CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
TRONG TIẾT ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
MỤC LỤC
I.. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ………………………………………………………………2
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ……………………………………………………………..2
2.1. Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học
theo đinh hướng phát triển năng lực học sinh……………………………………………2
2.2. Những năng lực nào của học sinh cần được phát huy trong giờ học?.........................3
2.3. Những chuẩn bị cho một tiết học theo định hướng phát triển năng lực học sinh…….3
2.4. Giáo án đổi mới phương pháp dạy học
theo định hướng phát triển năng lực học sinh……………………………………………..5
III. KẾT LUẬN………………………………………………………………………….24
I.. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ
Văn học là tấm gương phản ánh cuộc sống nên dạy học Ngữ Văn chính là định
hướng cho người học có một cách nhìn đúng đắn, toàn diện về cuộc sống. Tuy nhiên, xã
hội ngày càng phát triển, cái tôi cá nhân, năng lực của mỗi người khi tiếp nhận một tác
phẩm văn học cũng thay đổi, phát triển. Người học đôi khi không đồng tình với những
quan điểm đã xưa cũ về một tác phẩm văn học mà có một cái nhìn mới của người hiện đại.
Người học cũng không nhất thiết phải chép lại nguyên văn bài giảng của thầy cô, trung
thành với bài giảng ấy mà chỉ cần thầy cô định hướng cách tiếp cận để tự mình khám phá
thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Trong thời đại công nghệ thông tin, những bài viết về
một tác phẩm văn học xuất hiện rất nhiều và có thể tìm kiếm dễ dàng trên các trang web,
sách, báo... Bời vậy, điều người học cần nhất có lẽ là sự định hướng của thầy cô trong cách
tiếp cận, để có thể chủ động lĩnh hội tác phẩm, chủ động lựa chọn một hướng đi phù hợp
vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Vì thế, đổi mới phương pháp dạy học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh trong tiết đọc hiểu văn bản đã trở thành một nhu cầu
thiết yếu của việc dạy học Ngữ Văn thời đại mới. Với chuyên đề này, chúng tôi mong muốn
mang đến một phương pháp dạy học mới, không áp đặt, đưa sẵn kiến thức mà chỉ gợi dẫn
những năng lực có thể của học sinh. Những năng lực cần được phát huy ở học sinh gồm:
Năng lực đọc hiểu văn bản; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; năng
lực giải quyết vấn đề; năng lực tự học; năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mĩ;
năng lực hợp tác, làm việc nhóm; năng lực tự quản bản thân; năng lực sáng tạo; năng lực
thuyết trình; năng lực mở rộng, liên hệ, so sánh… Trong mỗi giờ học cụ thể, giáo viên cần
xác định những năng lực cần được phát huy ở học sinh để xây dựng giờ học hiệu quả.
2.3. Những chuẩn bị cho một tiết học theo định hướng phát triển năng lực học
sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đòi hỏi
sự chuẩn bị rất kĩ càng, bài bản của cả giáo viên lẫn học sinh. Nếu thầy và trò cùng chuẩn
bị một cách cẩn thận, có chất lượng theo đúng dự kiến thì chắc chắn thành công của giờ
học đó sẽ đến gần hơn.
2.3.1. Chuẩn bị của giáo viên.
- Giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của bài học, căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng mà
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành. Phần mục tiêu bài học, giáo viên cần xác định được
các năng lực cần hình thành cho học sinh sau tiết học.
- Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu liên quan để hiểu chính xác, đầy đủ, sâu rộng
nội dung bài học, lựa chọn đơn vị kiến thức phù hợp với mục tiêu bài học đã đề ra về kiến
thức, kĩ năng, thái độ, năng lực cơ bản cần hình thành và phát triển ở học sinh.
- Xác định được phương pháp dạy học, các kĩ thuật dạy học phù hợp với đối tượng học
sinh. Giáo viên phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học
sinh, phân nhóm học sinh để có phương pháp phù hợp. Đối với mỗi phân môn Ngữ Văn,
thấm chí mỗi bài dạy chỉ tích ứng với một số phương pháp, kĩ thuật dạy học nhất định nên
giáo viên phải căn cứ vào đối tượng học sinh và nội dung bài học để có lựa chọn phù hợp.
- Chuẩn bị các phương tiện dạy học. Ngoài việc nhắc nhở học sinh chuẩn bị sách giáo
khoa, các đồ dùng dạy học tối thiểu, giáo viên cần chuẩn bị máy chiếu, máy tính, bảng phụ,
bút mực viết bảng, phiếu học tập, tranh ảnh..., bố trí không gian lớp học cho phù hợp với
kĩ thuật dạy học đã lựa chọn.
B.
C.
D.
-
nghệ tuyệt vời của Nguyễn Du trong việc miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật (tài).
Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm và phân tích thơ trung đại.
Giáo dục: Tình yêu thương, đồng cảm với con người.
Chuẩn bị
GV: Soạn giáo án và đọc tài liệu tham khảo.
HS: Chuẩn bị bài theo phiếu học tập.
Phương pháp
Thảo luận nhóm
Gợi mở, thuyết trình.
Các năng lực hình thành
Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
Năng lực giải quyết vấn đề.
Năng lực tự học.
E.
1.
2.
A.
B.
C.
D.
Năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mĩ.
Lời vào bài: Đối với nhiều người dân Việt Nam, “Truyện Kiều” được xem như
cuốn sách gối đầu giường. Tuy nhiên, đương thời và nhiều thập kỉ sau, không
phải người đọc nào cũng đồng cảm, thương xót nàng Kiều, nhất là đoạn đời
nàng phải làm kĩ nữ. Nguyễn Công Trứ từng lên án: Đoạn trường cho kiếp tà
dâm”. Tản Đà cũng viết: “Đôi hàng nước mắt, đôi làn sóng / Nửa đám ma chồng,
nửa tiệc quan”. Đặc sắc và đáng khâm phục ở thiên tài và tầm lòng của Nguyễn
Du là ông đã lấy nhân vật kĩ nữ làm nhân vật trung tâm cho tác phẩm của mình,
hơn thế, ông còn đồng cảm, ngợi ca nàng Kiều như một đóa sen “gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn”. Trong những ngày buộc phải ê chề tiếp khách theo
lệnh mụ Tú Bà, tâm trạng của nàng ra sao, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua đoạn
trích “Nỗi thương mình”.
Kĩ thuật Hoạt động của thầy và trò
Nội dung cần đạt
Định
và
PPDH
-Sử dụng
câu hỏi
-Sử dụng
sơ đồ tư
duy
-Diễn
giảng
-Đàm
thoại
tiếp khách làng chơi. Cuộc sống ô
nhục khiến nàng đau đớn, chua xót.
-GV mời 1 HS đọc đoạn trích. GV đọc
lại 1 lần.
-GV đặt câu hỏi trắc nghiệm để HS
cảm nhận về âm điệu và chủ đề của
đoạn trích.
Dòng nào nhận xét đúng về âm
điệu của đoạn trích “Nỗi thương
minh”?
A.. Vui tươi, rộn ràng.
B. Nhẹ nhàng, tha thiết.
C. Da diết, khắc khoải, sâu lắng.
D. Hào sảng, khoan thai, dõng dạc
Chủ đề của đoạn trích “Nỗi
thương mình” là gì?
A.. Cảnh sống và tâm trạng, thái độ
của Thúy Kiều khi ở lầu xanh.
B. Cảnh sống tiếp khách rộn ràng
của Kiều khi ở lầu xanh.
C. Nỗi tủi nhục của Thúy Kiều khi ở
hướng
năng lực
I.. Tiểu dẫn (5p)
-Năng lực
* Vị trí đoạn trích
tự học.
- Từ câu 1229 đến 1248
-Năng lực
thức văn
chương,
cảm thụ
thẩm mĩ.
lầu xanh.
D. Nỗi nhớ chàng Kim khi ở lầu
xanh.
Từ việc tìm hiểu chủ đề, em nhận
thấy kết cấu của đoạn trích như
thế nào?
- Thảo Dẫn dắt: Thời trung đại, “lầu xanh”
luận
là một cụm từ chỉ nơi ăn chơi,
nhóm
hưởng lạc của những khách làng
Đàm chơi. Cuộc sống ở đó ra sao và Thúy
thoại
Kiều – một tiểu thư khuê các lạc
(hỏigiữa chốn thanh lâu ấy có tâm
đáp)
trạng thế nào, ta cùng tìm hiểu qua
Diễn 10 câu thơ đầu của đoạn trích.
giảng
Bài tập làm việc nhóm (5p)
- Diễn biến tâm trạng của Thúy
Kiều trước cảnh sống ở lầu xanh
như thế nào? Được thể hiện qua
những từ ngữ, hình ảnh và biện
giải quyết
vấn đề
-Năng lực
sáng tạo
-Năng lực
hợp tác
-Năng lực
tự quản
bản thân.
-Năng lực
giao tiếp
Tiếng
Việt.
-Năng lực
thưởng
thức văn
chương/
cảm thụ
a.. Cảnh sống của Kiều thẩm mĩ.
ở lầu xanh.
- Hình ảnh: Bướm lả ong
lơi. Nghệ thuật ẩn dụ
“ong bướm” cùng với lối
tách từ, nhấn mạnh từ láy
“lả lơi”, cho thấy sự suồng
sã, đùa cợt của khách
làng chơi.
- Động từ: (cuộc)say,
(trận)cười, đưa, tìm
- Trạng từ chỉ thời gian:
triền miên, là một thứ đồ chơi mua
vui cho những khách phong lưu.
- Điển tích lá gió cành chim, Tống
Ngọc, Trường Khanh tăng thêm
tính chất ước lệ cho lời thơ, chỉ
những khách phong lưu sang trọng.
Bút pháp ước lệ là bút pháp chung
mà ND đã sử dụng để thể hiện cuộc
sống của Thúy Kiều trong nhà chứa
của mụ Tú Bà. Nghệ thuật ước lệ
một mặt giúp người đọc có thể hình
dung ra không khí tấp nập, lả lơi,
trăng gió của cuộc sống trong nhà
chứa, mặt khác vẫn giữ được vẻ
thanh nhã cho lời thơ, phần nào
bảo toàn vẻ đẹp của nàng Kiều dù
phải sống trong cảnh ngộ éo le, nhơ
nhớp nhất trong cơn biến cố hãi
hùng của cuộc đời. Sự ước lệ của
miên, bất tận, không có
điểm dừng. Cuộc sống ở
lầu xanh là một vòng
xoáy của những cuộc
chơi, những cơn say, trận
cười.
- Từ ngữ gợi hình, gợi
cảm: biết bao, dập dìu
->càng nhấn mạnh không
khí rộn ràng, tấp nập,
độ trân trọng, cảm thông của nhà
thơ dành cho nhân vật của mình.
Phải chăng Nguyễn Du không nỡ
gọi tên một cách cụ thể cuộc sống
đày đọa thân xác và nhân phẩm mà
Kiều đang phải chịu đựng?.
- 4 câu thơ đăng đối, nhịp nhàng,
nghệ thuật đối được sử dụng trong
các câu thơ: (bướm lả/ong lơi; cuộc
say đầy tháng / trận cười suốt đêm;
lá gió / cành chim; sớm đưa Tống
Ngọc / tối tìm Trường Khanh), nhịp
thơ 2/2/2/ và 4/4 gợi cảnh sống
diễn ra một cách đều đặn nhịp
nhàng như nó vốn có.
Chỉ 4 câu thơ nhưng bằng những
hình ảnh giàu sức gợi, ND đã cho
người đọc thấy được cuộc sống rộn
ràng, tấp nập mà ô nhục ở chốn
thanh lâu. Đối với Kiều, cuộc sống
nhộn nhịp ấy thực là 1 sự đày ải.
Nói như Nguyễn Tuân, “ông Trời
nhiều khi chơi ác, đem đày ải
những cái thuần khiết vào giữa
đống cặn bã”.
Cuộc sống xô bồ, suồng sã như một
cơn lốc xoáy cuốn phăng và vùi dập
đời Kiều, nàng chỉ có thể suy ngẫm
về mình “khi tỉnh rượu, lúc tàn
canh”. Đó là khi nửa đêm về sáng,
giật mình, bàng hoàng nhận ra
cảnh ngộ thực tại, một tiểu thư
khuê các giờ lại là một kĩ nữ lầu
xanh. Giật mình ko chỉ là hành
động bên ngoài của nhân vật khi có
một sự tác động đột ngột nào đó
của môi trường bên ngoài. Đó là
cái giật mình từ cảm xúc bên trong
mà nếu ko có thì Kiều cũng giống
như tất cả các kĩ nữ khác trong
thanh lâu của Tú bà. Kiều giật mình
vì nhận ra sự tàn phá thảm hại về
thể xác và phẩm cách của mình ở
chốn lầu xanh, sự cô đơn lẻ loi của
mình và sự yếu đuối bất lực của
mình trước bao nhiêu sự xấu xa,
cạm bẫy đang bủa vây mình mà ko
thể chống đỡ. -Nàng tự thấy tủi hổ,
bẽ bàng, thương thân, xót phận.
Nhịp thơ 2/4/2 cùng với điệp từ
“mình” được nhắc lại 3 lần trong 1
câu thơ gợi cảm giác nặng nề, chua
xót. Câu thơ như 1 tiếng nấc đan
xen tiếng thở dài, khắc sâu nỗi tủi
hờn, đau đớn của một con người
luôn biết ý thức về nhân phẩm. Như
một lẽ tự nhiên, Kiều nhớ lại những
năm tháng êm đềm đã qua. Khi xưa,
nàng sống trong “phong gấm rủ là”,
đâu biết đến những sóng gió cuộc
sánh “tan tác như hoa
giữa đường”, những cụm
từ đan chéo nhấn mạnh
thực tại éo le, bất hạnh.
+ Điệp từ “sao” và những
câu hỏi tu từ cất lên đầy
đay nghiến, chua xót cho
1 kiếp người bạc mệnh.
+ Nhịp thơ nhanh, gấp
gáp như những lớp sóng
lòng triền miên, nhức
nhối.
* Kiều xót xa thân phận
bởi nàng luôn biết tự ý
thức về giá trị nhân
phẩm, không buông mình
theo dòng chảy xô bồ,
suồng sã chốn thanh lâu.
Nguyễn Du thấu hiểu
cảnh ngộ và đồng cảm với
những tâm trạng của
nàng, diễn tả những tâm
sự ấy một cách tinh tế.
Nguyễn Du trân trọng
phẩm giá nàng Kiều ngay
nghit ngó trong i Kiu. Quỏ kh c khi nng b y vo
yờn m bao nhiờu thỡ hin ti li hon cnh ụ nhc nht.
ph phng by nhiờu. Dĩ vãng chỉ đợc gợi lên qua một câu còn hiện tại
B. Tp np, rn rng.
C. Nhn nhip, xụ b, ụ nhc.
D. Lng l, bỡnh yờn.
Cõu 2. Tõm trng ca Thỳy Kiu
khi sng lu xanh nh th no?
A. Vui v, hũa ng vi cuc sng
lu xanh.
B. Xút xa, ti nhc, thng thõn
xút phn khi phi sng lu
xanh.
C. Căm giận, uất ức khi phải
sống ở lầu xanh.
D. Tự hào, sung sướng khi sống ở
lầu xanh.
Câu 3.Câu thơ nào sau đây phù
hợp để nói về nhân phẩm nàng
Kiều khi sống ở lầu xanh?
A. Gần bùn mà chẳng hôi tanh
mùi bùn.
B. Đoạn trường cho đáng kiếp tà
dâm.
C. Sống làm vợ khắp người ta
D. Gần mực thì đen, gần đèn thì
rạng.
-Thảo
Trong phần còn lại của đoạn trích,
luận
Nguyễn Du thêm 1 lần khẳng định
2. 10 câu thơ cuối: Thái
độ, tâm trạng của Thúy
Kiều trước cảnh sắc và
thú vui chốn lầu xanh
(30p)
a.Cảnh sắc và thú vui ở
lầu xanh.
-Năng lực
giải quyết
vấn đề
-Năng lực
sáng tạo
-Năng lực
hợp tác
-Năng lực
tự quản
bản thân.
-Năng lực
giao tiếp
Tiếng
Việt.
-Năng lực
thưởng
thức văn
chương/
cảm thụ
thẩm mĩ.
nhất của ND về mối quan hệ giữa
ngoại cảnh và tâm cảnh, giữa cảnh và
tình.
Cng nh vy, nng khụng mn m
vi nhng thỳ vui ni õy. Du
phi chiu lũng khỏch, m chỡm
trong nhng cuc mõy ma, nng
cng õu vui thỳ, no bit cú xuõn
l gỡ. Du phi ci vui thỡ ú ch
l vui gng chiu lũng khỏch
m thụi. Mt cụ gỏi trong sỏng v
trung thc nh Kiu m phi ộp
mỡnh gng vui chiu lũng
- Cnh sc: giú ta, hoa
k, tuyt ngm, trng
thõu
Nhng hỡnh nh c l
toỏt lờn cnh sc 4 mựa
p ti, trang nhó.
- Thỳ vui: nột v, cõu th,
cung cm, nc c thỳ
vui tao nhó, c cm, kỡ,
thi, ha.
Nhỡn b ngoi, cuc
sng chn lu xanh tht
th mng vi cnh sc
p ti v nhng thỳ vui
tao nhó.
b. Thỏi , tõm trng
làng chơi. Nàng cô đơn và khao
khát tri âm “ai tri âm đó...” ĐOạn
thơ khép lại bằng 1 câu hỏi tu từ
đầy nhức nhối, cho thấy cảnh ngộ
đáng thương của nàng Kiều. Đại từ
phiếm chỉ “ai” được nhắc lại 2 lần
trong 1 câu thơ càng nhấn mạnh
thêm sự mơ hồ, bơ vơ của Kiều.
Nàng sống ở 1 nơi tấp nập, nhộn
nhịp nhưng luôn cô đơn, không có
ai bầu bạn, sẻ chia, k có ai đồng
cảm, thấu hiểu. Câu hỏi cất lên đầy
khắc khoải, tuyệt vọng.
Ta nhận thấy sự đối lập giữa cảnh
sắc đẹp tươi, thú vui tao nhã chốn
lầu xanh với thái độ thờ ơ, dửng
dưng của Kiều, đối lập giữa sự
hoan lạc, vui nhộn của khách làng
chơi với tâm trạng cô đơn, sầu khổ,
khao khát tri âm của 1 người con
gái trong trắng. Xoáy sâu vào sự
tương phản đó, ta nhận thấy sự bẽ
bàng, tủi hổ, đớn đau của 1 con
người có nhân phẩm nhưng bị đày
đọa giữa chốn bùn nhơ. Đã lưu lạc
giữa dòng đời, nếu Kiều chấp nhận
buông mình theo số phận thì có lẽ
nàng đã không khổ đau đến vậy.
Nhưng Kiều lại là một người con
gái luôn ý thức sâu sắc về giá trị
Kiều, diễn đạt thật tinh tế những
tâm trạng phức tạp, bi kịch của
nàng. Mỗi lời thơ như chứa đầy
nước mắt của một trái tim lớn.
Bằng việc khắc họa tinh tế những
tâm trạng, thái độ của Kiều trước
cuộc sống ở lầu xanh, Nguyễn Du
đã chiêu tuyết cho nhân phẩm của
nàng, đề cao, trân trọng nhân
phẩm của nàng ngay cả khi nàng
rơi vào hoàn cảnh ê chề, nhục nhã
nhất. Kiều như môt đóa sen giữa
chốn bùn nhơ, gần bùn mà chẳng
hôi tanh mùi bùn. Ta hiểu vì sao,
cuối tác phẩm, mượn lời Kim
Trọng, Nguyễn Du đã khẳng định:
“Như nàng lấy hiếu làm trinh / Bụi
nào cho đục được mình ấy vay”. CÓ
thể nỏi, nhân phẩm của Kiều vẫn
sáng trong, không bụi nào có thể
làm vẩn đục.
Câu hỏi củng cố (3p)
Câu 1. Đoạn trích “Nỗi thương
mình” sử dụng hình thức ngôn
ngữ nào?
A. Độcthoại
B. Đối thoại
B. Songthoại
D. Đàm thoại.
B. Bút pháp ước lệ
C. Giọng điệu da diết, sâu lắng.
D. Nghệ thuật ẩn dụ, so sánh,
điệp từ, tách từ.
Sau khi đã chốt lại kiến thức cơ
bản, GV yêu cầu học sinh lập sơ đồ
tư duy tổng kết nội dung bài học.
(5p)
GV gọi 1 nhóm lên trình bày, các
nhóm các đặt câu hỏi, nhận xét.
(3p)
GV chốt lại.
-Năng lực
sử dụng
công
nghệ
thông tin
và truyền
thông.
-Năng lực
giải quyết
vấn đề.
-Đàm
GV gọi HS trả lời
III. Tổng kết. (2p)
-Năng lực
thoại
Hãy khái quát lại giá trị nội 1.. Nội dung
giải quyết
sự chân thành của trái
tim để hiểu sâu sắc tâm
sự của người khác. Không
nên vội đánh giá, quy kết
về nhân phẩm của ai đó
qua cuộc sống bên ngoài
của họ.
4.
Củng cố
- Nỗi khổ đau thân phận và vẻ đẹp nhân phẩm nàng Kiều khi phải sống ở lầu xanh ô
nhục.
- Tấm lòng đồng cảm, trân trọng của Nguyễn Du đối với Thúy Kiều.
- Tài năng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du.
5. Hướng dẫn học bài
- Học bài cũ
- Chuẩn bị bài “Chí khí anh hùng”
III. KẾT LUẬN
Đổi mới phưrơng pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
là một yêu cầu cấp thiết trong việc dạy học Ngữ Văn thời đại mới, giúp học sinh
hứng thú với giờ học và đạt hiệu quả tốt trong việc hình thành và phát triển ở học
sinh những năng lực cần thiết. Chuyên đề của chúng tôi mong muốn đóng góp một
sự đổi mới trong cách dạy và học Ngữ Văn trong nhà trường, rất mong nhận được
sự góp ý của đồng nghiệp để hoàn thiện hơn.