LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng tự do hóa tài chính đã làm cho hoạt động ngân hàng trở nên
phức tạp hơn và áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng lớn hơn và cùng với nó,
mức độ rủi ro cũng tăng lên. Rủi ro hầu như có mặt trong từng nghiệp vụ ngân
hàng. Ngân hàng muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận rủi ro, phải chấp nhận có
nghĩa là phải sống chung cùng với những rủi ro phát sinh trong từng nghiệp vụ
của hoạt động tín dụng. Sự đổ bể của các khoản tín dụng không chỉ làm ảnh
hưởng đến sự tồn tại của một ngân hàng mà nó có thể gây phản ứng dây chuyền
tới sự ổn định của toàn hệ thống vì chúng có mối quan hệ với nhau thông qua hệ
thống thanh toán. Nguy hiểm hơn, điều này còn làm thiệt hại đến quyền lợi của
người gửi tiền, gây ảnh hưởng không tốt đến sự ổn định xã hội và của toàn bộ
nền kinh tế. Vì vậy, để hoạt động tín dụng có hiệu quả trong một môi trường
luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro thì công tác quản trị RRTD phải rất được quan tâm và
ngày càng được hoàn thiện.
Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp
vốn cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - bởi chúng
không đủ điều kiện tham gia vào các thị trường vốn trực tiếp. Cao hơn thế, khả
năng cung ứng vốn của tín dụng ngân hàng còn góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích
tụ tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tín
dụng ngân hàng còn được sử dụng như công cụ để phát triển các ngành kinh tế
chiến lược theo yêu cầu của chính phủ. Vì thế yêu cầu đảm bảo an toàn cho mỗi
khoản tín dụng ngân hàng là điều bắt buộc. Để thực hiện được yêu cầu trên cũng
như hạn chế tối đa các tổn thất cho ngân hàng, các ngân hàng cần đề ra các
phương hướng và thực hiện tốt công tác quản trị RRTD.
Trong cơ chế thị trường, hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro,
nhất là hoạt động tín dụng. Các con số thống kê và nhiều nghiên cứu cho thấy,
rủi ro tín dụng chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Thực tế
hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong thời
gian qua là một minh chứng cho nhận định này: Hiệu quả hoạt động tín dụng
1
nhánh Kiến An.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị RRTD tại
NHNo&PTNT chi nhánh Kiến An.
2
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình
thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở sang người sử dụng để sau một thời gian
nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
1.1.2 Đặc trưng của quan hệ tín dụng
Một quan hệ tín dụng cần phải thỏa mãn các đặc trưng sau:
(i) Thứ nhất, quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời: Đối tượng
của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo dài
thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa. Tính chất tạm thời của sự
chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó,nó là kết quả của
sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự
phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Sự
thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài
chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy cơ phá hủy quan
hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền
sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong 1 khoảng thời gian nhất định mà
không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó.
(ii). Nói cách khác, nó là giá trả cho sự hi sinh quyền sử dụng vốn hiện tại
của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hi
sinh quyền sử dụng đó.
hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay
vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí của
ngân hàng tăng lên so với dự kiến. Nếu một khoản vay nào đó bị mất khả năng
thu hồi thì ngân hàng phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi
tiền, đến một chừng mực nào đấy, ngân hàng không có đủ nguồn vốn để trả cho
người gửi tiền thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có
thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh khoản. Kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh
doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những
4
trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của
ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực
phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
1.2.2.2 Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung
gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ
chức, các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất quyền
sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân
hàng. Bởi vậy, khi RRTD xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà
quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng.
Khi một ngân hàng gặp phải RRTD hay bị phá sản thì người gửi tiền ở
các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân
hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn. Ngân hàng
phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa, sự
hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó
làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã
hội mất ổn định.
Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay,
Ngược lại, nếu môi trường chính trị không ổn định, xảy ra cuộc xung đột, chiến
tranh làm cho doanh nghiệp không quan tâm đến sản xuất, sản xuất đình trệ, thì
khả năng trả nợ ngân hàng là khó khăn.
Yếu tố pháp luật bao gồm: hệ thống pháp luật, hệ thống các biện pháp bảo
đảm cho pháp luật được thực thi cũng ảnh hưởng đến việc hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Luật pháp không nhất quán, mâu thuẫn, không rõ ràng và ổn
định làm cho hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng không ổn định, ảnh
hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.
(ii) Nguyên nhân từ môi trường kinh tế: Các yếu tố điển hình thường được
đề cập đến trong môi trường kinh tế là nguyên nhân dẫn đến RRTD bao gồm:
chu kì kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá... Sự biến động của các yếu tố này
ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của các doanh nghiệp và khách hàng cá nhân
của các ngân hàng. Từ đó có thể dẫn đến RRTD cho ngân hàng. Ví dụ: khi nền
kinh tế suy thoái, các ngân hàng thường gặp rủi ro lớn với các khoản cho vay
6
các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tiêu dùng cao cấp, các khoản cho vay bất
động sản... Bởi trong thời kì bày, người tiêu dùng thường cắt giảm chi tiêu cho
những nhu cầu cao cấp và chỉ duy trì các nhu cầu chi tiêu thiết yếu phục vụ cho
sinh hoạt hàng ngày.
(iii) Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên: Những rủi ro từ môi trường
thiên nhiên như: động đất, bão lụt, hạn hán,...tác động xấu tới phương án đầu tư
của khách hàng, làm cho khách hàng khó có nguồn trả nợ ngân hàng, từ đó cũng
gây ra rủi ro tín dụng.
(iv) Nguyên nhân từ môi trường xã hội: Yếu tố xã hội ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng thông qua ý thức trả nợ của khách hàng, trình độ dân trí cao thì ý
thức trả nợ cao hơn, ngân hàng cho vay sẽ gặp ít rủi ro hơn.
1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng
(i) Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa
tín dụng, thường áp dụng lãi suất cho vay thấp để tăng khả năng cạnh tranh, việc
lựa chọn khách hàng không chặt chẽ, cho vay tràn lan và cho vay không có cơ
sở đảm bảo.Với chính sánh như vậy rất dễ gây rủi ro về sau này đối với hoạt
động tín dụng và cơ cấu nguồn vốn huy động.
(ii) Nguyên nhân từ khâu thẩm định tín dụng: Quy trình thẩm định khách
hàng được coi là quan trọng nhất, tuy nhiên, để có thể thẩm định có hiệu quả,
chất lượng thì việc thu thập thông tin phải có chất lượng. Song khi thẩm định hồ
sơ khách hàng, các ngân hàng đôi khi thẩm định dựa trên ý kiến chủ quan cảm
tính, không thu thập thông tin đầy đủ về khách hàng, không dựa trên hiệu quả
thực sự của dự án, chưa đánh giá dựa trên luồng tiền của khách hàng.
(iii) Nguyên nhân từ việc kiểm tra giám sát tín dụng: Các ngân hàng
thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho
vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Sau khi
giải ngân, ngân hàng cần phải thực hiện giám sát tín dụng nhằm theo dõi việc sử
dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích hay không, tình hình hoạt động
kinh doanh có đúng như trong kế hoạch để đảm bảo trả nợ cho ngân hàng hay
không, kiểm tra tài sản đảm bảo về tình hình bảo quản, giá trị thị trường... từ đó
ngân hàng có những biện pháp kịp thời khi khoản vay có những dấu hiệu rủi ro.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay nếu không được coi
8
trọng, ngân hàng không thực sự coi hoạt động tín dụng là cùng kinh doanh với
khách hàng thì rủi ro xảy ra là tất yếu.
(iv) Rủi ro đạo đức và trình độ của cán bộ tín dụng: Một số vụ án kinh tế
lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay
của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng
giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng. Đạo
đức của cán bộ là một trong các yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế
Tín dụng là hoạt động chính yếu của ngân hàng. Nếu quản lý tốt, tín dụng
sẽ góp phần đáng kể trong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị ngân hàng.
Ngược lại, nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây ra tổn thất lớn và làm giảm giá
trị ngân hàng. Một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý tín dụng là làm
giảm tối đa rủi ro tín dụng. Điều đó được thể hiện qua quá trình quản trị rủi ro
của ngân hàng.
Quản trị kinh doanh ngân hàng là quá trình hoạt động liên tục, có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản trị lên các đối tượng quản trị và các khách thể
kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ
quốc tế.
Quản trị RRTD ngân hàng là thông qua một hệ thống các công cụ tác
động tới rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng, nhằn tìm ra nguyên nhân và
xử lí các tình huống xảy ra RRTD với mục tiêu giảm thiểu các tổn thất do rủi ro
gây ra. Nội dung của công cụ này được thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng cả về
kĩ thuật, kĩ năng, phương pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi ro, và xử lí RRTD.
1.3.2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng
Rủi ro trong hoạt động tín dụng nói chung và trong hoạt động cho vay nói
riêng được biết đến như một đặc thù, là yếu tố tất yếu khách quan của kinh
doanh tiền tệ của ngân hàng. Rủi ro thường gây ra những tổn thất thiệt hại cho
ngân hàng, tuỳ theo cấp độ rủi ro mà hoạt động kinh doanh phải chịu tổn thất
lớn hay nhỏ. Khi một ngân hàng gặp phải RRTD thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
các định chế tài chính có liên quan, sẽ gây ra sẽ gây ra hiệu ứng đổ vỡ dây
chuyền trên toàn hệ thống. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh
hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến nền
10
kinh tế thế giới vì trong thời đại nền kinh tế phát triển hiện nay nền kinh tế mỗi
quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế thế giới.
+ Thực hiện tốt các quy định của nhà nước, quy định của pháp luật, và
phù hợp với thông lệ quốc tế.
+ Đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả, phát triển.
1.3.3 Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng
Nhận biết được tầm quan trọng của quản trị RRTD, các ngân hàng thương
mại phải xây dựng nội dung quản lí rủi ro này, phù hợp với điều kiện của ngân
hàng mình.
1.3.3.1 Xây dựng chiến lược và thiết kế mô hình quản trị rủi ro tín dụng
(i) Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng
Chiến lược quản trị RRTD của ngân hàng là hệ thống các quan điểm, các
mục đích, mục tiêu cơ bản, cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một
cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế của NHTM, nhằm đạt được các mục đích,
mục tiêu đặt ra trong việc kiểm soát RRTD của ngân hàng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường biến động phức tạp thì dự báo
chính xác và một chiến lược quản trị rõ ràng sẽ đảm bảo cho bản thân các ngân
hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa, xử lí tốt những rủi ro tín dụng có thể
xảy ra. Nó góp phần định hướng cho các hoạt động tín dụng trong tương lai
nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao. Chiến lược này có thời gian
dài nên việc thiết lập và xem xét lại chiến lược một cách định kì là điều kiện
quan trọng trong hoạt động quản trị RRTD. Có thể đưa ra những căn cứ để xây
dựng chiến lược quản trị RRTD một cách hợp lí như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào chính sách tín dụng của ngân hàng : Là chính sách
do hội đồng quản trị ban hành, được thiết kế nhằm hướng dẫn, kiểm tra định
hướng và hoạt động của ngân hàng. Chính sách này thể hiện đường lối tín dụng
mà ngân hàng sẽ thực hiện và có tác dụng hướng dẫn các cán bộ ngân hàng về
mục tiêu, phạm vi, cách thức cho vay, căn cứ vào các điều kiện và môi trường
kinh doanh cụ thể của ngân hàng đó. Dựa vào chính sách tín dụng ngân hàng sẽ
xây dựng được các nguyên tắc quản trị RRTD như sau:
+ Chiến lược quản trị RRTD phải phù hợp với chiến lược phát triển và
- Duy trì danh mục đầu tư đã
được đa dạng hóa thích đáng.
- Phát triển chiến lược lựa
chọn EVA (Giá trị kinh tế
gia tăng) tối ưu.
- Thiết kế hệ thống áp dụng.
Quản lý bộ
phận kinh
doanh chính
Tập trung
vào sự đánh
đổi giữa rủi
ro và thu
nhập
Quan hệ khách hàng
- Cơ cấu giao dịch
- Lựa chọn các giá trị kinh tế
cộng thêm tại mức độ khách
hàng.
- Loại bỏ các tài sản kém
chất lượng.
+ Dùng nguyên tắc “bốn mắt” tại mọi giai đoạn nhằm ngăn ngừa lừa đảo
và sai sót.
tính chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội, điển hình là những phân tích dự báo
về tình hình tài chính tiền tệ như lãi suất, lạm phát, ngoại tệ...
(ii) Thiết kế mô hình quản trị rủi ro tín dụng
14
Các ngân hàng cần phải có một mô hình quản trị RRTD hợp lý để giảm
thiểu tối đa RRTD, việc thiết kế mô hình quản trị RRTD có thể tham khảo các
thông lệ tốt nhất về quản lý RRTD tại các ngân hàng quốc tế sau đây:
+ Cam kết mạnh mẽ và rõ ràng từ ban lãnh đạo cấp cao nhất: Ban lãnh
đạo cấp cao cần tham gia vào các quy trình quản lý RRTD. Ví dụ, quản lý rủi ro
là nội dung cốt lõi trong đối thoại giữa CEO và các bộ phận kinh doanh, các
quan chức điều hành tham gia tích cực vào các cuộc họp về quản lí rủi ro, khi
tiếp xúc với các nhân viên luôn nhấn mạnh về vấn đề này. Các vị trí quan trọng
được trao cho những người có tài, có uy tín, trách nhiệm cao; bổ sung các nguồn
lực đầy đủ cho các công tác quản lý rủi ro.
+ Giám sát từ trung tâm đối với công tác quản lý rủi ro trong toàn doanh
nghiệp: Chức năng quản lý rủi ro công ty được xác định rõ ràng sẽ duy trì được
thẩm quyền chung đối với việc hoạch định chính sách sau khi được CEO và
HĐQT phê duyệt, phê duyệt các chính sách ở cấp đơn vị kinh doanh về RRTD,
hình thành nên một cách nhìn tổng hợp cho toàn doanh nghiệp về rủi ro. Xây
dựng và duy trì các mối quan hệ công tác với các đơn vị kinh doanh để hỗ trợ
phát triển năng lực quản lí rủi ro của mình.
+ Quan điểm minh bạch và nhất quán về rủi ro: Ban lãnh đạo cấp cao nắm
chắc về tất cả các loại hình rủi ro trong nội bộ tổ chức và có quan điểm nhất
quán về những khả năng lựa chọn giữa rủi ro và thu nhập trong phạm vi danh
mục đầu tư. Cần có các quy trình rõ ràng để xác định và phân tích những rủi ro
liên quan đến các hoạt động hay giao dịch mới.
+ Phân định trách nhiệm: Cần chia rõ ràng giữa một bên là lập chính sách,
giám sát và kiểm tra việc thực hiện chính sách và bên kia là tổ chức quản lý rủi
Sơ đồ 1.2 : Lưu đồ quản lý rủi ro tín dụng
- Chính sách tín dụng - Tiêu chí chấp nhận rủi ro
- Lập kế hoạch: chiến lược, kinh doanh, hoạt động
- Xác định thị trường và thị trường mục tiêu
(được trích từ kế hoạch chiến lược)
Khởi xướng
Nguồn gốc
Đánh giá
Đàm phán
Phê duyệt
- Tự tìm kiếm
- Khách hàng tự
tìm đến
- Người khác
giới thiệu
- Mục đích
- Hoạt động
kinh doanh
- Ban lãnh
đạo…
- Kì hạn
- Thanh toán
- Thế chấp
- Các đ/k ràng
- Sự kiện không thể thấy trước
Gốc
Lãi
Xử lý
- Chiến lược
- Nhận biết sớm
- Quản lý kế hoạch
- Điều kiện nhận
biết…
17
Mất mát
Gốc
Lãi
1.3.3.2 Phân tích rủi ro tín dụng
Việc phân tích tín dụng được thưc hiện trước, trong và sau khi cấp tín
dụng, là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi khoản tín dụng nhằm đảm bảo tính chính
xác, tính kinh tế, đến được đúng đối tượng sử dụng vốn hiệu quả, nhằm đánh giá
mức sinh lời của tín dụng, đảm bảo được mục đích kinh doanh của ngân hàng,
tìm kiếm những tình huống có thể gây rủi ro đồng thời đánh giá khả năng xử lí
rủi ro của ngân hàng, và đề ra những biện pháp phòng ngừa và hạn chế những
thiệt hại có thể xảy ra. Quá trình này chấm dứt khi khoản tín dụng được hoàn trả
đúng thời hạn và đầy đủ. Trong quá trình thực hiện chiến lược quản trị RRTD,
ngân hàng sẽ lựa chọn cho mình mô hình phân tích thích hợp.
mà còn nhiều thị trường khác trên thế giới.
Bảng 1.1 : Xếp hạng tín dụng của các tổ chức xếp hạng thế giới
Moody
Standard & Poor
Xếp hạng
AAA
Aaa
Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất*
AA
Aa
Chất lượng cao*
A
A
Chất lượng trên trung bình*
BBB
Baa
Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu
(ii) Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model): Đây là mô hình do
E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn. Đại
lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng đối với người
đi vay và phụ thuộc vào:
+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.
+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ
của người vay trong quá khứ.
Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 0,99X5
Trong đó:
19
X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng VCSH / giá trị hạch toán của nợ
X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp. Ngược
lại, trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có
nguy cơ vỡ nợ cao. Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có
điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao.
(iii) Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho
điểm tín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ
thuộc, sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác.
Bảng dưới đây là những hạn mục và điểm thường được sử dụng ở các ngân hàng
của Hoa Kỳ.
4
- Công nhân bán thất nghiệp
2
Trạng thái nhà ở
- Nhà riêng
6
- Nhà thuê hay căn hộ
4
- Sống cùng bạn hay người thân
2
Xếp hạng tín dụng
- Tốt
10
- Trung bình
5
20
1
- Có
7
8
2
- Không có
Số người sống cùng (phụ thuộc)
0
- Không
3
- Một
3
- Hai
4
- Ba
4
Quyết định tín dụng
Từ chối tín dụng
21
29 - 30 điểm
31 - 33 điểm
34 – 36 điểm
37 – 38 điểm
39 – 40 điểm
41 – 43 điểm
Cho vay đến 500 USD
Cho vay đến 1.000 USD
Cho vay đến 2.500 USD
Cho vay đến 3.500 USD
Cho vay đến 5.000 USD
Cho vay đến 8.000 USD
1.3.3.3 Đo lường rủi ro tín dụng
(i) Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
+ Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ
Số dư nợ quá hạn
═
quá hạn
═
Tỷ lệ này dùng để đánh giá xem RRTD tập trung vào một số khách hàng
hay phân tán, để phân tích rõ hơn về tình hình rủi ro.
22
+ Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ dự phòng
RRTD
═
Dự phòng RRTD được trích lập
═
Mất vốn đã xóa cho kì báo cáo
Dư nợ cho kì báo cáo
+ Tỷ lệ mất vốn
Tỷ lệ
mất vốn
Dư nợ trung bình cho kì báo cáo
Đối với các khoản nợ có khả năng mất vốn ngân hàng phải sử dụng quĩ dự
phòng bù đắp rủi ro để xử lý, đồng thời đưa khoản nợ này ra khỏi bảng tổng kết
tài sản. Tỷ lệ này càng cao thì RRTD đối với ngân hàng càng lớn.
ngân hàng cũng như lượng vốn cần thiết để hạn chế mức độ rủi ro của người gửi
tiền với một xác suất rủi ro nhất định.
Thu nhập
-
Tổn thất dự kiến
RAROC =
Tổn thất ngoài dự kiến
Trong đó:
+ Thu nhập bao gồm: Thu từ tài chính (thu từ chênh lệch lãi suất và các
khoản phí thu trước với các phí thu định kì) và thu từ hoạt động kinh doanh.
+ Tổn thất ngoài dự kiến: Độ lệch chuẩn trong phân bổ tổn thất
+ Tổn thất dự kiến (EL)
EL = PD x EAD x LGD
Trong đó:
PD: xác suất khách hàng không trả được nợ
LGD: tỷ trọng tổn thất ước tính
EAD: tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng
Chúng ta sẽ xem xét lần lượt ba chỉ tiêu cấu thành công thức trên:
Thứ nhất, PD - xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các
số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả,
khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được.
Thứ hai, EAD - tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng
không trả được nợ. Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD được xác định không quá
khó khăn.
Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần
doanh cao với rủi ro có thể chấp nhận được.
25