TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
ĐỀ TÀI
Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25- 34 tuổi
có thu nhập ổn định ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Tiến Khai & Th.S Nguyễn Ngọc Danh
Sinh viên thực hiện
1. Nguyễn Thị Hiền
2. Hồ Quang Nhật
3. Vũ Thị Bảo Nhung
4. Nguyễn Lan Quỳnh
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 09 năm 2012
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài của nhóm là đề cương chi tiết nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu
cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25- 34 tuổi có thu nhập ổn định ở khu vực Thành
phố Hồ Chí Minh.” nhằm phục vụ trực tiếp cho môn phương pháp nghiên cứu kinh tế,
và môn dự báo và phân tích dữ liệu sau này.
1. Lý do chọn đề tài
Theo bậc thang như cầu của Maslow thì nhu cầu nhà ở chính là một trong những
nhu cầu cơ bản nhất của con người, do đó nghiên cứu về vấn đề nhu cầu nhà ở là một
nghiên cứu mang tính thực tiễn cao. Hơn nữa mục tiêu mà đề tài hướng đến là giải quyết
nhu cầu nhà ở cho các cặp vợ chồng từ 25-34 tuổi, có thu nhập ổn định tại khu vực Thành
phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên tại sao đa số các cặp vợ chồng này lại chưa có nhà để ở?
Xuất phát từ mối quan tâm này, nhóm tiến hành nghiên cứu đề tài trên. Đồng thời đề tài
này liên quan trực tiếp đối với chuyên ngành của Nhóm, do đó nghiên cứu đề tài sẽ là cơ
hội cho từng thành viên trong nhóm bổ sung và phát triển kiến thức chuyên ngành.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung mà cả nhóm hướng đến khi tiến hành nghiên cứu đề
tài đó là thông qua quá trình nghiên cứu sẽ hiểu và nắm bắt được những vấn đề cơ bản
trong thị trường bất động sản, xác định được các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới nhu cầu nhà
gian sớm nhất.
1. Đặt vấn đề
1.1 Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu
Như chúng ta đã biết Bất động sản là nền tảng của nền kinh tế, nó ảnh hưởng tới
hầu hết các hoạt động của nền kinh tế. Do đó ổn định và phát triển thị trường bất động
sản có vai trò quyết định đối với sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên với sự khủng
hoảng chung của nền kinh tế, thị trường bất động sản Việt Nam hiện nay cũng rơi vào
khủng hoảng trầm trọng. Do đó, về phía các doanh nghiệp bất động sản, vấn đề bây giờ
không còn là tìm ra và phân khúc nhóm khách hàng có nhu cầu thực sự mà hơn thế nữa
nhóm khách hàng này phải có khả năng chi trả. Và với phân khúc nhóm khách hàng là
các cặp vợ chồng từ 25-34 tuổi có thu nhập ổn định, thì đây là một phân khúc thị trường
tiềm năng đối với các doanh nghiệp bất động sản, giúp các doanh nghiệp này tìm ra
hướng tăng trưởng mới. Từ đó tạo động lực cho các ngành kinh tế liên quan tăng trưởng.
1.2 Chủ đề cụ thể
Theo khảo sát của The Economist’s Pocket World in Figures 2010, vào năm 2010
Việt Nam là nước có tỷ lệ kết hôn đứng thứ tư, trong số 10 quốc gia có tỷ lệ người đã kết
hôn cao nhất trên thế giới. Mặt khác theo thống kê của cục thống kê Thành phố Hồ Chí
Minh vào năm 2008 số người kết hôn trong độ tuổi từ 25-34 là 46.344 người (trong đó số
người trong độ tuổi từ 25-29 tuổi là 30.678 người và trong độ tuổi từ 30-34 tuổi là 15.666
người.)
Những con số trên cho thấy nếu các cặp vợ chồng này có nhu cầu về nhà ở sau khi
kết hôn thì nhu cầu này là rất lớn. Cộng thêm khả năng chi trả trong tương lai tương đối
tốt, vì những người này có thu nhập tương đối ổn định. Tuy nhiên cung về bất động sản
cho phân khúc thị trường này ở thành phố ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay rất hạn chế,
do đó không đáp ứng được nhu cầu nhà ở cho nhóm khách hàng tiềm năng này. Trên
quan điểm đó nhóm tiến hành nghiên cứu:
“Những yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25-34
tuổi có thu nhập ổn định ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh”
1.3 Đối tượng và khu vực nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng từ 25-34
3. Câu hỏi nghiên cứu
Vì sao các cặp vợ chồng từ 25-34 tuổi có thu nhập ổn định ở khu vực Thành phố
Hồ Chí Minh hầu hết không có nhà riêng để ở?
Nhu cầu về nhà ở của họ như thế nào?
Cần giải quyết nhu cầu về nhà ở của đối tượng này ra sao?
4. Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết
4.1 Các khái niệm liên quan
4.1.1 Giá sẵn lòng trả
Dưới cách nhìn của các nhà phân tích lợi ích chi phí thì giá sẵn lòng trả là một
khoản tiền mà một người sãn sàng chi trả hoặc nhận để có thể bàng quan giữa tình trạng
hiện tại và tình trạng nếu có dự án với khoản tiền chi trả hoặc nhận đó
Theo Barry Field & Nancy Olewiler, Kinh tế môi trường (2005) thì giá trị của
một món hàng đối với một người nào đó chính là giá họ sẵn sàng trả cho món hàng ấy.
Giá sẵn lòng trả nói cách khác cũng chính là khả năng chi trả.
Với đề tài nghiên cứu này, Nhóm lựa chọn tiếp cận giá sẵn lòng trả theo cách thứ
hai. Vì nó phản ánh được khả năng chi trả của các cặp vợ chồng từ 25-34 tuổi có thu
nhập ổn định đồng thời có nhu cầu về nhà ở.
4.1.2 Nhu cầu
Theo Wiener N. A Machine, John Wiley & Sons thì trong phạm vi nhận thức hiện
tại có thể định nghĩa nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt
của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất,
hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát
triển và tiến hóa
1
Theo tổng hợp từ nguồn wikipedia thì nhu cầu có nhiều định nghĩa như sau:
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện
vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình
độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu
khác nhau.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.
Tâm lý
Trong đó Nhóm chúng tôi đặc biệt quan tâm tới đặc điểm tâm lý. Vì đây là yếu tố
quyết định mua/không mua và thời gian mua sản phẩm. Như chúng ta đã biết nhu cầu
luôn luôn tồn tại cùng với con người. Tuy nhiên, hầu hết các nhu cầu từ phía tâm lý
thường không đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động ngay lập tức, mà một nhu cầu
sẽ trở thành hành động khi nó tăng lên đến một mức đủ mạnh. Mặt khác thì tại những
thời điểm khác nhau người ta luôn có những nhu cầu khác nhau cần được thỏa mãn.
Việc đáp ứng nhu cầu nhà ở cho nhóm khách hàng trong độ tuổi từ 25-34 tuổi có
thu nhập ổn định là hoàn toàn hợp lý, vì nhóm khách hàng này trong giai đoạn mới kết
hôn là rất cao, và đa số các cặp vợ chồng đều có tâm lý thích riêng tư, cộng thêm người
Việt Nam lại có quan niệm “an cư lạc nghiệp”, đồng thời với độ tuổi và thu nhập ổn định
họ hoàn toàn có một nhu cầu đủ mạnh để đi đến quyết định mua nhà, tất nhiên quyết định
này bởi hỗ trợ bởi khả năng chi trả của họ.
Yếu tố tiếp theo mà Nhóm quan tâm đó là đặc điểm xã hội mà cụ thể là yếu tố
nhóm tham khảo.Khi quyết định lựa chọn mua một sản phẩm ngoài những đặc điểm xuất
từ người mua, thì ngoài ra người ta cũng có thể tham khảo ý kiến của những nhóm tham
khảo khác. Và trong những sản phẩm dịch vụ đắt tiền vợ chồng bàn bạc để thông qua
quyết định chung, cụ thể trong quyết định lựa chọn mua nhà thì vợ- chồng có vai trò
ngang nhau.
4.2.1 Mô hình 5 giai đoạn của quá trình mua sắm.
ý thức nhu cầu
tìm kiếm thông
tin
đánh giá các
phương pháp
quyết định mua
hành vi hậu mãi
Nguồn:Marketing căn bản, Philip Kotler, 2007
Đây là mô hình 5 giai đoạn của quá trình mua sắm và 5 giai đoạn này càng rõ
ràng hơn với hàng hóa là nhà ở.
kèm làm hài lòng khách hàng sẽ giúp khách giới thiệu sản phẩm của công ty ra bên ngoài,
hoặc ngược lại là không giới thiệu hoặc thậm trí còn nói không tốt về sản phẩm/dịch vụ
của công ty tới những người tiêu dùng khác. Do đó nghiên cứu sự hài lòng của khách
hàng cũng là một trong những bược rất quan trọng để giúp công ty phát triển.
4.3 Các mô hình tham khảo
4.3.1 Các yếu tố quyết định đến giá nhà ở Trung và Đông Âu
Được nghiên cứu bởi Balázs Égert &Dubravko Mihaljek năm 2007. Bài nghiên
cứu đưa các các câu hỏi để đi nghiên cứu những yếu tố quyết định đến giá nhà ở khu vực
Trung và Đông Âu ví dụ như: các yếu tố thu nhập bình quân đầu người, lãi suất thực,
tăng trưởng tín dụng, yếu tố nhân khẩu học và các chỉ số phát triển thể chế của thị trường
nhà ở và thị trường tài chính nhà ở là các yếu tố quyết định quan trọng của giá nhà tại
Trung và Đông Âu. Bài nghiên cứu này cũng chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng như thế nào
đến giá nhà ở khu vực Trung và Đông Âu. Nghiên cứu đã đưa ra các kết luận về các yếu
tố ảnh hưởng đến giá nhà, so sách các yếu tổ ảnh hưởng trong 2 khu vực CEE cà OECD
như sau:
GDP có tác động mạnh mẽ tới sự thay đổi của giá nhà. Có tác động thuận
với giá nhà trên cả hai khu vực
Lãi suất thực có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu. Trường hợp hạ lãi suất
làm tăng giá nhà thật sự. Nói cách khác, sự sụt giảm lãi suất thực làm tăng giá nhà ở các
nước Trung và Đông Âu đến 2,5 lần so với các nước OECD.
Tín dụng có một mối quan hệ mạnh mẽ, tích cực đến giá nhà giống như yếu
tố nhân khẩu học
Đối với yếu tố về thị trường tài chính thì giá nhà ở các nước OECD có tỷ lệ
nghịch với thị trường cổ phiếu, cho thấy sự phổ biến của ảnh hưởng thay thế. Tuy nhiên
trong CEE giá cổ phiếu lại có tác động tích cực đến giá nhà, tức là khi giá cổ phiếu tăng
thì giá nhà ở khu vực CEE cũng tăng theo. Lương có tác động tỷ lệ thuật đến với giá nhà
trong khu vực CEE
Phương pháp nghiên cứu của Balázs Égert &Dubravko Mihaljek sử dụng đó là: sử
dụng phương pháp phân tích hồi quy OLS (phương pháp bình phương nhỏ nhất).
Mô hình nghiên cứu:
Điều khó hiểu là lý do tại sao giá nhà ít nhạy cảm với lãi suất hơn so với lý thuyết. Vẫn
còn thiếu là một lời giải thích lý do tại sao lãi suất thấp đôi khi có vẻ có liên quan với
bong bóng và đôi khi không. Trong một môi trường giá nhà tăng nhanh, giảm tỷ lệ lãi
suất có thể có một tác động lớn hơn khi giá cả ổn định. Lãi suất thấp có thể là nguyên
nhân gây nên tình trạng bong bóng Bất động sản.
Các bằng chứng trong bài nghiên cứu này cho thấy rằng các điều kiện tín dụng,
theo nghĩa mở rộng có thể đóng một ảnh hưởng lớn hơn trong bùng nổ giá nhà so với lãi
suất thấp cho mỗi giây Trong hệ thống tài chính ngân hàng trung tâm, ví dụ như tại thị
trường mới nổi và các nền kinh tế chuyển đổi, điều kiện tín dụng lỏng lẻo đã được liên
kết với sự gia tăng nhanh chóng của các chỉ số định lượng tiền tệ, chẳng hạn như cơ sở
tiền tệ. Điều này cho thấy rằng nó sẽ là một sai lầm để tập trung nói lãi suất là nguyên
nhân gây ra bong bóng bất động sản.
Mô hình nghiên cứu:
Y
i
= β
0
+ β
1
r
i
L
+ β
2
r
i
S
+ β
3
%ΔMB
gia đình có những nơi làm việc khác nhau và hàng tháng họ phải chịu một chi phí nhất
định cho việc di chuyển từ nhà tới nơi làm việc và ngược lại. Nên vị trí của ngôi nhà cũng
quyết định mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với ngôi nhà này. Hay nói cách khác
giá của một căn nhà thì lại chịu ảnh hưởng bởi vị trí của nó.
Nghiên cứu của John M. Quigley kết hợp với những phân tích như:
Phân tích Logic có điều kiện.
Phân tích số liệu thống kê so sánh.
Phân tích lý thuyết nhu cầu về nhà ở.
Phân tích lý thuyết vị trí dân cư.
Phân tích thực nghiệm.
Mô hình
P
ijy
= min[P
ijym
]= min[R
im
+ T
jmy
]
Trong đó
R
im
: giá hợp đồng (tiền thuê hàng tháng) nhà ở loại i tại khu vực nhà ở m
T
jmy
: chi phí (hàng tháng) của các chuyến đi làm giữa nơi làm việc j và khu vực
nhà ở m, với mức thu nhập y
P
ijym
gần đó, tác giả đã chọn ra kết quả khá thích hợp với bài nghiên cứu cho từng yếu tố điều
tra.
Tuy nhiên, do các kết quả nghiên cứu được đưa ra bằng phương pháp phân tích, so
sánh và đánh giá kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu gần đó nên kết quả nghiên
cứu chỉ có độ phù hợp tương đối.
Phương trình tuyến tính về nhu cầu nhà ở
lnH = a + blny + clnPH
Trong đó
H: nhu cầu nhà ở.
y: thu nhập.
PH: giá tương đối của nhà ở.
a, b, c là các tham số
Tên tác
giả.Năm
xuất bản
Đề tài Câu hỏi nghiên
cứu
Dữ liệu Phương
pháp nghiên
cứu
Kết quả
nghiên cứu
Balázs
Égert
&Dubra
vko
Mihaljek
(2007)
Determina
nts of
Kuttner
(2012)
Low
Interest
Rates and
Housing
Bubbles:
Still No
Smoking
Gun
Tại sao lãi
suất lại ảnh
hưởng đến giá
nhà?
Các bằng
chứng về phản
ứng của lãi
suất lên giá
nhà?
Có phải
lãi suất là
nguyên nhân
chính ảnh
hưởng tới tình
trạng bong
Y
i
= β
0
+ β
OLS
bóng bất động
sản?
John M.
Quigley,
(1976)
Housing
Demand
in the
Short run:
An
Analysis
of
Polytomo
us Choice
Vị trí có
ảnh hưởng tới
sự lựa chọn
nhà ở của các
hộ gia đình
không?
Giá có ảnh
hưởng tới sự
lựa chọn nhà ở
của các hộ gia
đình không?
P
ijy
=
min[P
chặt chẽ tới
giá nhà ở và
việc lựa chọn
nhà ở của các
hộ gia đình
+ Giá nhà ở
có vai trò
quyết định
trong việc lựa
chọn nhà ở
của các hộ gia
đình
Stephen
K. Mayo
(1980)
Thực
trạng và
dự báo
kinh tế
đến nhu
cầu nhà ở
Độ co giãn thu
nhập cố định hay
thu nhập hiện tại
có liên quan gì
đến nhu cầu nhà
ở?
Độ co giãn của
giá có ảnh hưởng
gì?
nghiên cứu
gần đó đưa ra
kết quả phù
hợp về đô co
giãn thu nhập
ước tính cho
người thuê
nhà từ 0,25
đến 0,7 với
hầu hết trong
phạm vi 0,3
đến 0,5 và
của chủ sở
hữu từ 0,36
đến 0,87 hầu
hết trong
khoảng 0,5
đến 0,7.
Đưa ra kết
quả thích hợp
trong thực tế
của Stone-
Geavy về độ
co giãn của
nhu cầu nhà ở
của người
thuê nhà là -
0,58 và của
chủ sở hữu là
-0,59.
cuối cùng là quyết định mua.
Mặt khác theo Stone – Geavy, độ co giãn của giá nhà ở đến nhu cầu nhà ở nghịch
biến với nhau. Giá nhà ở có ảnh hưởng đến khả năng chi trả tuỳ thuộc vào từng đối
tượng khách hàng khác nhau và là mối quan tâm của khách hàng khi mua nhà để ở. Do
đó giá nhà ở đưa vào mô hình nghiên cứu là rất hợp lý.
Stone – Geavy cũng cho rằng độ co giãn của giá nhà ở đến nhu cầu nhà ở nghịch
biến với nhau. Giá nhà ở có ảnh hưởng đến khả năng chi trả tuỳ thuộc vào từng đối
tượng khách hàng khác nhau và là mối quan tâm của khách hàng khi mua nhà để ở
Vậy đây cũng là hai nhân tố quan trọng, quyết định đến nhu cầu nhà ở của các cặp
vợ chồng này.
4.4.3 lãi suất (i)
Theo nghiên cứu của Kenneth N. Kuttner thì lãi suất làm ảnh hưởng tới giá nhà ở.
Lãi suất đồng biến với giá nhà ở. Lãi suất là một yếu tố mang tính quyết định có mua nhà
hay không đối với các hộ gia đình không có khả năng chi trả cho một căn hộ ngay lập tức.
Lãi suất Ngân hàng quá cao, làm khả năng hoàn trả của người đi vay gặp khó khăn. Do
đó, làm cho dự định mua nhà của người tiêu dùng sẽ giảm xuống. Tức lãi suất nghịch
biến với nhu cầu tiêu dùng nhà ở.
4.4.4 Tâm lý đo lường qua mức sãn lòng trả (WTP)
Tiêu dùng bao gồm chất lượng cảm nhận, giá cảm nhận và vị trí cảm nhận. khách
hàng cảm nhận chất lượng sản phẩm bất động sản bởi các nhân tố: quy hoạch chung, vị
trí, quy mô cộng đồng, khu vực gia đình, điều kiện giao thông, môi trường, thiết kế xây
dựng, nguyên vật liệu, thiết bị và chất lượng xây dựng. Tâm lý là yếu tố tiên quyết để
khách hàng quyết định mua sản phẩm.
Dựa trên những mô hình nghiên cứu như trên. Nhằm đánh giá được mức sẵn lòng
trả của một khách hàng cho một căn hộ để ở, cũng như độ thỏa dụng của khách
hàng.Nhóm tiến hành đưa ra mô hình nghiên cứu đề nghị các yếu tố ảnh hưởng đến nhu
cầu mua căn hộ để ở của các cặp vợ chồng trẻ tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh như
sau:
Y= α + β
1
Đề tài là một công trình nghiên cứu khoa học để tìm hiểu nguyên nhân, tác động
của các yếu tố: Giá cả của một đơn vị diện tích công trình P (triệu/m
2
); Diện tích S (m
2
)
và vị trí xa gần các khu vực tiện ích chức năng p (Km); lãi suất i (%); mức thu nhập I
(triệu/tháng) được ước lượng qua biến chi tiêu C (triệu/Tháng) Thị hiếu khách hàng được
đo lường bằng chỉ tiêu mức sãn lòng trả (WTP) của khách hàng để sở hữu căn hộ có diện
tích S, khoảng cách trung bình tới các khu tiện ích L, mức giá P, lãi suất i và thu nhập I
đền nhu cầu nhà ở của các cặp vợ chồng trẻ ở độ tuối 25-35. Ngoài ra còn có một số các
yếu tố khác ảnh hưởng tới nhu cầu nhà ở của đối tượng nghiên cứu không được nhắc tới
như các yếu tố trợ lực tài chính từ gia đình, tốc độ gia tăng đân số, số lượng các cặp kết
hôn mới.
5.2.1 Cách thức thu thập dữ liệu
Các dữ liệu thứ cấp:
Diện tích, vị trí: nguồn từ cách dự án do chủ đầu tư dự án có mục tiêu là khách
hàng có thu nhập trùng bình ổn đinh.
Lãi suất: Qua các công bố của ngân hàng nhà nước.
Số lượng cặp kết hôn mới ở độ tuối 25-35 (Cầu tiêu dùng, đối tượng nghiên cứu):
cục thống kê.
Dữ liệu sơ cấp
Đây là cuộc điều tra nghiên cứu thị trường không thường xuyên nhằm điểu chỉnh
hành vi người cung cấp hàng hoá dịch vụ (nhà ở). Điều tra sẽ tiến hành thu thập dữ liệu
với kích cỡ mẫu chon là 100 phiếu trả lời. Đối tượng mục tiêu là nhân viên văn phòng,
kỹ thuật viên, kỹ sư, công nhân viên chức… Đang sinh sống và làm việc trên địa bàn
TP.HCM
Mức giá P: điều tra thị trường
I (đo lường qua C), WTP: Khảo sát
5.2.1 Phương pháp xử lý số liệu
6. Kiểm định đa cộng tuyến
6. Tài liệu tham khảo
Trích Wiener N. A Machine Wiser Than Its Maker. Electronics. - 1953. - Vol. 26.
- № 6.; Ashbу W.R. Design for a Braian. - New York: John Wiley & Sons, 1952; Ashbу
W.R. An Introduction to Cybernetics. - London: Chapman & Hall, 1956.
John M. Quigley. (1967). Housing Demand in the Short Run: An Analysis of
Polytomous choice. (p. 76 - 102). Retrieved from http://www.nber.org/chapters/c9079
Kenneth N. Kuttner. (2012). Low Interest Rates and Housing Bubbles: Still No
Smoking Gun. Department of Economics, Williams College. Retrieved from
http://web.williams.edu/Economics/wp/Kuttner-smoking-gun.pdf
Balázs Égert &Dubravko Mihaljek . ( 2007 ). Determinants of House Prices
in Central and Eastern Europe. Comparative Economic Studies, 49(3), 367-38.
Philip Kotler. (2007). Marketing căn bản. Lao động-xã hội.
Robert S.pindyck & Daniel L.Rubinfeld. (1999). Hành vi người tiêu dùng, Kinh tế
học vi mô, nhà xuất bản thống kê.
Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với
SPSS.(2008). toàn tập. NXB Hồng Đức.
Link tham khảo khác:
http://www.voatiengviet.com/archive/tin-tuc/20100208/1777/1777.html?id=846025
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nhu_c%E1%BA%A7u
http://www.tinmoi.vn/nhu-cau-tin-dung-nha-o-va-cac-nhan-to-anh-huong-09735610.html
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/bat-dong-san/du-an/2012/09/can-ho-nho-gia-duoi-
800-trieu-danh-cho-gia-dinh-tre/
http://www.baomoi.com/Giam-lai-suat-khong-tac-dong-ngay-den-nguoi-mua-
nha/147/8882047.epi
http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan//Tuoi-tre-cuoi-tuan/510384/Mua-nha-tra-gop-nhung-
bat-trac-can-hoa-giai.html
http://www.tamlyhoc.net/diendan/showthread.php?tid=1171
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
Kính chào anh chị! Chúng tôi là nhóm Sinh viên trường Đại học Kinh Tế TP.HCM, đang
theo các mức sau:
1. Hoàn toàn không đồng ý