Header Page 1 of 161.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
ĐỀ TÀI
Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25- 34 tuổi
có thu nhập ổn định ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Tiến Khai & Th.S Nguyễn Ngọc Danh
Sinh viên thực hiện
1.
2.
3.
4.
Nguyễn Thị Hiền
Hồ Quang Nhật
Vũ Thị Bảo Nhung
Nguyễn Lan Quỳnh
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 09 năm 2012
Footer Page 1 of 161.
Header Page 2 of 161.
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài của nhóm là đề cương chi tiết nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu
cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25- 34 tuổi có thu nhập ổn định ở khu vực Thành
thu nhập ổn định tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với đó, nhóm đi sâu nghiên
cứu và phát triển thêm một số yếu tố tác động đến nhu cầu tiêu dùng của các đối tượng
trên. Nhằm xây dựng một mô hình phù hợp với đề tài của Nhóm. Đề cương nghiên cứu
của nhóm đã xác định được rõ các các biến có ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu chi trả
cho một căn hộ gia đình.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa thực tế cao. Xác định rõ các hành vi, yếu tố ảnh
hưởng đến nhu cầu tiêu dùng nhà ở của các cặp vợ chồng trẻ hiện nay. Nhằm giúp cho
các doanh nghiệp hiểu được tâm lý khách hàng, phân khúc được thị trường, tung ra các
sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu thị yếu của đa bộ phận người tiêu dùng hiện tại. Giúp
cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách phù hợp đối với thị trường
bất động sản hiện tại.
Nhóm hy vọng với nghiên cứu này đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo có
ích cho những bài nghiên cứu sau này.
6. Hướng phát triển của đề tài
Nhằm phù hợp với mục tiêu của một đề tài nghiên cứu, bài nghiên cứu của nhóm
đã xây dựng được một mô hình cơ bản phù hợp với đề tài đưa ra. Hướng phát triển của
đề tài trong tương lai đó là mở rộng ra ngoài khu vực Thành phố Hồ Chí Minh là các
tỉnh thành lân cận khác, nhằm xác định được một mô hình tổng quát về nhu cầu nhà ở
trong thị trường Bất động sản ở Việt Nam. Để có thể áp dụng vào thực tiễn trong thời
gian sớm nhất.
Yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25- 34 tuổi có
thu nhập ổn định ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Footer Page 3 of 161.
Header Page 4 of 161.
1. Đặt vấn đề
“Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25-34
tuổi có thu nhập ổn định ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh”
1.3
Đối tượng và khu vực nghiên cứu
Footer Page 4 of 161.
Header Page 5 of 161.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25-34
tuổi có thu nhập ổn định
Khu vực nghiên cứu: Nhóm lựa chọn khu vực nghiên cứu là Thành phố Hồ Chí
Minh, là trung tâm kinh tế của cả nước, đồng thời đây là nơi thị trường bất động sản sôi
động và nhạy bén nhất cả nước. Hơn nữa, đây là khu vực sẽ giúp nhóm tiếp cận và thu
thập dữ liệu sơ cấp một cách thuận tiện.
1.4
Lợi ích mang lại từ đề tài
Đối với doanh nghiệp: Tìm ra và phân khúc được nhóm khách hàng tiềm năng, từ
đó doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu của nhóm khách hàng tiềm năng này.
Nhằm tìm ta được hướng tăng trưởng trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay.
Đối với người tiêu dùng: Phần nào đáp ứng được nhu cầu nhà ở cho các cặp vợ
chồng từ 25-34 tuổi có thu nhập ổn định
Đối với toàn xã hội: sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.
1.5
2.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Hiểu và nắm bắt được những vấn đề cơ bản của thị trường Bất
động sản
Mục tiêu cụ thể:
Hiểu được bản chất của quyết định chọn mua một căn hộ của khách hàng: quyết
định được đưa ra bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào?
Footer Page 5 of 161.
Header Page 6 of 161.
Đo lường được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định chọn mua của
khách hàng, qua đó xác định rõ được yếu tố nào là quan trọng nhất.
Qua kết quả nghiên cứu, rút ra được những đề xuất cho doanh nghiệp để doanh
nghiệp có thể tiếp tục phát triển đồng thời đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
3.
Câu hỏi nghiên cứu
Theo Wiener N. A Machine, John Wiley & Sons thì trong phạm vi nhận thức hiện
tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt
của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất,
hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát
triển và tiến hóa 1
Theo tổng hợp từ nguồn wikipedia thì nhu cầu có nhiều định nghĩa như sau:
Footer Page 6 of 161.
Header Page 7 of 161.
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện
vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình
độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu
khác nhau.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.
Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả
năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa
với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối
nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu).
Vậy nhìn chung các định nghĩa đều thống nhất rằng: nhu cầu của con người là một
trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thỏa mãn nhu cầu nào đó. Người ta cần thức ăn,
quần áo, nơi ở, sự an toàn, của cải, sự quy trọng và một vài thứ khác để tồn tại. Chúng
tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể con người và thân nhân con người.
4.1.3 Lãi suất
John Maynard Keynes lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh
mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền. Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu
tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền.
Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện
tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất – cầu về vốn cho mục đích đầu tư
Cá tính
Tâm lý
Trong đó Nhóm chúng tôi đặc biệt quan tâm tới đặc điểm tâm lý. Vì đây là yếu tố
quyết định mua/không mua và thời gian mua sản phẩm. Như chúng ta đã biết nhu cầu
luôn luôn tồn tại cùng với con người. Tuy nhiên, hầu hết các nhu cầu từ phía tâm lý
thường không đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động ngay lập tức, mà một nhu cầu
sẽ trở thành hành động khi nó tăng lên đến một mức đủ mạnh. Mặt khác thì tại những
thời điểm khác nhau người ta luôn có những nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn.
Việc đáp ứng nhu cầu nhà ở cho nhóm khách hàng trong độ tuổi từ 25-34 tuổi có
thu nhập ổn định là hoàn toàn hợp lý, vì nhóm khách hàng này trong gia đoạn mới kết
hôn là rất cao, và đa số các cặp vợ chồng đều có tâm lý thích riêng tư, cộng thêm người
Việt Nam lại có quan niệm “an cư lạc nghiệp”, đồng thời với độ tuổi và thu nhập ổn định
họ hoàn toàn có một nhu cầu đủ mạnh để đi đến quyết định mua nhà, tất nhiên quyết định
này bởi hỗ trợ bởi khả năng chi trả của họ.
Yếu tố tiếp theo mà Nhóm quan tâm đó là đặc điểm xã hội mà cụ thể là yếu tố
nhóm tham khảo.Khi quyết định lựa chọn mua một sản phẩm ngoài những đặc điểm xuất
từ người mua, thì ngoài ra người ta cũng có thể tham khảo ý kiến của những nhóm tham
khảo khác. Và trong những sản phẩm dịch vụ đắt tiền vợ chồng bàn bạc để thông qua
quyết định chung, cụ thể trong quyết định lựa chọn mua nhà thì vợ- chồng có vai trò
ngang nhau.
Footer Page 8 of 161.
Nguồn thông tin công cộng: các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ
chức nghiên cứu người tiêu dùng.
Nguồn thông tin thực nghiệm: sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm.
Giai đoạn đánh giá các phương án: dựa trên những thông tin thu thập được
người tiêu dùng sẽ cố gắng thỏa mãn cao nhất nhu cầu của mình với giới hạn về ngân
sách, và tất nhiên những đánh giá này sẽ khác nhau tương đối, với những nhóm người
khác nhau.
Quyết định mua hàng: Với những đánh giá ở trên người tiêu dùng sẽ đưa ra cho
mình được quyết định lựa chọn sản phẩm có tính logic. Tuy nhiên quyết định mua hàng
còn phụ thuộc vào 2 yếu tố rủi ro khác:
Footer Page 9 of 161.
Header Page 10 of 161.
Thái độ của những người khác (yếu tố tham khảo): Ví dụ gia đình anh A
thích một ngôi nhà ở nội thành, nhưng bố mẹ anh ta (ở ngoại thành) lại muốn sống gần
con cháu. Và cuối cùng anh A quyết định mua một căn nhà ngoại thành.
Yếu tố bất ngờ: người tiêu dùng mua hàng dựa trên cơ sở những yếu tố
với giá nhà trên cả hai khu vực
Footer Page 10 of 161.
Header Page 11 of 161.
Lãi suất thực có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu. Trường hợp hạ lãi suất
làm tăng giá nhà thật sự. Nói cách khác, sự sụt giảm lãi suất thực làm tăng giá nhà ở các
nước Trung và Đông Âu đến 2,5 lần so với các nước OECD.
Tín dụng có một mối quan hệ mạnh mẽ, tích cực đến giá nhà giống như yếu
tố nhân khẩu học
Đối với yếu tố về thị trường tài chính thì giá nhà ở các nước OECD có tỷ lệ
nghịch với thị trường cổ phiếu, cho thấy sự phổ biến của ảnh hưởng thay thế. Tuy nhiên
trong CEE giá cổ phiếu lại có tác động tích cực đến giá nhà, tức là khi giá cổ phiếu tăng
thì giá nhà ở khu vực CEE cũng tăng theo.Lương có tác động tỷ lệ thuật đến với giá nhà
trong khu vực CEE
Phương pháp nghiên cứu của Balázs Égert &Dubravko Mihaljek sử dụng đó là: sử
dụng phương pháp phân tích hồi quy OLS ( phương pháp bình phương nhỏ nhất ).
Mô hình nghiên cứu:
PH = f( Y r WE D e X C (PL W M))
Trong đó:
C : chi phí xây dựng
PL : giá đất
W : tiền công của công nhân xây dựng
M : chi phí nguyên vậy liệu
Nhận xét
Footer Page 11 of 161.
Header Page 12 of 161.
Bài viết nghiên cứu đến các yếu tố quyết định đến giá nhà trên thị trường CEE và
các nước OECD. Bài viết đã phân tích được các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giá nhà
giữa các nhóm nến kinh tế chuyển đổi và các nước trong khu vực OECD. Đặc biệt đó là
các mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và giá nhà, lãi suất thực và giá nhà,
tín dụng và giá nhà. Bài viết nếu rất rõ các mối quan hệ đó. Các nhân tố chính ảnh hưởng
tới giá nhà ở khu vực CEE và các nước OECD. Tuy nhiên bài nghiên cứu vẫn thiếu
những dữ liệu tin cậy về giá nhà ở các nước trong khu vực OECD, tác giả đi nghiên cứu
không ở trong cùng một vị trí để đánh giá, so sánh giá nhà của 2 khu vực này.
4.3.2
RS : lãi suất thực trung bình trong ngắn hạn
RL : lãi suất thực trung bình trong dài hạn.
%ΔMBi : phần trăm thay đổi tiền thực hàng năm.
4.3.3
Nhu cầu nhà ở trong ngắn hạn
Được nghiên cứu bởi John M. Quigley năm 1967. Theo kết quả nghiên cứu thực
nghiệm của John M. Quigley trong vòng 7 năm1960-1967 trên 3.000 hộ gia đình cho
thuê nhà ở tại khu vực Pittsburgh. John M. Quigley cho rằng các hộ gia đình sẽ lựa chọn
nhà ở với giới hạn ngân sách cho trước, do đó giá cả là một trong những yếu tố quyết
định tới việc lựa chọn nhà ở của người tiêu dùng. Mặt khác ông cũng chỉ ra rằng các hộ
gia đình có những nơi làm việc khác nhau và hàng tháng họ phải chịu một chi phí nhất
định cho việc di chuyển từ nhà tới nơi làm việc và ngược lại. Nên vị trí của ngôi nhà cũng
quyết định mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với ngôi nhà này. Hay nói cách khác
giá của một căn nhà thì lại chịu ảnh hưởng bởi vị trí của nó.
Nghiên cứu của John M. Quigley kết hợp với những phân tích như:
Phân tích Logic có điều kiện.
Phân tích số liệu thống kê so sánh.
Phân tích lý thuyết nhu cầu về nhà ở.
của mình đối với tổng chi phí (bao gồm giá nhà ở và chi phí đi làm hàng tháng) để đưa ra
sự lựa chọn nhà ở phù hợp. Nhưng đối với một hộ gia đình, các hoạt động của họ không
chỉ là đi làm mà còn có những hoạt động như vui chơi, giải trí khác nữa. Và chi phí cho
các chuyến đi đó không được tính vào.
4.3.4 Thực trạng và dự báo kinh tế đến nhu cầu nhà ở
Được nghiên cứu bởi Stephen K. Mayo năm 1980. Theory and Estimation in the
Economics of Housing Demand. Jornal of Urban Economics 10, 95-116 (1981).
Đề tài “ Thực trạng và dự báo kinh tế đến nhu cầu nhà ở” được tác giả Stephen K.
Mayo hoàn thành nghiên cứu vào năm 1980 và đã được đăng trên Jornal of Urban
Economics 10 từ trang thứ 95 đến trang thứ 116 năm 1981. Trọng tâm chính của bài là
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu nhà ở. Tác giả Stephen K. Mayo sử dụng
phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh và vi mô. Từ đó ông đưa ra kết quả các yếu tố
ảnh hưởng đến nhu cầu nhà ở gồm các yếu tố sau: độ co giãn thu nhập, độ co giãn về giá,
biến nhân khẩu học và yếu tố thi trường.
Nhận xét
Footer Page 14 of 161.
Header Page 15 of 161.
Bài nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu nhà rất chặt chẽ, rõ
ràng và đầy đủ. Bằng cách phân tích tổng hợp, so sánh và vi mô các kết quả nghiên cứu
gần đó, tác giả đã chọn ra kết quả khá thích hợp với bài nghiên cứu cho từng yếu tố điều
tra.
Tuy nhiên, do các kết quả nghiên cứu được đưa ra bằng phương pháp phân tích, so
sánh và đánh giá kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu gần đó nên kết quả nghiên
cứu chỉ có độ phù hợp tương đối.
Phương trình tuyến tính về nhu cầu nhà ở
lnH = a + blny + clnPH
Trong đó
Balázs
Determina
Égert
nts
ảnh hưởng đến D e X C (PL W pháp
&Dubra
House
giá nhà đất ở M))
tích hồi quy ảnh hưởng tới
vko
Prices
khu vực CEE?
OLS
of
Kenneth
Low
N.
Interest
suất
Kuttner
Rates and
hưởng đến giá %ΔMBi+ β4Di pháp
(2012)
Housing
nhà?
Bubbles:
Still
lãi
suất
nguyên
chính
phải
là
nhân
ảnh
hưởng tới tình
trạng
Footer Page 16 of 161.
+
S
+ β5Di em+ui
eu
Các bằng
bong
Các biến giả
Quigley,
Demand
ảnh hưởng tới min[Pijym]=
tích Logic ảnh
(1976)
in
sự
có
the
lựa
chọn min[Rim + Tjmy]
điều chặt chẽ tới
Short run:
nhà ở của các
An
đình không?
nhu
gia
Ý nghĩa
hưởng
đình tên gọi các biến
được giả thích
Giá có ảnh chi tiết ở trên.
giá nhà ở và
kiện
Số
việc lựa chọn
liệu thống nhà ở của các
so hộ gia đình
kê
Lý
Header Page 18 of 161.
Stephen
Thực
K. Mayo
trạng
(1980)
dự
kinh
đến
Độ co giãn thu
Phương
và nhập cố định hay trình tuyến tính
báo thu nhập hiện tại về nhu cầu nhà
tế có liên quan gì ở:
nhu đến nhu cầu nhà
cầu nhà ở
ở?
lnH = a
giá có ảnh hưởng
hợp về đô co
gì?
giãn thu nhập
Các yếu tố phù
ước tính cho
hợp cho phương
người
trình nhu cầu nhà
nhà từ 0,25
ở là gì?
đến 0,7 với
Biến
thuê
nhân
hưởng như thế
hết
nào đến nhu
khoảng
cầu nhà ở?
đến 0,7.
trong
0,5
Đưa ra kết
quả thích hợp
trong thực tế
của
Stone-
Geavy về độ
co giãn của
Footer Page 18 of 161.
Header Page 19 of 161.
nhu cầu nhà ở
Trong bài nghiên cứu của Stephen K. Mayo ông đã chỉ ra rằng thu nhập có ảnh
hưởng thuận đến nhu cầu nhà ở. Đồng nghĩa với khi thu nhập tăng thì nhu cầu về nhà ở
Footer Page 19 of 161.
Header Page 20 of 161.
của những người may cũng tăng. Vì thu nhập mang tính chất quyết định đến mức sẵn
lòng trả của các cặp vợ chồng trẻ và ứng với mức thu nhập cao hay thấp thì nhu cầu nhà ở
cũng khác nhau về các tiêu chí như: chất lượng ngôi nhà, các tiện ích đi kèm, vị trí, …
Hơn bỏ qua những yếu tố bất ngờ, thì các cặp vợ chồng này sẽ phải tự chi trả cho căn nhà
của mình. Khi nó yếu tố thu nhập lại càng có một vai trò quan trọng trong việc quyết định
mua nhà của các cặp vợ chồng này.
4.4.2 Giá (P) và vị trí ngôi nhà (p)
Theo nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới cầu nhà ở trong ngắn hạn, John M.
Quigley. Như đã đề cập ở trên ông cho rằng mọi lựa chọn của con người đều giới hạn bởi
ngân sách, và khi bị giới hạn bởi ngân sách thì yếu tố đầu tiên mà họ quan tâm có thể nói
là giá cả ngôi nhà. Tiếp theo đó là những phân tích lợi ích chi phí giữa việc lựa chọn
những ngôi nhà có cùng mức giá xem đâu là ngôi nhà giúp họ di chuyển tới những địa
điểm quen thuộc của mình một cách thuận lợi nhất. Sau đó đưa ra sự lựa chọn tối ưu và
cuối cùng là quyết định mua.
Mặt khác theo Stone – Geavy, độ co giãn của giá nhà ở đến nhu cầu nhà ở nghịch
biến với nhau. Giá nhà ở có ảnh hưởng đến khả năng chi trả tuỳ thuộc vào từng đối
tượng khách hàng khác nhau và là mối quan tâm của khách hàng khi mua nhà để ở. Do
đó giá nhà ở đưa vào mô hình nghiên cứu là rất hợp lý.
Stone – Geavy cũng cho rằng độ co giãn của giá nhà ở đến nhu cầu nhà ở nghịch
biến với nhau. Giá nhà ở có ảnh hưởng đến khả năng chi trả tuỳ thuộc vào từng đối
tượng khách hàng khác nhau và là mối quan tâm của khách hàng khi mua nhà để ở
Vậy đây cũng là hai nhân tố quan trọng, quyết định đến nhu cầu nhà ở của các cặp
vợ chồng này.
p: vị trí căn nhà
i: lãi suất cho vay để mua nhà
WTP: tâm lý khách hàng
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Giả thiết nghiên cứu
Nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng trẻ trong độ tuổi từ 25 đến 35 ngày càng tăng
cao.
Footer Page 21 of 161.
Header Page 22 of 161.
Các yếu tố về phía cầu như thu nhập, thị yếu của khách hàng có tác động thuận tới
nhu cầu tiêu dùng về nhà ở của các cặp vợ chồng hiện nay.
Các yếu tố về vị trí – không gian nhà ở, giá thành sản phẩm, lãi suất có tác động
đến nhu cầu mua nhà ở của các cặp vợ chồng trẻ như thế nào?
Các chính sách, giải pháp đề xuất được áp dụng trong đề tài nghiên cứu đã giải
Dữ liệu sơ cấp
Footer Page 22 of 161.
Header Page 23 of 161.
Đây là cuộc điều tra nghiên cứu thị trường không thường xuyên nhằm điểu chỉnh
hành vi người cung cấp hàng hoá dịch vụ ( nhà ở ). Điều tra sẽ tiến hành thu thập dữ liệu
với kích cỡ mẫu chon là 100 phiếu trả lời . Đối tượng mục tiêu là nhân viên văn phòng,
kỹ thuật viên, kỹ sư, công nhân viên chức… Đang sinh sống và làm việc trên địa bàn
TP.HCM
Mức giá P: điều tra thị trường
I ( đo lường qua C ), WTP: Khảo sát
5.2.1 Phương pháp xử lý số liệu
Các dữ liệu thu thập được sẽ
Thông kê cá số liệu: tình trạng thiếu nhà ở, lượng cung nhà lớn đúng với đối tượng
mục tiêu nhưng thanh khoản dự án kém.
Sử dụng các tiêu thức thông kê tương quan và hồi quy để nhận biết rõ ràng sự ảnh
Giai đoạn 2: Xử lý biến: ở giai đoạn này ta có thể làm các thao tác sau để thuận tiện cho
việc hồi quy:
chuyển một biến định lượng sang biến định tính
Footer Page 23 of 161.
Header Page 24 of 161.
gộp nhiều biến định lượng thành một biến định lượng
gộp nhiều biến lại và chọn một hoặc một số biểu hiện hay thuộc tích của biến.
Giai đoạn 3: Kiểm định các giá trị của mô hình
1.
Kiểm định sự phù hợp của mô hình: cho biết mô hình phản ánh được bao nhiêu
phần trăm thực tế.
2.
Phân tích phương sai để xác định mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và
biến giải thích
Polytomous choice. (p. 76 - 102). Retrieved from />
Kenneth N. Kuttner. (2012). Low Interest Rates and Housing Bubbles: Still No
Smoking Gun. Department of Economics, Williams College. Retrieved from
/>
Balázs Égert &Dubravko Mihaljek . ( 2007 ). Determinants of House Prices
in Central and Eastern Europe. Comparative Economic Studies, 49(3), 367-38.
Philip Kotler. (2007). Marketing căn bản. Lao động-xã hội.
Robert S.pindyck & Daniel L.Rubinfeld. (1999). Hành vi người tiêu dùng, Kinh tế
học vi mô, nhà xuất bản thống kê.
Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với
SPSS.(2008). toàn tập. NXB Hồng Đức.
Link tham khảo khác:
/> /> /> /> /> /> />