Quản lý hành chính nhà nước: MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI HOÁ Ở XÃ ĐIỆN DƯƠNG, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 28

Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
LỜI MỞ ĐẦU
0O0
Nông nghiệp, Nông thôn có vị trí , vai trò rất quan trọng trong tiến trình
phát triển của lịch sử xã hội . Đó là khu vực sản xuất vật chất chủ yếu đảm
bảo nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội loài người, là thị trường rộng lớn,
đảm bảo môi trường sinh thái cho nhân loại.
Ở Việt Nam từ sau đổi mới đã có những biến đổi đáng mừng. Trong sự
biến đổi đó, thành tựu về phát triển Nông nghiệp, Nông thôn đặc biệt là sản
xuất lương thực, được xem là khâu đột phá quan trọng. Từ chỗ thiếu ăn,
chúng ta đã có lương thực xuất khẩu và đã trở thành một trong những nước
xuât khẩu lương thực lớn trên thế giới. Phải khẳng định đó là một thành tựu
nổi bật. Thế nhưng đủ ăn rồi mà nông dân Nông thôn vẫn còn nghèo và hộ
dân có mức sống dưới trung bình chiếm 40%. Đi liền với tình trạng nghèo nàn
mà thị trường Nông thôn kém phát triển, các hoạt động ở khu vực Nông thôn
vẫn còn kém sôi động, hiệu quả kinh tế của kinh tế Nông thôn vẫn còn thấp,
nguồn tài nguyên và nhân lực vẫn còn tiếp tục bị lãng phí. Nguyên nhân đó
chủ yếu là do cơ cấu kinh tế nông thôn chậm biến đổi, trong Nông nghiệp còn
mang nặng tính độc canh và thuần nông chưa phát triển mạnh theo hướng
sản xuất hàng hoá gắn với phát triển Nông thôn.
Từ thực tiễn đó, Đảng và Nhà Nước ta đã có những nghị quyết và các
chủ trương, biện pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế
Nông nghiệp, nông thôn nói riêng theo tinh thần nghị Quyết hội nghị Ban
chấp hành Trung ương lần thứ 5 ( Khoá VII). Tư tưởng cốt lõi của nghị quyết
là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp , Nông thôn nước ta từ thuần
nông sang một nền kinh tế đa dạng phong phú theo hướng tăng dần tỷ trọng
Nông nghiệp và Dịch vụ , khai thác và sử dụng hợp lý nhất mọi nguồn lực của
đất nước.
Quán triệt tinh thần Nghị Quyết Trung ương V, tất cả các ngành , các
cấp, các địa phương đã triển khai chỉ đạo quá trình chuyển dịch này. Chính vì
xu hướng đó, việc xác định những cơ sở khoa học để quá trình chỉ đạo và thực

Bố cục của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương.
Chương I: Cơ cấu kinh tế Nông nghiệp và sự cần thiết phải chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Nông nghiệp theo hướng Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá.
Chương II: Thực trạng sản xuất Nông nghiệp và cơ cấu kinh tế Nông
nghiệp ở xã Điện Dương.
Chương III: Phương hướng, mục tiêu và những biện pháp để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp, nông thôn của Xã Điện Dương theo hướng
Công nghiệp hoá , Hiện đại hoá.
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 2
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
PHẦN: I
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
I/ MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP
1/ Cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế là nền tảng cốt lõi của cơ cấu xã hội, liên quan đến chế độ
xã hội . Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội Các Mác nhấn mạnh:"
Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá
trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất" (Các Mác góp
phần phê phán kinh tế chính trị học- NXB sự thật Hà Nội 1964, trang 7).
Quá trình sản xuất xã hội bao gồm toàn bộ những quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất cũng có
nghĩa là cơ cấu kinh tế thể hiện những quan hệ về quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất của nền kinh tế. Mối quan hệ kinh tế đó không phải chỉ là những quan
hệ riêng lẻ từng bộ phận kinh tế, mà phải là những quan hệ tổng thể của các bộ
phận cấu thành nền kinh tế, bao gồm các yếu tố kinh tế mà trước hết là các yếu tố
của quá trình tái sản xuất, bao gồm cả 4 khâu: sản xuất- phân phối- lưu thông-
tiêu dùng, các yếu tố của lực lượng sản xuất trong mối quan hệ tác động của quan

hợp với sự biến đổi của các điều kiện kinh tế, xã hội và tiến bộ khoa học công
nghệ để đảm bảo quy mô và nhịp độ phát triển kinh tế. Mặt khác, cơ cấu kinh tế
tương đối ổn định, đảm bảo sự phù hợp với quá trình hình thành và phát triển của
nó một cách khách quan. Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi không dựa vào một cơ sở
khoa học sẽ tạo nên tình hình không ổn định trong sản xuất, trong trang bị cơ sở
vật chất, kỹ thuật, gây lên nhiều lãng phí, tổn thất.
Một cơ cấu kinh tế phù hợp càng tạo điều kiện mở rộng quá trình sản xuất,
phân công và hợp tác lao động giữa các ngành, các vùng, các đơn vị kinh tế trong
nước và trên phạm vi quốc tế. Một cơ cấu kinh tế mang tính tự túc, tự cấp, tự sản,
tự tiêu là một cơ cấu kinh tế lạc hậu, kìm hãm đi ngược lại quá trình sản xuất,
phân công hợp tác lao động và tất nhiên sẽ kém hiệu quả không phù hợp với nền
kinh tế thị trường.
Cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều bộ phận kinh tế, bộ phận chủ yếu (có thể gọi
là bộ phận kinh tế then chốt, mũi nhọn). Quyết định chiều hướng , quy mô và
nhịp độ phát triển của nền kinh tế, nhưng nó cũng đòi hỏi sự ưu tiên về sự đầu tư
vốn, Khoa học và Công nghệ, các chính sách. Sự tồn tại của bộ phận kinh tế then
chốt, mũi nhọn là xuất phát từ nguyên tắc lợi thế so sánh của bộ phận kinh tế đó
so với bộ phận kinh tế khác trong điều kiện vốn đầu tư, cơ sở vật chất và kỹ
thuật, đất đai có hạng. Việc phân bổ vốn đầu tư dàn trải cho các bộ phận kinh tế
sẽ không mang lại hiệu quả. Ngược lại, tập trung quá mức vốn đầu tư cho một bộ
phận kinh tế gây nên tình trạng mất cân đối của cơ cấu kinh tế. Điều đó đòi hỏi
trong đầu tư vốn cần tính đến tính cân đối giữa các ngành, các bộ phận kinh tế để
phân bổ vốn hợp lý, nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển đem lại hiệu quả kinh tế
cao.
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 4
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
2/ Cơ cấu kinh tế Nông nghiệp , Nông thôn:
Kinh tế Nông thôn là một trong hai bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế quốc
dân. Kinh tế nông thôn được phân biệt với kinh tế thành thị không đơn thuần ở
tính đặc trưng ngành mà là đặc trưng lãnh thổ. Sự phận biệt đó gắn liền với điều

xã hội .
Cũng như khái niệm về cơ cấu kinh tế chung, khái niệm cơ cấu kinh tế
nông thôn bao gồm các nội dung: Cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 5
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
cấu vùng lãnh thổ, các loại cơ cấu này hình thành, phát triển theo hướng tăng các
ngành Công nghiệp, Tiểu thủ Công nghiệp và Dịch vụ nhằm sử dụng các nguồn
lực tại chỗ, nhất là nguồn lao động theo hướng tăng hiệu quả kinh tế và xã hội,
nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân Nông thôn. Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế Nông thôn là một quá trình vận động của các bộ phận cấu thành tổng
thể cơ cấu kinh tế Nông thôn. Mục tiêu của sự chuyển dịch đó là đảm bảo sự hài
hoà trong tổng thể mà các bộ phận liên kết với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát
triển và không ngừng hoàn thiện. Việc chuyển từ cơ cấu kinh tế Nông thôn cũ
sang cơ cấu kinh tế Nông thôn mới nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhân tố chủ
quan và khách quan, trong đó tác động của con người có ý nghĩa quan trọng là
nhân tố quyết định.
Trong điều kiện nông thôn Việt Nam hiện nay, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nông thôn có mục tiêu rõ ràng, cụ thể. Đó là chuyển dịch một nền kinh tế Nông
thôn thuần nông sang một nền kinh tế Nông thôn đa dạng, trong đó có Nông
nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ với sự tham gia của các thành phần kinh tế, sự
phát triển đồng bộ của các vùng lãnh thỗ trong nước. Trong Nông nghiệp chuyển
dần lao động từ Nông nghiệp sang sản xuất Công nghiệp- Tiểu thủ Công nghiệp
và Dịch vụ. Hiện nay cơ cấu Nông nghiệp vẫn dừng lại tỷ lệ trồng trọt chiếm
75% chăn nuôi chiếm 25% vì vậy chăn nuôi vẫn còn là ngành phụ.
Cơ cấu kinh tế Nông thôn hình thành, tồn tại , phát triển và chuyển dịch
theo hướng ngày càng có hiệu quả nếu sự điều hành chỉ đạo của Nhà Nước với
các chính sách và giải pháp thích ứng ở tầm vĩ mô. Các bộ phận trong cơ cấu
kinh tế Nông thôn quan hệ chặt chẽ với nhau và có tác động qua lại lẫn nhau thúc
đẩy nhau cùng phát triển.
3/ Vai trò của Nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân ở nước ta:

nhằm một mặt giải quyết nhu cầu thiết yếu của nhân dân, đảm bảo lương thực,
thực phẩm cho xã hội để ổn định cuộc sống, mặt khác với những sản phẩm do
ngành Nông nghiệp sản xuất ra, thông qua con đường xuất khẩu, tạo nguồn ngoại
tệ ban đầu để sản xuất máy móc thiết bị, vật tư, nguyên liệu phục vụ cho chính
bản thân ngành Nông nghiệp và cho nền kinh tế quốc dân. Đây là bước đi phù
hợp với điều kiện nước ta để có tích luỹ ban đầu, tạo tiền đề cho CNH, HĐH đất
nước, quá độ đi lên CNXH không qua con đường phát triển Tư Bản Chủ Nghĩa.
3.3/ Nông nghiệp là ngành thu hút đại bộ phận lao động ở Nông thôn, tạo
công ăn việc làm tại chỗ cho người lao động, góp phần ổn định cuộc sống, ổn
định xã hội , góp phần phân công lại lao động xã hội và lao động ở nông thôn nói
riêng.
Thực tiễn ở nước ta đã chứng minh, Nông nghiệp là ngành thu hút đại bộ
phận lao động ở nông thôn (trên 60%). Lực lượng lao động này chủ yếu là lao
động phổ thông, chưa được đào tạo nghề nhưng có sức khoẻ, cần cù lao động
Nên có vai trò quan trọng trong sản xuất Nông nghiệp. Vì vậy, phát triển Nông
nghiệp, Nông thôn theo hướng CNH- HĐH sẽ là điều kiện và cơ hội để giải quyết
công ăn việc làm tại chỗ cho người lao động, nhằm giảm bớt áp lực người lao
động từ Nông thôn tập trung về đô thị để tìm việc làm, vừa gây khó khăn cho
công tác quản lý xã hội, vừa ảnh hưởng đến tình hình An ninh trật tự ở đô thị,
nhất là các đô thị lớn, cho nên phải quan tâm đến việc phát triển ngành nghề ở
nông thôn để tạo công ăn việc làm cho lao động nông nghiệp với phương châm
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 7
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
"ly nông bất ly hương". Một khi giải quyết tốt về vấn đề lao động ở nông thôn thì
sẽ hạn chế được tình hình dư thừa lao động, người nông dân có thu nhập, ổn định
cuộc sống, gắn bó với quê hương ruộng đồng ngành nghề, góp phần xây dựng
nông thôn mới văn minh, hiện đại.
4/ Những quan điểm của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH, HĐH:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình chuyển biến phức tạp từ thấp

Thứ tư: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải phù hợp với điều kiện Kinh tế-
Xã hội của đất nước và quan hệ hợp tác quốc tế đa phương hoá, đa dạng hoá .
Phải căn cứ vào các nguồn lực như tài nguyên, nguồn lao động, vốn khoa
học công nghệ trên cơ sở đó mà hoạch định chiến lược quá trình phát triển kinh
tế cũng như việc hợp tác, liên kết, liên doanh, tranh thủ nguồn đầu tư của nước
ngoài và tiếp thu được quy trình khoa học, công nghệ tiên tiến. Trong phát triển
kinh tế, cần kết hợp hài hoà giữa lợi ích trước mắt, cũng như lâu dài việc khai
thác sử dụng các nguồn lực, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cần
phải coi trọng việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Thứ năm: chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đảm bảo triển khai thành công
quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước.
Sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Xã hội là một quá trình xây dựng quan hệ
sản xuất XHCN, xây dựng cơ sở vật chất của Chủ nghĩa Xã hội, xây dựng nền
văn hoá mới và con người mới . Công nghiệp hoá chính là quá trình xây dựng cơ
sở vật chất của CNXH, tạo điều kiện từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới
tương ứng với trình độ đạt được của cơ sở vật chất ấy. Đối với Nông nghiệp và
Nông thôn, vấn đề cốt lõi là phải đẩy mạnh phát triển Nông nghiệp toàn diện,
trong đó chú trọng đến sự phát triển của ngành Nông nghiệp cung cấp nguyên
liệu cho Nông nghiệp chế biến, hạn chế nhập khẩu những nguyên liệu, vật tư mà
trong nước có điều kiện và khả năng sản xuất, đồng thời mở rộng hợp tác kinh tế
trên cơ sở đảm bảo hoà bình, ổn định và theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi.
5/ Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp, Nông
thôn theo hướng CNH,HĐH:
Kinh tế Nông thôn nước ta trước mắt cũng như lâu dài vẫn giữ vị trí hết
sức quan trọng. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải biến đổi cơ cấu kinh tế Nông
nghiệp- Nông thôn, tạo ra hiệu quả cao nhất, thoả mãn được những đòi hỏi ngày
càng tăng của nền kinh tế quốc dân. Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông
nghiệp Nông thôn là một việc làm cần thiết để tạo ra bước phát triển, làm cho bộ
mặt Nông thôn ngày càng văn minh và tiến bộ. Sự cần thiết đó xuất phát từ
những vấn đề chủ yếu sau đây:

truyền thống chủ yếu còn tự cấp, tự túc. Phải trên cơ sở các điều kiện về tiềm
năng sẵn có mà hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm biến Nông thôn thuần
nông thành Nông thôn mới, văn minh và hiện đại, có cơ cấu Nông- Công nghiệp-
Dịch vụ với tỷ suất hàng hoá lớn, hiệu quả kinh tế ngày càng cao, nhằm biến
nước ta thành một nước có nền kinh tế phát triển.
3.5/ Tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt, có giá trị cao về
kinh tế, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước:
Ở nước ta, nền kinh tế thị trường đang được thiết lập phát huy tác dụng tất
yếu chi phối đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thôn. Theo đó, mọi
khu vực sản xuất mọi thành phần kinh tế khi tiến hành sản xuất đều phải được
giải quyết 3 vấn đề lớn: Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai?
Để giải đáp 3 vấn đề này, đòi hỏi người sản xuất phải theo sát và nắm bắt được.
Khi tất cả các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá, các yếu tố sản xuất như đất
đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản
lý, các sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua bán, là hàng hoá.
Cơ cấu kinh tế nông thôn, trong cơ chế thị trường cũng phải tuân thủ và bảo đảm
các mối quan hệ đó. Trong nền kinh tế thị trường với quy luật vận động của nó,
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 10
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
giá cả sẽ điều tiết hành vi của người sản xuất, tạo ra một thiết chế làm nảy sinh
những mối quan hệ tỷ lệ nhất định trong cơ cấu kinh tế. Các cơ quan hoạch định
chính sách phải có những giải pháp điều chỉnh, thông qua hệ thống chính sách
kinh tế vĩ mô để định hướng cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả nhất.
4.5/ Hình thành và phát triển các vùng chuyên canh trên cơ sở áp dụng
rộng rãi các tiến bộ Khoa học Công nghệ vào sản xuất, nhất là Công nghệ
Sinh học.
Trên cơ sở xác định đặc điểm địa lý, đất đai thổ nhưỡng của từng vùng,
từng địa phương, nghiên cứu các loại cây con phù hợp để hình thành các vùng
sản xuất tập trung, chuyên canh. Việc áp dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học-
công nghệ vào sản xuất nhất là công nghệ sinh học một cách thuận lợi và đạt kết

Thứ ba: Phát triển mạnh mẽ ngành Công nghiệp và Dịch vụ nông thôn gắn
với nguồn nguyên liệu, vật liệu tại chỗ, ưu tiên phát triển Công nghiệp chế biến
Nông , Lâm, Thuỷ hải sản, chế biến thực phẩm.
Thứ tư: Đẩy nhanh sự đổi mới Công nghệ đào tạo áp dụng công nghệ
thích hợp, có hiệu quả, giải quyết được nhiều việc làm. Từng bước giải quyết tốt
vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản phẩm.
Thứ năm: Phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành
nghề mới bao gồm cả Công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.
Thứ sáu: Xây dựng kết cấu hạ tầng Kinh tế- Xã hội từng bước xây dựng
nông thôn mới, văn minh và hiện đại. Phát triển Nông nghiệp phải đồng thời xây
dựng Nông thôn mới.
PHẦN II
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ CƠ CẤU KNH TẾ
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐIỆN DƯƠNG
TRONG THỜI GIAN QUA
I/ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA XÃ ĐIỆN DƯƠNG
1. Điều kiện tự nhiên:
Nông nghiệp và kinh tế nông thôn Điện Dương đóng vai trò rất quan trọng
trong nền kinh tế địa phương. Với 95% dân số hoạt động lĩnh vực, Nông- Lâm-
Ngư nghiệp, vừa tạo ra các nguồn giá trị Kinh tế- Xã hội giải quyết được lao
động tại địa phương, tạo cho nông dân có tích luỹ, có đầu tư. Nông nghiệp Điện
Dương luôn luôn gắn bó với người nông dân và góp phần giải quyết các mối
quan hệ xã hội, đồng thời gắn liền giá trị đạo đức tình làng nghĩa xóm, giá trị văn
hoá tinh thần.
Để đáp ứng theo tình hình phát triển của xã hội trong thời kỳ đổi mới nhằm
nâng cao đời sống, để bộ mặt nông thôn ngày càng phát triển tạo ra bức tranh
chung triển vọng cùng cả nước, trên cơ sở cùng giải quyết các vấn đề xã hội
khác. Đồng thời phát triển sự nghiệp giáo dục, kinh tế, tăng cường làm tốt các
mối quan hệ xã hội trong cộng đồng dân cư, đảm bảo An ninh trật tự, An toàn xã
hội, để cùng tiến bộ và phát triển .

Giao thông với Tỉnh lộ 607B ngang xã và đường du
lịch ven biển chiều dài tổng giao thông xã có 100 km .
* Văn hoá – xã hội: Toàn xã có: 1230 liệt sĩ
158 bà Mẹ VNAH
330 Thương binh
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 13
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
* Diện tích gieo trồng có: 804 ha
Cây lương thực có 604 ha
Cây công nghiệp có 120ha
Cây thực phẩm có 80ha
Diện tích rừng (đất) có 360 ha
Diện tích rừng tập trung 55 ha
Diện tích nuôi trồng có 10 ha
* Ngư nghiệp:
Tàu gỗ có 06 chiếc
Thuyền nan 15 CV có 55 chiếc
Thuyền con 12 CV có 25 chiếc
Thuyền máy 20CV có 170 chiếc
Thúng bơi + Thúng máy có 113 chiếc
Điện mành có 71 dàn
* Cơ sở phúc lợi:
Đài truyền thanh xã công suất 600 KVA.
Bưu điện xã 01
Trạm Y tế tầng hoá 01
Trường mẫu giáo xây dựng trường chuẩn có 10 lớp
02 trường tiểu học tầng hoá trường chuẩn Quốc gia có 57 lớp.
01 trường THCS tầng hoá chuẩn Quốc gia có 26 lớp
Tổng học sinh ra lớp 2946 em
Giáo viên 106

Năng xuất lúa (tạ/ha) 32 32,5 34 36 37 40
Giá trị SXCN–TTCN (tỉ đồng) 1 2 3 4 5 7
Đàn gia súc (con) 4200 4700 520
0
6000 6300 7200
Đầu tư XDCB (triệu) 240 340 620 1515 1734 6782
Xoá đói giảm nghèo (hộ) 30 129 259 371 390 485
Giá trị sản xuất (triệu) 150 2000 270
0
6500 7600 9860
Hộ dùng điện (hộ) 530 900 150 2000 2100 2250
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 15
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
0
Trồng rừng (ha) 45 45 55 75 85 93
Phát triển giao thông (km) 02 08 15 20 37
Qua các năm triển khai thực hiện đường lối của Đảng, Nghị quyết
06/NQ-TW của bộ chính trị, bộ mặt Nông thôn trên địa bàn xã có nhiều chuyển
biến, các chỉ tiêu sản xuất chủ yếu của năm sau đều tăng so với năm trước, tốc độ
tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp hàng năm đạt chỉ tiêu đề ra, đảm bảo được
an toàn lương thực, sản xuất hàng hoá bước đầu đã hình thành, sản lượng nuôi
trồng thuỷ sản tăng nhanh, các loại cây nguyên liệu được tổ chức sản xuất gắn
với Công nghiệp chế biến, việc ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ Khoa học kỹ
thuật vào sản xuất được đẩy mạnh, công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ
có tiến bộ. Kết cấu hạ tầng và đời sống văn hoá ở nông thôn được quan tâm đầu
tư và đem lại những thay đổi đáng kể.
3/ Những hạn chế:
Bên cạnh những thành tích đạt được trong quá trình triển khai thực hiện
các chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển kinh tế Nông nghiệp- Nông
thôn còn một số tồn tại:

Kết cấu hạ tầng Nông thôn trong thời gian qua tuy được quan tâm xây
dựng đúng mức, nhưng xét tổng thể trên địa bàn vẫn còn yếu kém so với khu vực.
Trình độ dân trí chưa đạt theo yêu cầu của CNH- HĐH đất nước.
II/ THỰC HIỆN CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ QUÁ
TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG
THÔN CỦA XÃ ĐIỆN DƯƠNG.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã theo hướng Công nghiệp hoá, Hiện
đại hoá trong những năm qua theo hướng tăng dần tỷ trọng Công nghiệp –
Thương mại dịch vụ trong GDP và giảm dần tỷ trọng Nông nghiệp. Thể hiện năm
1998 : CN 20,7%; TMDV 27,8%; NN 51,5%; đến năm 2005 : CN 30,35%;
TMDV : 39,22% ; NN 30,43%.
Bảng số 1: KẾT QUẢ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA XÃ
(Đvt: %)
Năm
Cơ cấu kinh tế
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nông, lâm, ngư nghiệp 47,0 43,4 41,6 40,9 33,44 3043
Công nghiệp, xây dựng 21,8 23,4 25,5 26,7 28,76 30,35
Thương mại , dịch vụ 31,2 33,2 32,9 32,4 37,8 39,2
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 17
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Điện Dương trong những năm
gần đây cho thấy, một mặt do sự phát triển nhanh của ngành Công nghiệp và
Dịch vụ, nhưng mặt khác là do sự phát triển kinh tế Nông thôn tại các cụm kinh
tế, Điện Nam, Điện Ngọc, Điện Dương đặc biệt là Khu công nghiệp đã góp phần
tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp, Nông thôn theo
hướng CNH- HĐH.
1/ Trên lĩnh vực Nông nghiệp:
Trong các năm qua, sản xuất Nông nghiệp của xã Điện Dương đã có
những bước chuyển biến nhất định, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt

giống lúa đã được phổ cập ở hầu hết các địa phương, diện tích ngô lai được mở
rộng ( năm 2000: 6 ha, năm 2005: 10 ha.). Đến nay, đã cơ bản khắc phục được
những tồn tại lớn trong sản xuất lúa của những năm trước đây, như việc bố trí
mùa vụ không thích hợp, gieo sạ sai lịch thời vụ và cơ cấu giống, sử dụng thóc
thịt làm giống.
Trong các năm qua, mức đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn
đã được quan tâm nhiều hơn so với năm 2000, nhờ đó các công trình hạ tầng đã
phát triển nhanh, công tác ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã được đẩy
mạnh. Việc sử dụng máy móc, nông cụ rộng rãi trong sản xuất nông nghịêp đã
góp phần tăng năng suất lao động một cách rõ rệt; kiến thức của nông dân ngày
càng được mở mang. Công tác giao đất cho hộ nông dân tiếp tục được xúc tiến,
đến nay đã có 1987/2283 hộ nông dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Nhờ vậy, đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi
theo hướng tích cực công tác dồn điền đổi thửa đang được nhân dân đồng tình
hưởng ứng.
2/ Trên lĩnh vực Nông thôn :
Cơ cấu kinh tế nông thôn đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. Giá
trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn tăng nhanh. Giá trị sản xuất
tiểu thủ công nghiệp năm 2005 tăng gấp 2 lần so với năm 2000. Số cơ sở sản xuất
tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ năm 2005 tăng gấp 4 lần so với năm 2000.
Hoạt động Thương mại, Dịch vụ ở các cụm kinh tế trong xã có nhiều
khởi sắc, thu hút nhiều khách tham quan môi trường sinh thái trang trại và tắm
biển ở khu du lịch Hà My. Từ đó, tạo thêm được việc làm và thu nhập cho người
dân địa phương. Cơ cấu vùng kinh tế Nông thôn dần dần được hình thành. Cơ
cấu thành phần kinh tế nông thôn chuyển dịch dần theo hướng CNH- HĐH, các
hộ cá thể, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn tăng.
Kinh tế hộ và kinh tế hợp tác- HTX đã được coi trọng và có sự hỗ trợ của Nhà
nước về nhiều mặt, đã có ¼ HTX bước đầu có sự chuyển biến tích cực trong việc
đổi mới nội dung hoạt động, kinh doanh có hiệu quả, từng bước gắn với các hoạt
động sản xuất, góp phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ

khi các chợ được hình thành, các khu dân cư mới cũng được xây dựng theo, hình
thành các khu dân cư tập trung có đầy đủ điện, nước, giao thông, góp phần thay
đổi diện mạo đô thị hoá nông thôn.
4/ Giải quyết các vấn đề xã hội gắn với phát triển kinh tế Nôngnghiệp-
Nông thôn:
Bảng số 2: BẢNG MỘT SỐ CHỈ TIÊU KHÁC QUA CÁC NĂM
Chỉ Tiêu ĐVT 2000 2001 2002 2003 2004 2005
1/ Dân số trung bình ng 9764 9860 9986 1030
9
1060
8
10757
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 20
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
2/ Tỷ lệ hộ đói nghèo
- Tiêu chuẩn cũ % 23,35 20,55 15,94
- Tiêu chuẩn mới % 12,37 10,1 8,86
3/ Giáo dục
A- Tiểu học
- Trường cái 5 5 5 5 5 5
- Lớp Học lớp 50 52 54 56 59 57
- Học sinh HS 1047 1124 1208 1288 1390 1644
B- Trung học cơ sở
- Trường cái 1 1 1 1 1 1
- Lớp lớp 1 14 16 18 21 24
- Học sinh Hs 460 540 620 800 920 1100
Số hộ dân khu vực Nông thôn được vay vốn từ các chương trình, dự án có
đến cuối năm 2005 là 24%, nhưng bình quân vay vốn còn ở mức thấp, chủ yếu
phục vụ chương trình xoá đói giảm nghèo, các trang trại có nhu cầu vốn lớn
nhưng cũng chỉ được đáp ứng ở mức tối thiểu từ 3-> 7 triệu đồng.

Nông nghiệp. Công tác khuyến Nông, Khuyến ngư chưa tiếp cận đến từng hộ
dân.
- Chính sách đầu tư Nông nghiệp, nông thôn chưa mạnh và thiếu toàn diện,
thủ tục hành chính chưa được cải cách triệt để. Công tác quy hoạch chưa đáp ứng
nhu cầu phát triển sản xuất theo hướng CNH, HĐH.
- Tâm lý của bộ phận nông dân chưa mạnh dạn tiếp thu tiến bộ kỹ thuật
chuyển hướng sản xuất theo hướng phục vụ thị trường, một bộ phận trông chờ
vào sự bao cấp của nhà Nước.
PHẦN III
PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NÔNG NGHIỆP- NÔNG THÔN CỦA
XÃ ĐIỆN DƯƠNG THEO HƯỚNG CNH- HĐH
1/ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA XÃ ĐIỆN DƯƠNG GIAI
ĐOẠN 2005- 2010:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp nông thôn là vấn đề có tính chiến
lược, là nội dung và yêu cầu tất yếu của sự nghiệp Công nghiệp hoá và Hiện đại
hoá đất nước. Đảng ta khẳng định đây là giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy
phát triển Nông nghiệp và kinh tế nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mới
văn minh hiện đại. Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị (khoá VIII) đã chỉ rõ: “Đẩy
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 22
Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn phát triển Nông nghiệp với Công nghiệp
chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường hình thành sự liên kết Nông
nghiệp- Công nghiệp- Dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn, gắn
Công nghiệp hoá với thực hiện dân chủ hoá và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực
ở nông thôn, tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm, nâng cao đời
sống, xoá đói giảm nghèo”.
Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại Hội Đảng toàn
quốc lần thứ X, Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIX, căn cứ tình hình

Đề tài tốt nghiệp cuối khoá
2.1/ Xây dựng quy hoạch, phân vùng kinh tế, xác định tiềm năng thế
mạnh của địa phương:
Trên cơ sở điều tra, khảo sát, đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, tiềm
năng kinh tế, xã hội, triển vọng phát triển của từng vùng có thể xác định các vùng
chính như sau:
- Vùng Nông nghiệp gồm các thôn như: Hà My Trung, Hà My Tây, Tân
Khai, Hà Bản, Hà Quảng Tây; Tập trung thâm canh cây lương thực, sản xuất
giống lúa hàng hoá, phát triển các loại cây Công nghiệp ngắn ngày như lạc, thuốc
lá, bông vải, lúa khoai lang, ngô lai, dưa… Trồng các loại cây ăn quả, cây thực
phẩm như đu đủ, cam, chanh,… chăn nuôi trâu, bò, gia cầm, nuôi cá nước ngọt.
- Vùng Ngư nghiệp gồm các thôn như: Hà Quảng Đông, Hà Quảng Bắc,
Hà My Đông; tranh thủ mở rộng diện tích nuôi tôm nước lợ, nuôi tôm sú giống,
đánh bắt thuỷ sản các loại, trồng các loại cây ăn quả, cây thực phẩm và cây công
nghiệp như điều ghép, rau đậu các loại, chăn nuôi lợn, gia cầm.
- Vùng đất trống xa trung tâm: Xúc tiến xây dựng các đề án quy hoạch:
Công nghiệp chế biến, vùng rau chuyên canh, phát triển kinh tế vườn, kinh tế
trang trại , thuỷ lợi hoá đất màu. Tiếp tục dự án cải tạo lai sind hoá đàn bò vàng,
heo hướng nạc.
Quy hoạch phát triển Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệ- Thương mại-
Dịch vụ các vùng ven trung tâm xã. Đẩy mạnh hình thành các cụm kinh tế- kỹ
thuật du lịch, dịch vụ như du lịch bãi tắm Hà My, cụm Công nghiệp Tân Khai,
Cụm Công nghiệp Nam- Dương, nhằm thúc đẩy Công nghiệp- Tiểu thủ công
nghiệp, Thương mại dịch vụ phát triển.
Quy hoạch triển khai kết cấu hạ tầng gắn với phát triển kinh tế VAC và
trang trại theo dự án đã quy hoạch.
2.2/ Xác định cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện từng vùng
sinh thái:
a/ Chuyển dịch cơ cấu cây trồng mùa vụ:
Chuyển dịch co cấu cây trồng mùa vụ có ý nghĩa quan trọng góp phần

Mở rộng phát triển các vùng chuyên canh một số loài cây mũi nhọn, có khả
năng tạo ra sản phẩm hàng hoá như đậu phộng. Chuyển diện tích lúa không chủ
động nước, năng suất thấp sang sản xuất các loại cây bông vải, đậu các loại, ớt.
Đồng thời trên cơ sở điều kiện đất đai từng vùng, khuyến khích trồng các loại cây
có giá trị như dưa gang, dưa leo, cà chua tăng thu nhập cho gia đình, phục vụ đời
sống. Cải tạo vườn tạp, hình thành các vùng cây ăn quả 50 ha. Bên cạnh việc đầu
Học viên thực hiện : NGUYỄN VĂN TUẤN Trang 25

Trích đoạn Chính sách xoá đói, giảm nghèo và chính sách xã hội Nông thôn:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status