đ· học
- So¹n bµi theo ph©n phèi ch¬ng tr×nh
G. Rót kinh nghiÖm:
Trang 13
Kim tra ỏnh giỏ kt qu hc tp theo nh hng tớch hp:
Kim tra hc sinh bng hỡnh thc kim tra T lun Vit bi tp lm vn
Tiết 64
Ra bi lam vn sụ 5
A. Mục tiêu
1. Biết vận dụng các kin thc đã học để làm bài văn thuyt minh
2. Trình bày và diễn đạt nội dung bài viết sáng sủa, đúng quy tắc.
3. Có hứng thú đọc văn và viết văn.
4.Tớch hp m rng theo hng vn dng kin thc hiu bit v cỏc a danh thuyt
minh v danh lam thng cnh, di tớch lch s quờ hng.
Trang 14
KẾT LUẬN
Trên đây là một vài trao đổi của tôi về phương pháp dạy phần văn thuyết minh theo
hướng tích hợp kiến thức lịch sử- địa lý- văn hóa địa phương.
Tổng hợp trung bình chất lượng giữa phương pháp cũ và phương pháp mới tôi thấy
sau khi vận dụng đúng phương pháp mà tôi đã trình bày, chất lượng học môn Ngữ Văn của
các lớp có sự tiến bộ như sau:
Kết quả phương pháp cũ
Phương pháp theo hướng tích hợp
Giỏi :
3%
Khá :
10 %
Trung bình : 52 %
Yếu :
25 %
Kém :
10 %
Giỏi :
6%
Khá :
15 %
Trung bình : 69 %
Yếu :
•
•
Phía bắc giáp với Hòa Bình, Hà Nam,
Phía đông giáp Nam Định qua sông Đáy,
Phía tây giáp Thanh Hóa,
Phía nam giáp biển (vịnh Bắc Bộ).
Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam.
Địa hình
Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại
địa hình. Vùng đồi núi và bán sơn địa ở phía tây bắc bao gồm các huyện Nho Quan, Gia
Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp. Nơi đây có đỉnh Mây Bạc với độ cao 648 m là đỉnh núi cao nhất
Ninh Bình. Vùng đồng bằng ven biển ở phía đông nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên
Khánh. Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp. Rừng ở Ninh Bình có đủ cả
rừng sản xuất và rừng đặc dụng các loại. Có 4 khu rừng đặc dụng gồm rừng Cúc Phương,
rừng môi trường Vân Long, rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư và rừng phòng hộ ven
biển Kim Sơn. Khu rừng đặc dụng Hoa Lư - Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản
thế giới thuộc quần thể danh thắng Tràng An. Ninh Bình có bờ biển dài 18 km. Bờ biển Ninh
Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m. Vùng ven biển và biển Ninh Bình đã
được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Hiện 2 đảo thuộc Ninh Bình là
đảo Cồn Nổi và Cồn Mờ.
Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5
đến tháng 9; mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; tháng 4, tháng
10 là mùa xuân và mùa thu, tuy không rõ rệt như các vùng nằm phía trên vành đai nhiệt đới.
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700-1.800 mm; Nhiệt độ trung bình 23,5 °C; Số
giờ nắng trong năm: 1.600-1.700 giờ; Độ ẩm tương đối trung bình: 80-85%.
Tỉnh Ninh Bình
Vùng
Đồng bằng sông Hồng
Tỉnh lỵ
Thành phố Ninh Bình
Chủ tịch UBND
Bùi Văn Thắng
Chủ tịch HĐND
Nguyễn Tiến Thành
Bí thư Tỉnh ủy
Nguyễn Thị Thanh
Phân chia
hành chính
2 thành phố, 6 huyện.
Mã hành chính
VN-18
Mã bưu chính
Dân số
Tên
Huyện Kim
Sơn
Huyện Nho
517
Quan
Huyện Yên
668
Khánh
Huyện Yên
655
Mô
46,70 106.280 2.276
106,80
55.188
Huyện Gia Viễn 178,50 119.284
Huyen Hoa Lu
tinh Ninh Binh
Mật
độ
102,90
•
•
•
Diện tích:1.400 km²
Dân số: 898.459 người (điều tra dân số 01/04/2009)
Mật độ dân số 642 người/km².
Trang 19
Trên địa bàn tỉnh có hai tôn giáo chính là: Phật giáo và Thiên chúa giáo. 15% dân số theo đạo
Thiên chúa.
Khoáng sản
Tài nguyên đá vôi: Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình. Với
những dãy núi đá vôi khá lớn, chạy theo hướng tây bắc – đông nam, qua Nho
Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Yên Mô, tới tận biển Đông, dài hơn 40 km,
diện tích trên 1.2000ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối đá vôi và hàng chục triệu tấn
đôlômít. Đây là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng và
một số hóa chất khác.
•
•
•
Tài nguyên đất sét: Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc xã Yên Sơn, Yên
Bình (Tam Điệp), huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch ngói và nguyên liệu
ngành đúc.
đổi là Lạc Yên). Năm Gia Long 5 (1806) đổi Thanh Hoa ngoại trấn làm đạo Thanh Bình.
Năm Minh Mệnh 3 (1822) đổi làm đạo Ninh Bình. Năm Minh Mệnh 10 (1829) lại đổi làm
trấn, lập thêm 1 huyện mới Kim Sơn (cộng 7 huyện). Năm thứ 12 (1831) đổi làm tỉnh Ninh
Bình[8], quan đầu tỉnh là tuần phủ, đặt dưới quyền của tổng đốc Hà Ninh (quản hạt cả vùng Hà
Nội đến tận Ninh Bình). Cho đến đời Đồng Khánh không thay đổi. Đầu đời Thành Thái cắt
huyện Lạc Yên về tỉnh Hoà Bình mới lập.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành
tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 12 tháng 8 năm 1991[9]. Khi tách ra, tỉnh Ninh Bình có
diện tích 1.386,77 km², dân số 787.877 người, gồm 2 thị xã Ninh Bình (tỉnh lị), Tam Điệp và
5 huyện: Gia Viễn, Hoa Lư, Hoàng Long, Kim Sơn, Tam Điệp. Ngày 23 tháng 11 năm1993,
huyện Hoàng Long đổi lại tên cũ là huyện Nho Quan. Ngày 4 tháng 7 năm 1994, huyện Tam
Điệp đổi lại tên cũ là huyện Yên Mô và tái lập huyện Yên Khánh từ 10 xã của huyện Tam
Điệp cũ và 9 xã của huyện Kim Sơn. Ngày 7 tháng 2 năm 2007, chuyển thị xã Ninh Bình
thành thành phố Ninh Bình.
Về mặt quân sự, Ninh Bình cũng giữ một vị trí then chốt vì đèo Ba Dội nằm trong dãy Tam
Điệp là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từThăng
Long vào Thanh Hóa hay từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, đều phải vượt đèo này. Hiện tại, nơi
đây là đại bản doanh của Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng, là một trong bốn binh đoàn
chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam. Các đơn vị quân đội khác đóng quân trên địa bàn
Ninh Bình gồm có: Lữ đoàn 279 (Phường Nam Sơn, Thị xã Tam Điệp); Lữ đoàn 241 (Quỳnh
Lưu, Nho Quan); Trung đoàn 202 (Phú Lộc, Nho Quan); Kho J 102 (Thạch Bình, Nho Quan);
Sư đoàn 350 (Bích Đào, thành phố Ninh Bình); Viện Quân y 5(Phúc Thành, TP Ninh Bình);
Đồn Biên phòng Kim Sơn và Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Ninh Bình (Kim Đông, Kim
Sơn).
Trang 21
Văn hóa
danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần
Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng
Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II... Cho đến nay vùng đất
Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian
văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào
Nam, từ biển vào. Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển,
nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua... Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong
vùng văn hoá môi trường đất mở.
Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: Tam Cốc - Bích Động, động
Vân Trình, động Tiên, động Thiên Hà, Tràng An, động Mã Tiên... Bích Động được mệnh
danh là "Nam thiên đệ nhị động", Địch Lộng là "Nam thiên đệ tam động". Ở phía nam thành
phố Ninh Bình có một quả núi giống hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi lànúi
Ngọc Mỹ Nhân. Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo
đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân
mặc khách khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh
nhân văn hoá lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông,Nguyễn Trãi, Hồ
Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca.
Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng
văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh
Bình.
Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình gắn liền với tín ngưỡng của vùng đất sinh
Vua, sinh Thánh, sinh Thần thông qua các đền thờ Vua (đặc biệt là các Vua Đinh Tiên
Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Thái Tông, Quang Trung và Triệu Quang Phục với số lượng vài
chục đền thờ mỗi vị); thờ Thánh (Nguyễn Minh Không và các tổ nghề); thờ Thần (phổ biến là
các vị thần Thiên Tôn, thần Cao Sơn và thần Quý Minh trong không gian văn hóa Hoa Lư tứ
trấn). Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa
Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi... Các lễ hội
khác: Lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa
Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật Yên Vệ, lễ hội đền Trần Ninh Bình... các công trình
kiến trúc văn hóa như đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành, nhà thờ Phát
Đinh Tiến Dũng: Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Nguyễn Văn Thành: Nguyên Bí thư thành ủy Hải Phòng.
Đại lão hoà thượng Thích Phổ Tuệ: Giáo chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trung tướng Bùi Văn Thành - Thứ trưởng Bộ công an
Trung tướng Nguyễn Văn Vượng- tư lệnh Cảnh sát Cơ động K20
Lê Bộ Lĩnh - phó chủ nhiệm ủy ban khoa học -công nghệ- môi trường Quốc hội
Ninh Bình cũng là vùng đất gắn với đỉnh cao sự nghiệp của các danh nhân như Anh hùng dân
tộc Lê Hoàn, Doanh điền Nguyễn Công Trứ, Bà tổ hát chèo Phạm Thị Trân,...
Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc. Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổ sông
Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc. Thế mạnh
kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch.
Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, Năm
2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng
đầu miền Bắc. Ninh Bình là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt
Nam; Năm 2010 thu ngân sách đạt 3.100 tỷ đồng trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ đứng
thứ 56/63 và 43/63. Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2011: Công nghiệp - xây dựng: 46,35%;
Nông, lâm - ngư nghiệp: 13,9%; Dịch vụ: 39,6%.
Trang 24
Vùng ven biển Kim Sơn là khu dự trữ sinh quyển thế giới
Trang 25