Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch - Pdf 41

Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC........................................................................................................................ 1
MỞ ĐẦU........................................................................................................................... 2
CHƯƠNG I................................................................................................................................3
HIỆN TRẠNG NĂNG LƯỢNG, GIAO THÔNG VẬN TẢI, XÂY DỰNG DÂN DỤNG, KHU
DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SÓC TRĂNG............................................................................3
I.1. HIỆN TRẠNG NĂNG LƯỢNG..........................................................................................3
I.2. HIỆN TRẠNG GIAO THÔNG VẬN TẢI...........................................................................3
I.3. HIỆN TRẠNG XÂY DỰNG DÂN DỤNG...............................................................................5
I.4. HIỆN TRẠNG DU LỊCH.....................................................................................................5

TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC NĂNG
LƯỢNG, CÔNG NGHIỆP, GIAO THÔNG VẬN TẢI, XÂY DỰNG DÂN DỤNG,
KHU DU LỊCH VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ.............................................6
II.1. TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC NĂNG
LƯỢNG, CÔNG NGHIỆP, GIAO THÔNG VẬN TẢI, XÂY DỰNG DÂN DỤNG, KHU DU
LỊCH............................................................................................................................................6
II.1.1. Tác động đối với năng lượng............................................................................................6
II.1.2. Tác động đối với công nghiệp............................................................................................6
II.1.2. Tác động đối với giao thông vận tải..................................................................................6
II.1.2. Tác động đối với xây dựng dân dụng...................................................................................8
II.1.2. Tác động đối với khu du lịch..............................................................................................9
II.2. BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ..........................................................................................................9
II.2.1. Đối với năng lượng........................................................................................................9
a. Khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo như: điện gió, điện
mặt trời...................................................................................................................................9
b. Tiết kiệm năng lượng trong sinh hoạt, trong giao thông vận tải, trong sản xuất và



Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

CHƯƠNG I
HIỆN TRẠNG NĂNG LƯỢNG, GIAO THÔNG VẬN TẢI,
XÂY DỰNG DÂN DỤNG, KHU DU LỊCH TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH SÓC TRĂNG
I.1. HIỆN TRẠNG NĂNG LƯỢNG
Cơ chế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp khai khoáng phát
triển mạnh mẽ. Quá trình hiện đại hoá nhanh chóng ở Sóc Trăng đã thúc đẩy sự gia tăng
nhu cầu sử dụng năng lượng ở các ngành công nghiệp, các phương tiện giao thông đồng
thời sự gia tăng một cách tự nhiên nhu cầu sử dụng các loại năng lượng hiện đại ở thành
phố, nơi người dân có thu nhập cao. Tất cả những yếu tố trên dẫn đến nhu cầu sử dụng
năng lượng tăng nhanh.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 1990 - 1999 sản lượng than
khai thác tăng gấp hơn hai lần (năm 2002 cả nước đạt 15,8 triệu tấn, gấp hơn 3 lần) so
với năm 1990; dầu thô tăng hơn 5 lần (năm 2002 đạt 16,6 triệu tấn, gấp 6 lần) so với năm
1990. Sản lượng các loại khoáng sản khác cũng tăng gấp nhiều lần so với năm 1990 như:
apatít đạt hơn 680 ngàn tấn, gấp 2,5 lần; quặng crôm đạt 59 ngàn tấn, gấp 13 lần; đá các
loại đạt 19.172 ngàn m3… Ngoài ra còn có hàng trăm mỏ khoáng sản kim loại như sắt,
thiếc, crômit, đồng, niken, kẽm, chì, magan, antimon, vonfram, vàng… và các khoáng
sản phi kim loại như đá quý, đá vôi, đá ốp lát, cát, thủy tinh và vật liệu xây dựng đang
được tiến hành đầu tư khai thác. Công nghiệp khai thác mỏ phát triển đã góp phần quan
trọng trong việc cung cấp đủ nguyên liệu, nhiên liệu cho hoạt động sản xuất của các
ngành kinh tế quốc dân, xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Tình hình sử dụng năng lượng tăng mạnh, tính trong giai đoạn 1999 - 2006 sử
dụng năng lượng tăng 12,4%/năm trong khi GDP chỉ tăng 7,2% và hệ số đàn hồi giữa sử
dụng năng lượng/GDP là 1,7 lần. Trong giai đoạn này, sử dụng năng lượng tăng mạnh do


44.964.995

hành khách;

+ Luân chuyển:

2.347.643.615 hành khách.km.

- Vận chuyển hàng hóa:
+ Vận chuyển:

1.377.351

tấn

+ Luân chuyển:

165.427.755 tấn.km

Bảng 1.1: Thống kê sự gia tăng lượng phương tiện ô tô, mô tô và giá trị đầu tư
ngành GTVT giai đoạn 2006 - 2009
Đơn
vị

2006

2007

2008

Tỷ
đồng

94,993

108,667

205,983

237,844

Giá trị đầu tư xây dựng
GT nông thôn

Tỷ
đồng

105,440

131,157

165,787

192,970

Nguồn: Sở GTVT tỉnh Sóc Trăng, năm 2010
Trong 5 năm qua, ngành giao thông vận tải tuy đạt được những kết quả khả quan
trong việc đầu tư duy tu, sửa chữa các tuyến đường giao thông, tạo sự thuận lợi cho quá
trình vận chuyển, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển. Song, việc đầu tư xây dựng
vẫn chưa kết hợp với công tác quản lý bảo vệ môi trường, quá trình thi công còn kéo dài,

I.3. HIỆN TRẠNG XÂY DỰNG DÂN DỤNG
Tình hình xây dựng trong những năm trở lại đây tăng nhanh. Các khu dân cư, khu
công nghiệp (KCN) mọc lên như nấm. Đường xá được chỉnh trang, xây mới, mở rộng.
Bộ mặt của tỉnh Sóc Trăng đang thay đổi từng ngày. Việc xây dựng chủ yếu tập trung
vào xây dựng các KCN, cụm CN, đường giao thông. Nhà cửa tại các khu dân cư chưa
được chú trọng xây dựng. Tình trạng nhà tạm bợ còn phổ biến.
Dự kiến đến năm 2020 có 30 khu công nghiệp và cụm công nghiệp, trong đó có 3
khu công nghiệp tập trung lớn của tỉnh là : KCN An Nghiệp (TP. Sóc Trăng) ; KCN Trần
Đề (Cảng Cá) ; KCN Đại Ngãi (cảng tàu vận tải biển) .
Nhiều cầu qua sông đang được xây dựng nhưng tốc độ thi công chậm chạp làm
ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Ví dụ cầu Kinh Xáng và cầu Phú Lộc .
I.4. HIỆN TRẠNG DU LỊCH
Du lịch phát triển chưa mạnh và đa dạng so với tiềm năng của tỉnh. Xây dựng hạ
tầng du lịch nhất là các khu, điểm du lịch và khách sạn còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu
cầu của khách du lịch trong nước và quốc tế đến thăm quan, nghỉ dưỡng và giải trí.
Năm 2009 tỉnh thu hút khách tham quan du lịch ước tính 597.305 lượt khách đến
tham quan (đạt 100,05% kế hoạch năm), trong đó khách quốc tế là 6.590 lượt khách (đạt
84,5% kế hoạch năm). Tổng số khách lưu trú đạt 100.086 lượt khách (đạt 129,14% kế
hoạch năm). Tổng doanh thu đạt 58,079 tỷ đồng (đạt 112,77% kế hoạch năm, tăng 14,5%
so với năm 2008). (Nguồn: Báo cáo công tác Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2009 và
phương hướng nhiệm vụ năm 2010)
Ngành du lịch Sóc Trăng được định hướng phát triển theo hướng đa dạng hóa, tập
trung vào những sản phẩm du lịch đặc thù của tỉnh, kết hợp du lịch nhân văn như tham
quan di tích văn hóa, lịch sử vật thể, phi vật thể, làng nghề với du lịch sinh thái miệt
vườn, nghỉ dưỡng, du sông du biển và du lịch giải trí như bơi thuyền, biểu diễn văn hóa.
Tập trung xây dựng hoàn chỉnh một số khu du lịch ven biển có tầm cỡ trong khu vực
ĐBSCL đủ điều kiện thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, đưa Sóc Trăng trở
thành Một điểm đến trên tuyến du lịch TP.Hồ Chí Minh - Khu vực ĐBSCL.
Ngành du lịch tỉnh tuy được quan tâm nhiều trong những năm gần đây, nhưng việc
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn chưa đáng kể. Các điểm, tuyến, khu du lịch chưa chú

vùng biển Sóc Trăng đến năm 2015 là 86kg, năm 2020 là 135kg. Như vậy việc xây dựng
trung tâm Nhiệt Điện sẽ giải quyết được vấn đề thiếu điện nhưng lại góp phần đẩy nhanh
tốc độ BĐKH.
Để giảm thiểu nguy cơ BĐKH cần giảm khí thải. Từ đó gây áp lực lên ngành năng
lượng là phải cắt giảm việc sử dụng các loại nhiên liệu phát thải ra khí nhà kính, tìm kiếm
nguồn năng lượng sạch thay thế nguồn năng lượng hóa thạch, có chính sách tiết kiệm và
phát triển năng lượng bền vững.
II.1.2. Tác động đối với công nghiệp
Ngành công nghiệp là ngành đóng góp đáng kể vào việc xảy ra BĐKH. Cũng là
ngành giúp cho xã hội ngày càng phát triển và hiện đại. BĐKH xảy ra tác động ngược trở
lại công nghiệp.
Để cắt giảm lượng khí nhà kính thải ra môi trường cần phải thay đổi các công
nghệ sản xuất lạc hậu, trang bị các thiết bị xử lý khí thải, tìm kiếm nguồn năng lượng
sạch để sử dụng. Muốn làm được điều này cần đầu tư kinh phí không nhỏ, vô hình chung
đã tạo áp lực lên ngành công nghiệp.
Đối với các ngành công nghiệp chế biến. BĐKH làm cho mùa màng thất bát. Các
nông sản là nguyên liệu đầu vào cho ngành này không dồi dào và chất lượng.
Mực nước biển dâng làm đường xá sạt lở, hư hại, các bến cảng bị bồi tụ... khiến
cho việc thông thương gặp khó khăn. Việc phân phối sản phẩm công nghiệp bị trì trệ.
II.1.2. Tác động đối với giao thông vận tải
Nhìn chung hiện trạng giao thông thủy và bộ của tỉnh Sóc Trăng đã có những
bước phát triển tương đối nhanh. Hệ thống giao thông đã kết nối được những khu vực
giữa các vùng với nhau để thúc đẩy phát triển kinh tế các khu vực. Tuy nhiên, hiện nay
theo đánh giá, điều kiện hạ tầng giao thông vận tải của tỉnh vẫn còn yếu kém, mạng lưới
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

6


Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,

Khi ngập, cao trình thiết kế xây dựng, quy hoạch của đường giao thông bộ bị phá
vỡ gây tốn kém chi phí duy tu bão dưỡng, nâng cấp và xây dựng mới các tuyến. Sạt lở
làm cho đường bị thu hẹp, cầu có nguy cơ sập do chân cầu bị xói lở, xe lưu thông qua lại
khó khăn. Cần hoàn chỉnh về mặt thiết kế và đầu tư xây dựng để hạn chế khả năng xâm
thực, sạt lở khi có mực nước biển dâng.
 Đường thủy
Tỉnh Sóc Trăng có 659 km sông và kênh rạch. Thuận lợi cho phương tiện giao
thông thủy từ 10 tấn trở lên lưu thông, các kênh rạch nhỏ còn lại có thể lưu thông thuyền
1 – 5 tấn. Giao thông thủy đóng vai trò chính trong vận chuyển hàng hóa cũng như đi lại
của dân cư trong các vùng. Đây là một điều kiện thuận lợi đối với giao thông thủy của
tỉnh.
Tuy nhiên theo kịch bản nước biển dâng của Sóc Trăng, đến cuối thế kỉ 21 mực
nước biển có khả năng tăng 75 - 100cm, và khi đó:

TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

7


Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

- Các bến tàu tại thành phố Sóc Trăng, Ngã Năm, Đại Ngãi, Trần Đề, Cái Côn bị
ngập bởi mực nước dâng cao do không đảm bảo được cao trình mặt bến theo yêu cầu kỹ
thuật, giao thông đường thủy gặp khó khăn.
- Luồng lạch chạy tàu của một số tuyến diễn biến theo chiều hướng xấu như do bồi
lắng lòng sông, tăng tốc độ dòng chảy trên sông, sinh ra các vùng xoáy nguy hiểm v.v...
Ví dụ như tại Cửa Trần Đề chịu tác dụng của hai yếu tố, khi BĐKH diễn ra mực nước
biển dâng lên đẩy nước ngược lên phía thượng nguồn sông Hậu. Mặt khác lượng nước
sông Hậu tăng lên do lũ, đẩy nước thoát ra biển thông qua cửa Trần Đề. Làm cho khu vực

Khi nước biển dâng 75cm (so với thời kỳ 1980 - 1999) thì các đô thị của Sóc
Trăng sẽ bị ảnh hưởng. Ước tính có đến trên 2.260 hộ dân phải di dời ra khỏi vùng có
nguy cơ sạt lở, thuộc các cù lao và các khu vực cửa sông rạch; trên 150 hộ phải di dời từ
vùng rừng phòng hộ ven biển Vĩnh Châu, Trần Đề đến vùng định cư mới.
Theo kết quả tính toán thì tổng diện tích đất đô thị và công nghiệp bị ngập đến
giữa thế kỉ 21 (năm 2050) ứng với mức triều cao nhất của kịch bản phát thải thấp là
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

8


Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

398,47ha, phát thải trung bình là 473,57ha, phát thải cao: 602,91ha. Đến cuối thế kỉ 21
(năm 2100) ứng với mức triều thấp nhất của kịch bản thấp: 3.340,74ha, phát thải trung
bình: 5.862,63ha, phát thải cao: 14.789,20ha. Ứng với mức triều cao nhất kịch bản thấp:
8.686,01ha, phát thải trung bình: 12.136,93ha, phát thải cao: 22.717,00ha. Trong đó
huyện có diện tích ngập lớn nhất là Ngã Năm và Mỹ Tú.
Để hạn chế đến mức thấp nhất những tác động của BĐKH gây ra đối với ngành
xây dựng công trình, ngành xây dựng cần phải có những quy hoạch định hướng, quy
hoạch phát triển thành những vùng, tiểu vùng và có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho
quá trình đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng,...
II.1.2. Tác động đối với khu du lịch
BĐKH tác động trực tiếp đến các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, thương
mại, dịch vụ. Thông qua tác động tiêu cực, ảnh hưởng gián tiếp đến các lĩnh vực khác
như giao thông, vận tải, xây dựng, nông nghiệp, sức khỏe cộng đồng,..
Du lịch chủ yếu bao gồm các hoạt động nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và lữ hành
(đưa đón và hướng dẫn khách tại các địa điểm tham quan du lịch) nên phụ thuộc rất nhiều
vào các yếu tố thời tiết. Do đó, nếu thời tiết xấu, các hoạt động du lịch sẽ bị ảnh hưởng



Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

còn có lượng khí thải rất lớn phát sinh trong tương lai, trong đó CO 2 chiếm 40%, đây là
khí gây hiệu ứng nhà kính nguyên nhân làm mực nước biển dâng. Mặc dù tỉnh có kế
hoạch phát triển các ngành công nghiệp sử dụng chất thải: nhà máy chế biến tro nhiệt
điện làm phụ gia sản xuất bê tông. Nhưng vẫn cần tìm kiếm và sử dụng các nguồn năng
lượng có thể tái tạo. Một số mô hình năng lượng sạch đề nghị áp dụng tại Sóc Trăng:
 Mô hình năng lượng gió
Dự án công nghệ điện gió được tập đoàn EAB và Công ty cổ phần thương mại sản
xuất và dịch vụ tổng hợp (TRASESCO) sẽ triển khai thực hiện vào năm 2011 tại hai xã
Vĩnh Tân và Vĩnh Phước của huyện Vĩnh Châu - nơi có vị trí rất thuận lợi cho việc đón
hướng gió.
Nhân rộng mô hình điện gió ở xã Vĩnh Tân, Vĩnh Phước ra các khu vực khác như
dự án điện gió Lai Hòa và dự án điện gió Hồ Bể (huyện Vĩnh Châu); dự án điện gió Trần
Đề.
Các KCN mọc lên rất nhiều tại Sóc Trăng trong thời gian tới. Cần đảm bảo điện
cho sản xuất. Xây dựng Trung tâm điện lực tại huyện Vĩnh Châu. Nếu công nghệ điện
gió phát triển tốt, sẽ chuyển từ nhiệt điện sang điện gió nhằm cắt giảm lượng khí thải nhà
kính, góp phần giảm nhẹ tác động của BĐKH.
 Xây dựng thí điểm mô hình nhà sử dụng năng lượng mặt trời
Mô hình nhà này trước mắt nên áp dụng tại các trụ sở, Uỷ ban Nhân dân, các tòa
nhà công cộng, sử dụng mô hình nhà này tận dụng được nguồn ánh sáng mặt trời dồi dào.

Hình II.1: Mô hình mái thu năng lượng mặt trời

Hình II.2: Dự án trình diễn hệ thống pin mặt trời nối lưới tại tòa nhà 8 tầng, trụ sở Bộ
Công thương, Hà Nội

thì không thể bơm không khí xuống ao hồ được, nên chỉ dùng ở vùng có gió thường
xuyên.
+ Dùng các bình khí nén dự trữ khi có gió to. Khi lặng gió thì dùng các bình khí
nén cung cấp oxi liên tục cho ao nuôi.
+ Nạp năng lượng điện thu được vào ắc quy và lấy năng lượng điện này bơm
không khí xuống đáy ao hồ. Phương pháp này có lợi thế là khi không có gió cũng có
điện, bơm không khí liên tục xuống ao hồ.
Xây dựng thử nghiệm hình thức sử dụng năng lượng gió sục khí cho nuôi tôm các
huyện phía Nam. Một số vùng cụ thể như vùng nội đồng, nước lợ (Vĩnh Châu, Mỹ
Xuyên); tuyến ven biển, nước mặn (Vĩnh Châu, Cù Lao Dung, Trần Ðề); tuyến ven sông
Mỹ Thanh, sông Hậu, Tổng Cán; tuyến ven sông Trà Niên, Kinh Mới - Vĩnh Châu. Tính
toán lợi ích kinh tế đạt được ở các mô hình thử nghiệm, nếu đạt nhân rộng ra các vùng
khác.
b. Tiết kiệm năng lượng trong sinh hoạt, trong giao thông vận tải, trong sản xuất và
chiếu sáng công cộng.

TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

11


Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

Hình II.3: Đèn năng lượng mặt trời đặt tại
các công viên và vỉa hè

Hình II.4: Kết hợp cả năng lượng gió và
mặt trời vào việc xây dựng hệ thống đèn
chiếu sáng công cộng

Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

 Đối với chăn nuôi
Phát triển mạnh hơn nữa mô hình bể tự hoại tại các hộ gia đình, bể biogas tại các
trang trại chăn nuôi kết hợp với mô hình sản xuất vườn – ao – chuồng (VAC)
Mô hình biogas không còn xa lạ ở nông thôn Việt Nam, cần tuyên truyền và có
biện pháp hướng dẫn người dân xây dựng hệ thống biogas đúng kỹ thuật nhằm tận dụng
nguồn năng lượng sạch, tiết kiệm chi phí cho gia đình, giải quyết được vấn đề chất thải
trong chăn nuôi. Hoàn thiện công nghệ khí Biogas áp dụng cho các hộ gia đình.
Một công trình Biogas với công suất 8m 3 khí có giá từ 3 - 5 triệu. Do đó tỉnh nên
xem xét vấn đề hỗ trợ thêm kinh phí cho người dân để mô hình này phát triển mạnh hơn
nữa.
Các huyện vùng trũng (Ngã Năm, Thạnh Trị, Mỹ Tú), Tp. Sóc Trăng xem xét áp
dụng mô hình này.

Hình II.5: Hệ thống thu khí chăn nuôi để phát điện

TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

13


Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

Hình II.6: Mô hình Biogas tại hộ chăn nuôi gia đình
Ngoài ra cần nghiên cứu đến hướng thu hồi khí Mêtan tại các bãi rác để làm nguồn
năng lượng sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất (sử dụng để thắp sáng). Bước đầu áp dụng
thử nghiệm tại bãi rác của TP Sóc Trăng.

 Mỗi biện pháp này cần xây dựng một dự án nghiên cứu riêng để có thể đánh
giá được hết các vấn đề và đưa ra giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo giao thông thích ứng
với nước ngập.
- Khi xây dựng các công trình, đặc biệt là các công trình gần với sông, kênh rạch
cần phải tính toán thủy văn, thủy triều chính xác để tránh bị ngập khi nước biển dâng
trong vùng dự án. Các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực giao
thông vận tải phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định và trình các cơ
quan quản lý về môi trường thẩm định. Tăng cường kiểm soát sự phát thải như kiểm tra
sự thải khói, kiểm định kỹ thuật máy móc. Biện pháp này hiện nay đã có nhưng còn yếu
và vận hành chưa tốt. Biện pháp này rất quan trọng nhằm hạn chế lượng khói thải từ
nguồn di động.
- Biện pháp giáo dục cộng đồng nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường lĩnh vực
giao thông vận tải. Phát triển giao thông công cộng để giảm bớt lưu lượng xe và khí thải.
Khuyến khích phát triển các loại phương tiện sử dụng ít hoặc không sử dụng nhiên liệu
hóa thạch, đẩy mạnh nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu tái tạo trong các phương tiện vận
tải. Rút ngắn lộ trình của các phương tiện giao thông bằng cách cải cách các thủ tục hành
chính nhằm giảm nhu cầu đi lại, tăng cường sử dụng liên lạc viễn thông.
II.2.3. Xây dựng dân dụng
Xây dựng dân dụng phải đảm bảo gắn liền với việc bảo vệ môi trường, bảo vệ
cảnh quan, thân thiện với môi trường và thích ứng được với những thay đổi của thời tiết,
nước biển dâng.
- Khống chế cốt nền khi trong xây dựng nhà ở và các công trình dân dụng khác.
Cần có dự án đánh giá lại cốt nền của toàn tỉnh Sóc Trăng nhằm đưa ra cốt nền chuẩn khi
xây dựng nhà ở và đường giao thông để tránh tình trạng mỗi lần nước dâng lại nâng nền
khiến việc ngập úng không giải quyết triệt để.
- Hình thành các khu dân cư tập trung thích ứng với tình hình BĐKH đang diễn ra.
+ Tại các huyện ven biển như Trần Đề, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung có nhiều hộ dân
cư sinh sống ở khu vực ngoài đê thường chịu tác động của thiên tai (khu vực ven biển).
Cần quy hoạch bố trí các khu dân cư nằm trong khu vực an toàn. Đồng thời có chính sách
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

Hình II.8: Mô hình nhà chống ngập ở Hình II.9:: Phối cảnh nhà sàn cải tiến hộ
ĐBSCL (kinh phí khoảng 20 triệu đồng)
gia đình (kinh phí khoảng 100 triệu đồng)
 Tiến hành xây dựng thí điểm nhà sàn tại xã Vĩnh Quới, Vĩnh Biên huyện Ngã
Năm, xã Mỹ Tú, Long Hưng (huyện Mỹ Tú). Nếu đạt hiệu quả sẽ tiến hành xây dựng
rộng rãi trên toàn bộ các huyện thấp trũng của tỉnh.
+ Đối với nhà ở ven kênh rạch: đề xuất xây dựng mô hình nhà nổi ven các sông
rạch Những ngôi nhà này có thể nâng lên và hạ xuống theo mực nước sông mùa lũ. Kiểu
nhà này thích hợp xây dựng ở huyện Cù Lao Dung (nơi có hệ thống sông rạch chằng chịt,
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông, thường
TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

16


Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

xuyên bị ngập, sống nhờ đê bao). Tuy nhiên đây là mô hình nhà ở có kinh phí khá cao vì
vậy cần có các giải pháp để huy động nguồn vốn cho việc xây dựng.

Hình II.10: Mô hình nhà nổi ven các sông rạch nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và
nước biển dâng
Kinh phí:
Tổng diện tích xây dựng 40m2 × 5 triệu đồng = 200 triệu đồng
+ Đối với khu vực chịu ảnh hưởng của bão
Khu vực ven biển có địa hình nền đất yếu nên không thể xây nhà kiên có như ở
các tỉnh miền Trung vì chi phí xử lý nền móng rất tốn kém. Vì thế khi xây nhà kết hợp
đào sâu và đổ chôn sẵn các trụ bê tông có khoan để buộc dây thừng (hoặc dây kẽm, xích),
để neo giữ nhà trong mùa bão. Bình thường trong mùa nắng hoặc thời gian không có bão

Phú huyện Mỹ Tú; xã Vĩnh Quới, Vĩnh Biên huyện Ngã Năm, KCN An Thạnh I ở huyện
Cù Lao Dung.
- Các KCN/CCN được quy hoạch xây dựng ven biển hay xảy ra sạt lở cần xem xét
lại vị trí xây dựng. Nếu xây dựng phải đưa ra giải pháp thích nghi và có chính sách ưu đãi
cho các doanh nghiệp khi đầu tư xây dựng.
- Nghiên cứu, xây dựng và chỉnh sửa các tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng các công
trình cho phù hợp với điều kiện khí hậu do tác động của BĐKH. Lập một dự án chi tiết
cho nghiên cứu này.
- Nghiên cứu đề xuất các cơ chế chính sách thúc đẩy và khuyến khích sử dụng
hiệu quả và tiết kiệm năng lượng trong lĩnh vực xây dựng.

TRUNG TÂM KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG (CEE)

18


Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng, công nghiệp,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch và đề xuất biện pháp ứng phó

KẾT LUẬN
Nhìn chung tác động của BĐKH và nước biển dâng đối với lĩnh vực năng lượng,
giao thông vận tải, xây dựng dân dụng, khu du lịch tương đối lớn. Nó không chỉ ảnh
hưởng đến cơ sở vật chất mà còn ảnh hưởng đến cả sinh kế của người dân trong những
khu vực này. Việc đánh giá tác động và đưa ra biện pháp ứng phó là cần thiết.
Để thực hiện được các biện pháp ứng phó cần sự phối hợp của nhiều sở ban
ngành. Việc giảm nhẹ BĐKH đòi hỏi sự phối hợp toàn cầu, đặc biệt là nghĩa vụ của các
nước phát triển trong giảm phát thải khí nhà kính. Việt Nam theo đánh giá là một trong
những nước phải chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng BĐKH và mực nước biển dâng.
Thích ứng với BĐKH trở thành vấn đề bức thiết trước mắt và lâu dài. Chương trình Mục
tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH cần được coi là chương trình quan trọng, ưu tiên của


4.

Báo cáo Quy hoạch bố trí dân cư nông thôn tỉnh Sóc Trăng, giai đoạn 2006 - 2010
và định hướng đến năm 2015 - Sở NN&PTNT - Năm 2007

5.

Báo cáo tình hình thực hiện công tác quản lý và bảo vệ môi trường năm 2009 - Sở
TNMT - Năm 2009

6.

Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2009 và kế hoạch nhiệm vụ
công tác năm 2010 ngành Tài nguyên và Môi trường Sóc Trăng - Sở TNMT - Năm
2009

7.

Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển CN-TTCN trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đến
năm 2010 và tầm nhìn 2020 - Sở Công thương - Năm 2005

8.

Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển thương mại tỉnh Sóc Trăng giai
đoạn 2001 - 2010 và tầm nhìn đến 2020 - Sở Công thương - Năm 2007

9.

Dự án rà soát bổ sung điều chỉnh quy hoạch cấp nước sạch và VSMT nông thôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status