MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................3
1. Lý do lựa chọn đề tài..................................................................................................................3
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................................................3
3. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................................................4
4. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................................................4
5. Bố cục bài báo cáo......................................................................................................................4
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ KINH
DOANH CỦA CÁ NHÂN CƯ TRÚ..........................................................................................................5
1.1. Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân ............................................................................5
1.1.1. Khái niệm..........................................................................................................................5
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của thuế................................................................................................7
1.1.3. Lịch sử hình thành..........................................................................................................10
1.2. Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư
trú.................................................................................................................................................12
1.2.1. Khái niệm .......................................................................................................................12
1.2.2. Đặc điểm của thu nhập từ kinh doanh............................................................................13
1.3. Cá nhân cư trú.......................................................................................................................14
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ KINH
DOANH CỦA CÁ NHÂN CƯ TRÚ........................................................................................................17
2.1. Cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán......................................................17
2.1.1. Nguyên tắc áp dụng thuế khoán.....................................................................................17
2.1.2. Căn cứ tính thuế.............................................................................................................18
2.2. Cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh.........................................................19
2.2.1. Nguyên tắc áp dụng........................................................................................................19
2.2.2. Căn cứ tính thuế.............................................................................................................20
2.3. Cá nhân nộp thuế từ việc cho thuê tài sản............................................................................22
2.3.1. Nguyên tắc áp dụng........................................................................................................22
2.3.2. Căn cứ tính thuế ............................................................................................................24
2015, và nó vẫn đang là một vấn đề nóng được toàn xã hội quan tâm.
Thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế trực thu có vai trò hết sức quan trọng.
Nó đã ra đời tương đối sớm ở các nước phát triển và ngày nay thì phát triển rộng rãi
ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Sự phát triển của nó đồng hành với sự phát triển
của nền kinh tế và ngày càng khằng định được vai trò, chức năng là một nguồn thu
quan trong trong ngân sách nhà nước và là công cụ góp phần đảm bảo công bằng xã
hội một cách đắc lực. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn chỉnh pháp lệnh thuế
thu nhập cá nhân, đồng thời sớm xây dựng thành Luật thuế thu nhập cá nhân là một
việc làm cần thiết từ bây giờ.
Bởi vậy, mong muốn được tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về thuế, đặc biệt là
về thuế thu nhập các nhân, em đã chọn đề tài: “Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân
đối với thu nhập từ kinh doanh của cá nhân cư trú” để làm luận văn tốt nghiệp cho
mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Với mục tiêu khái quát lại các vấn đề liên quan đến Luật thuế thuế thu nhâp cá
nhân mà em đã được học, cũng như tìm hiểu thêm về thuế thu nhâp cá nhân đối với
cá nhân cư trú từ khi Luật thuế thuế thu nhâp cá nhân có hiệu lực, những khó khăn,
tồn tại chủ quan lẫn khách quan mà các cơ quan quản lí thuế gặp phải, qua đó có
một số đề xuất nhằm tìm ra những tồn tại và nguyên nhân trong Luật thuế thu nhâp
cá nhân.
3. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu là phương
pháp phân tích và tổng hợp, các phương pháp định tính dựa trên cơ sở nguồn dữ liệu
thứ cấp thu thập từ tài liệu tạp chí chuyên ngành và báo cáo thống kê chuyên ngành
tài chính, thuế.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài từ khi Luật thuế thu nhâp cá nhân có hiệu lực
ngày 01/01/2014.
kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước"1.
Các nhà nguyên cứu kinh tế khác cho rằng “Thuế là hình thức phân phối thu nhập
tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị,
tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn
lại”.
Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử xã hội loài
người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình
thành và phát triển của nhà nước. Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện
các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ
1
Nguồn: History of Taxation- www.tax.org
tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải
xã hội để có được nguồn vật chất đó. Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này
chính là thuế.
Từ sự phân tích khái quát đó có thể cho thấy, thuế là một khoản thu của ngân
sách nhà nước mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp
luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã
hội.
Căn cứ theo đối tượng đánh thuế, nghĩa là thuế đánh trên cái gì, thuế được chia
thành:
Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp …
Thuế tài sản như thuế sử dụng tài sản nhà nước (thuế sử dụng đất nông nghiệp,
thuế tài nguyên …), thuế chuyển nhượng tài sản ( thuế chuyển giao quyền sử dụng
đất, thuê mua, bán các tài sản như nhà, xe cộ …).
Thuế tiêu dùng đánh vào hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong
nước và xuất nhập khẩu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…
Căn cứ theo tính chất chuyển giao của thuế thì thuế được chia thành hai loại là
một sắc thuế độc lập. Ở Pháp, thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1961, Liên Xô năm
1922,Hàn Quốc năm 1974 và cho đến nay theo thống kê của ERNST& YOUNG tại
“the global Excutive” hiện nay thế giới có khoảng 180 nước áp dụng thuế thu nhập
cá nhân.
Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh
doanh và cá nhân không kinh doanh. Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có
lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác
định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của thuế
Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân
2
Nguồn: Giáo trình quản lý thuế-ĐHKTQD, trang 105
Một là, Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức động viên mang tính bắt buộc
trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế thu nhập cá nhân
gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước.
Hai là, Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp
cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp
thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp.
Ba là, Thuế thu nhập cá nhân luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc
gia. Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế thu nhập cá nhân với một số
chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…).
Bốn là, Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu. Do vậy, người nộp thuế cũng
là người chịu thuế.
Năm là, Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân
có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường
xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được
từng phần, thuế thu nhập cá nhân đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo
công bằng trong xã hội.
Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.
Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến
tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó cầu
hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất.
Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ
việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của
pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, hối lộ, buôn bán hàng
quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân...
Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia. Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi
trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế thu
nhập cá nhân.
Đối với hệ thống thuế
Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có
nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người
giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo
và đều phải chịu thuế như nhau. Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp
luỹ tiến sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này
Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu
nhập cá nhân. Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau.
Thuế thu nhập cá nhân còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh
nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá
nhân, trong đó, khoản chi tiền lương, tiền công cho cá nhân là thu nhập chịu thuế từ
tiền lương, tiền công. Các khoản chi đóng góp vào Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế cho cá nhân: do doanh nghiệp đã được hạch toán vào chi phí và cũng được trừ
khỏi thu nhập tính thuế của doanh nghiệp nên về nguyên tắc, khi cá nhân nhận được
thu nhập do các Quỹ này chi trả như tiền lương hưu, trợ cấp thay lương do ốm đâu,
thai sản...phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào chính sách điều
tiết của từng nước, việc xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập này có khác nhau:
một số nước đưa vào diện thu nhập chịu thuế, có nước cho trừ một mức nhất định
trước khi tính thuế, cá biệt cũng có nước không thu thuế thu nhập cá nhân với khoản
thu nhập này.
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập
đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high – Income earner) và đã được ủy
ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng
giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 06 lần sửa đổi,
bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào
ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần
thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001( có hiệu lực thi hành
từ ngày 1/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-
UBTVQH11 ban hàng năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 đến nay). Hiện
nay việc thực hiện các quy định của pháp lệnh số 14 này được hướng dẫn bởi thông
tư 81/2004/TT-BTC và thông tư số 12/2005/TT-BTC.
Để nâng cao hơn nữa tính chất quan trọng và phải có các biện pháp chế tài đủ
mạnh để việc thực hiện thu thuế TNCN được đi vào ổn định, có hiệu quả, công
bằng, tại kỳ họp Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số 04/2007/QH12 – Luật thuế
thu nhập cá nhân. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/2009.
Tại thời điểm người viết bài này thì chính phủ đang trình dự thảo nghị định quy định
chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập cá nhân. Sau khi có Nghị định của Chính phủ
hướng dẫn thi hành thì sẽ có thể có các Thông tư của Bộ tài chính hướng dẫn chi tiết
nhân đó từ sản phẩm nhằm mục đính sinh lời, đồng thời là chỉ tiêu phản ánh tình
hình phân phối thu nhập của cá nhân đó.
1.2.2. Đặc điểm của thu nhập từ kinh doanh
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh được xác định bằng doanh thu trừ các khoản
chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong kỳ
tính thuế.
Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng
hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ.
Thời điểm xác định doanh thu là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu
hàng hoá, hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng
dịch vụ.
Chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh doanh trong
kỳ tính thuế bao gồm:
Tiền lương, tiền công, các khoản thù lao và các chi phí khác trả cho người lao
động;
Chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, năng lượng, hàng hoá sử dụng vào sản
xuất, kinh doanh, chi phí dịch vụ mua ngoài;
Chi phí khấu hao, duy tu, bảo dưỡng tài sản cố định sử dụng vào sản xuất, kinh
doanh;
Chi trả lãi tiền vay;
Chi phí quản lý;
Các khoản thuế, phí và lệ phí phải nộp theo quy định của pháp luật được tính
vào chi phí;
Các khoản chi phí khác liên quan đến việc tạo ra thu nhập.
Việc xác định doanh thu, chi phí dựa trên cơ sở định mức, tiêu chuẩn, chế độ
và chứng từ, sổ kế toán theo quy định của pháp luật.
Trường hợp nhiều người cùng tham gia kinh doanh trong một đăng ký kinh
Đối với người nước ngoài: nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong
Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm
quyền thuộc Bộ Công an cấp.
Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời
hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:
Cá nhân chưa hoặc không có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại điểm b.1,
khoản 1, Điều này nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ
183 ngày trở lên trong năm tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả
trường hợp thuê nhà ở nhiều nơi.
+ Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ,
nhà trọ, ở nơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,… không phân biệt cá nhân tự thuê hay
người sử dụng lao động thuê cho người lao động.
Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại
khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà
cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là
cá nhân cư trú tại Việt Nam.
Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy
chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết
Hiệp định thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá
nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.
Như vậy, một cá nhân không phân biệt nguồn gốc quốc tịch nếu đáp ứng các
điều kiện trên là đối tượng cư trú để xác định nghĩa vụ thuế tại Việt nam. Cá nhân kê
khai thu nhập phát sinh tại Việt nam và thu nhập phát sinh ngoài Việt nam.
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI
VỚI THU NHẬP TỪ KINH DOANH CỦA CÁ NHÂN CƯ TRÚ
2.1. Cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán
doanh như: địa điểm giao dịch, cửa hàng, cửa hiệu, nhà xưởng, nhà kho, bến, bãi, …
b) Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh thì mức doanh
thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị
gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là tổng doanh thu từ kinh doanh
trong năm dương lịch.
Ví dụ 4: Năm 2015, Ông Nam phát sinh doanh thu từ 01 hợp đồng với Công ty
Duy Anh với giá trị hợp đồng trong năm là 40 triệu đồng và 01 hợp đồng với Công
ty Tú Minh với giá trị hợp đồng trong năm là 50 triệu đồng. Tổng giá trị hai hợp
đồng trong năm là 90 triệu đồng (100 triệu). Như vậy, ông Nam phải nộp thuế giá trị gia tăng, phải nộp thuế thu
nhập cá nhân đối với doanh thu phát sinh của cả 03 hợp đồng nêu trên là 110 triệu
đồng.
2.2.2. Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế đối với cá nhân nộp thuế theo từng lần phát sinh là doanh thu
tính thuế và tỷ lệ thuế tính trên doanh thu.
2.2.2.1. Doanh thu tính thuế
Doanh thu tính thuế là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu
thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ
được xác định theo hợp đồng bán hàng, gia công, hoa hồng, dịch vụ bao gồm cả
khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội; các khoản bồi thường, phạt vi phạm hợp đồng (đối
với doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân) mà cá nhân kinh doanh được hưởng
không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Doanh thu tính thuế trong
một số trường hợp như sau:
Doanh thu tính thuế đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp được xác
Đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền
sử dụng hàng hóa hoặc thời điểm lập hóa đơn bán hàng nếu thời điểm lập hoá đơn
trước thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá.
Đối với hoạt động vận tải, cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung
ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ nếu thời
điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ trước thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch
vụ.
Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công
trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành.
2.3. Cá nhân nộp thuế từ việc cho thuê tài sản
2.3.1. Nguyên tắc áp dụng
Thông tư 119/2015/TT-BTC tại Điều 1, Khoản 7 Sửa đổi, bổ sung Điều 22
Thông tư 156/2014/TT-BTC như sau:
Hộ gia đình, cá nhân có tài sản cho thuê thuộc đối tượng phải khai, nộp thuế
GTGT, thuế TNCN và nộp thuế môn bài theo thông báo của cơ quan thuế.
Riêng đối với hộ gia đình, cá nhân có tài sản cho thuê mà tổng số tiền cho thuê
trong năm thu được từ một trăm triệu đồng trở xuống hoặc tổng số tiền cho thuê
trung bình một tháng trong năm từ 8,4 triệu đồng trở xuống thì không phải khai, nộp
thuế GTGT, thuế TNCN và cơ quan thuế không thực hiện cấp hóa đơn lẻ đối với
trường hợp này.
Theo quy định trên thì đối với cá nhân có tài sản cho thuê thuộc đối tượng chịu
thuế GTGT, thuế TNCN là những đối tượng sau:
Tổng số tiền cho thuê trong năm thu được từ một trăm triệu đồng trở xuống;
Hoặc tổng số tiền cho thuê trung bình một tháng trong năm từ 8,4 triệu đồng
trở xuống.
Tuy nhiên nếu cá nhân cho thuê tài sản trong một vài tháng, mỗi tháng trên 8,4
triệu đồng nhưng tổng số tiền cho thuê trong năm vẫn dưới 100 triệu thì có chịu thuế
GTGT, thuế TNCN không? Thông tư 92/2015/TT-BTC tại Điều 1, Khoản 1 quy
thuế tính trên doanh thu. Doanh thu tính thuế đối với hoạt động cho thuê tài sản
được xác định như sau: Doanh thu tính thuế GTGT đối với hoạt động cho thuê tài
sản là doanh thu bao gồm thuế của số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê
và các khoản thu khác không bao gồm khoản tiền phạt, bồi thường mà bên cho thuê
nhận được theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê. Doanh thu tính thuế TNCN đối với
hoạt động cho thuê tài sản là doanh thu bao gồm thuế của số tiền bên thuê trả từng
kỳ theo hợp đồng thuê và các khoản thu khác bao gồm khoản tiền phạt, bồi thường
mà bên cho thuê nhận được theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê. Trường hợp bên thuê
trả tiền thuê tài sản trước cho nhiều năm thì doanh thu tính thuế GTGT và thuế
TNCN xác định theo doanh thu trả tiền một lần.
Tỷ lệ thuế GTGT đối với hoạt động cho thuê tài sản là 5%; Tỷ lệ thuế TNCN
đối với hoạt động cho thuê tài sản là 5%. Thời điểm xác định doanh thu tính thuế là
thời điểm bắt đầu của từng kỳ hạn thanh toán trên hợp đồng thuê tài sản.
2.4. Thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân, hộ kinh doanh làm đại lý xổ số,
đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp
2.4.1. Nguyên tắc áp dụng
Cá nhân trực tiếp ký hợp đồng làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa
cấp là cá nhân trực tiếp ký hợp đồng với công ty xổ số kiến thiết, doanh nghiệp bảo
hiểm, doanh nghiệp bán hàng đa cấp theo hình thức đại lý bán đúng giá. Đối với cá
nhân trực tiếp ký hợp đồng làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa cấp thì
mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp
thuế thu nhập cá nhân là tổng số tiền hoa hồng của đại lý, các khoản thưởng dưới
mọi hình thức, các khoản hỗ trợ và các khoản thu khác mà cá nhân nhận được trong
năm dương lịch.
2.4.2. Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế đối với cá nhân làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, bán hàng đa
cấp là doanh thu tính thuế và tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân tính trên doanh thu. Doanh
thu tính thuế là doanh thu bao gồm thuế của tổng số tiền hoa hồng, các khoản