Thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ AN THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thị Giang Thu
HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Nguyễn Thị An

MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
5
1.1.
Một số vấn đề lý luận về thuế thu nhập cá nhân
5
1.1.1.
Khái niệm thuế thu nhập cá nhân
5
1.1.2.
Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân
7
1.1.3.
Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
8
1.2.
Những quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân
12
1.2.1.
Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân
12
1.2.2.
Nội dung của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân
15


48
2.3.1.
Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện Luật thuế thu
nhập cá nhân
48
2.3.2.
Hạn chế của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân
49
2.4.
Một số đánh giá về kết quả triển khai thực hiện luật thuế thu
nhập cá nhân
53
2.4.1.
Về mặt thuận lợi
53
2.4.2.
Về mặt khó khăn
55

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP
LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NGÃI
58
3.1.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
thuế thu nhập cá nhân
58
3.2.
Định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thuế thu
nhập cá nhân

1.1
Biểu thuế lũy tiến từng phần
25
1.2
Biểu thuế toàn phần
26
2.1
Số người có thu nhập từ tiền công tiền lương phải nộp thuế
37

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Biểu đồ tổng số lao động và mã số thuế đã cấp đến năm 2012
36
2.2
Biểu đồ tỷ lệ số người nộp thuế ở bậc 1, bậc 2 với số thuế
đã nộp
38
2.3
Biểu đồ số thuế thu nhập cá nhân thu được bổ sung điều
tiết đối với các khoản thu nhập
39
2.4
Đồ thị tổng thuế thu nhập cá nhân của tỉnh Quảng Ngãi
huy động nguồn lực cho ngân sách nhà nước trong 3 năm
41

sinh sống ở nước ngoài ngày càng tăng. Cùng với sự phát triển nền kinh tế thị
trường, sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong xã hội sẽ làm
cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng
lớn. Việc nhà nước ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân đã góp phần đảm
bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và thu hẹp
khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời nhà nước sẽ nắm
bắt được thông tin về thu nhập cá nhân. Thông qua đó, vừa thực hiện động
viên nguồn lực cho ngân sách nhà nước, vừa góp phần phòng chống tham
nhũng, lãng phí. Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế mới ở Việt Nam
vì thế trong quá trình ban hành và triển khai thực hiện bất cập và vướng mắc
là điều khó có thể tránh khỏi.
Để thực hiện Luật thuế có hiệu quả, việc nghiên cứu thực tiễn thực
hiện Luật thuế thu nhập cá nhân trên cơ sở phân tích khó khăn, vướng mắc để

8
đưa các ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về
thuế thu nhập cá nhân là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những yêu cầu lý luận
và thực tiễn, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu "Thực tiễn thực hiện pháp
luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi" làm luận văn
tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã có một số công trình khoa học, bài viết nghiên cứu, tìm
hiểu về thuế thu nhập cá nhân như: "Thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm
quốc tế và việc thực thi ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ ngành kinh tế chính trị
của Phạm Thị Phương Mai, 2008; "Kiểm soát thuế thu nhập cá nhân đối với
thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các tổ chức chi trả thu nhập do cục thuế
Thành phố Đà Nẵng thực hiện", Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của Bùi
Công Phương, 2011; "Thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân tại chi cục
thuế quận 2", Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành luật kinh tế của Lê Phương
Thảo, 2010 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên hoàn thành từ năm

cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đây là những quy định chủ yếu
điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thuế thu nhập cá nhân . Luận văn cũng
nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi, đây là cơ sở để đánh giá tính hiệu quả, sự tác động của Luật
thuế thu nhập cá nhân thời gian qua và kết quả thu được sau quá trình thực
hiện luật thuế trên thực tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
thuế thu nhập cá nhân .

10
- Phương pháp nghiên cứu đề tài: Trên cơ sở phương pháp luận duy
vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê. Đồng thời tác giả cũng sử dụng nguồn thông tin
dự liệu từ nhiều nguồn như: từ các khảo sát, nghiên cứu khoa học về thuế thu
nhập cá nhân của các nhà nghiên cứu, các dự liệu từ Bộ Tài chính, Tổng cục
Thuế, Cục thuế Quảng Ngãi, Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ngãi, các bài báo, tạp chí,
báo điện tử, tài liệu hội thảo liên quan đến vấn đề thuế thu nhập cá nhân .
6. Ý nghĩa của luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu khoa học cụ thể về những quy định của
pháp luật về thuế thu nhập cá nhân và thực tiễn thực hiện tại địa phương cụ thể.
- Đánh giá sự phù hợp của pháp luật đối với hoạt động thực hiện pháp
luật trên thực tế, rút ra những điểm bất cập, khó khăn trong quá trình thực
hiện quy định cụ thể của pháp luật, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể
nhằm nâng cao hiệu quả của Luật này trong thời gian tới, góp phần tăng thu
ngân sách nhà nước, tạo lập công bằng xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:

được hiểu là một loại thuế đánh vào cá nhân có thu nhập, và chỉ cá nhân nào
có thu nhập cao hơn người khác mới phải nộp thuế, còn những cá nhân có thu
nhập thấp hơn không phải nộp thuế. Hiện nay vẫn nhiều người vẫn gọi thuế
thu nhập cá nhân là thuế thu nhập cao, dẫn đến hiểu sai bản chất của loại thuế
này và đánh giá không đúng vai trò của nó.

12
Thu nhập cá nhân trong kinh tế là thuật ngữ đề cập đến các khoản thu
nhập của một cá nhân kiếm được trong một niên độ thời gian nhất định từ tiền
lương, đầu tư và các khoản khác, nó là tổng hợp của tất cả các thu nhập thực
nhận bởi tất cả các cá nhân hoặc hộ gia đình. Còn theo cách hiểu thông
thường thì "thu nhập cá nhân" là khoản thu nhập mà một người có được bằng
hoạt động của mình.
Như vậy, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế mà nhà nước thu trực
tiếp trên thu nhập nhận được của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất
định, thường là một năm hoặc từng lần phát sinh.
Đối với những quốc gia có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường thì thuế thu nhập cá nhân là một sắc thuế có tầm quan trọng trong việc
huy động nguồn thu ngân sách và thực hiện công bằng xã hội.
Thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841), sau đến Nhật
(1887), Đức (1889), Mỹ (1913). Trung Quốc, thuế thu nhập cá nhân ra đời từ
năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành sắc thuế độc lập; Ở Pháp, thuế
thu nhập cá nhân ra đời năm 1961; Liên Xô năm 1922, Hàn Quốc 1974 và cho
đến nay theo thống kê của ERNT&YOUNG tại "the global Excutive" hiện
nay thế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế suất thuế thu nhập cá nhân . Thuế
thu nhập cá nhân trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh
và cá nhân không kinh doanh. Thuế này được coi là sắc thuế đặc biệt vì có lưu
ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc
xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt.
Theo quy định của Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân thì "đối tượng

định này việc bỏ sót đối tượng nộp thuế rất ít xảy ra. Nhà nước dễ dàng quản
lý được thu nhập của dân cư và áp dụng các chính sách thuế phù hợp.

14
- Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế thu
nhập doanh nghiệp ở chỗ thuế thu nhập doanh nghiệp đánh trên khoản thu
doanh nghiệp có được sau khi trừ chi phí phát sinh từ hoạt động doanh nghiệp
còn thuế thu nhập cá nhân thì thu nhập tính thuế là khoản thu của cá nhân
không những được khấu trừ chi phí cuộc sống của đối tượng nộp thuế (tái tạo
sức lao động) mà còn được loại trừ một số khoản thu nhập khác như thu nhập
mang tính trợ cấp xã hội, chi phí nuôi con, nuôi dưỡng cha mẹ già, lưu ý đến
hoàn cảnh của cá nhân có thu nhập nộp thuế thông qua việc xác định miễn,
giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt. Đây là những khoản khấu trừ mang
tính chất nghĩa vụ của người nộp thuế được pháp luật quy định vì các nghĩa
vụ này các chủ thể chỉ thực hiện được khi gắn liền với thu nhập của mỗi cá
nhân. Việc thực hiện quy định này cũng nhằm đảm bảo thực hiện các quy
định pháp luật khác mà nhà nước đã ban hành.
- Góc độ kỹ thuật tính thuế thu nhập cá nhân khá phức tạp, áp dụng
phương pháp lũy tiến bởi diện đánh thuế rất rộng, việc tính thuế gắn liền với
hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể mới đảm bảo được công bằng xã
hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một
khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp hơn khi chưa nộp thuế.
Đây là điều kiện khuyến khích các cá nhân tích cực lao động sản xuất để tăng
thu nhập đồng nghĩa với việc nhà nước tăng nguồn thu từ thuế.
1.1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế trực thu có diện đánh thuế rộng, nên
việc ban hành sắc thuế ảnh hưởng rất lớn đến nhà nước cũng như đối tượng
nộp thuế.
1.1.3.1. Đối với nhà nước
Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân trở thành công cụ vô cùng cần thiết

nhân là không thể phủ nhận.

16
Thứ ba, việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế thu nhập cá nhân
góp phần hoàn thiện, khắc phục nhược điểm của một số chính sách thuế, đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế. Một số thuế gián
thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhiều nhược điểm là
có tính lũy thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi
tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa mọi người không phân biệt giàu nghèo đều
phải chịu một mức thuế như nhau. Việc tính thuế thu nhập cá nhân theo
phương pháp lũy tiến từng phần khắc phục được nhược điểm này.
Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu
nhập doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn
tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế thu nhập cá nhân còn góp phần hạn
chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các
doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh
nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm
giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh
nghiệp thì cá nhân hưởng những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thuế thu nhập
cá nhân đối với thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập doanh
nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế thu nhập doanh nghiệp và
thuế thu nhập cá nhân.
1.1.3.2. Đối với người nộp thuế
Trong xu hướng hiện nay, thu nhập của dân cư có sự chênh lệch
nhau, số đông dân cư có thu nhập thấp nhưng cũng có một số cá nhân có thu
nhập cao, nhất là các cá nhân làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, khu chế xuất, ngành nghề giải trí hoặc cá nhân nước ngoài làm việc
tại Việt Nam. Tuy nhiên chỉ những cá nhân có thu nhập chịu thuế được quy
định trong thuế thu nhập cá nhân mới phải nộp thuế. Đồng thời việc xác định

Thu nhập trước thuế
Thu nhập sau thuế
Dân cư %
GDP %

18
đến nay có hơn 180 nước trên thế giới đã áp dụng Luật thuế thu nhập cá
nhân, tỷ trọng thuế thu nhập chiếm khoảng 13-40% tổng số thu ngân sách
tùy theo quan điểm đánh thuế của từng nước. Chẳng hạn như ở Mỹ, Nhật
Bản, Anh, Pháp, Đức là 30-40%; Các nước trong khối ASEAN như Thái
Lan, Malaysia, Philippines chiếm khoảng 13-14% [51]. Ở Việt Nam
thuế thu nhập cá nhân ra đời muộn và nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân
chiếm khoảng 3-7% tổng thu ngân sách [28]. Tuy là nguồn thu không lớn,
nhưng đây cũng là nguồn thu quan trọng để nhà nước sử dụng tái đầu tư
vào các công trình như điện, đường, trường, trạm và các hoạt động xã hội
cũng như xây dựng an ninh quốc phòng góp phần nâng cao đời sống của
bản thân người nộp thuế nói riêng và toàn thể nhân dân nói chung đặc biệt
trong giai đoạn nền kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn như
hiện nay.
Tuy nhiên, thuế thu nhập cá nhân là sắc thuế đánh trực tiếp trên thu
nhập cá nhân nên ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoàn cảnh gia đình
của người nộp thuế. Hơn nữa việc xác định thu nhập chịu thuế hiện nay rất
khó nhất là đối với những thu nhập từ ngành, nghề tự do, vì vậy chưa đảm
bảo được nhu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế, chưa đáp ứng
được công bằng xã hội, tạo tâm lý phân bua trong một số bộ phận người
nộp thuế.
1.2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.2.1. Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu ban hành Luật thuế thu nhập
cá nhân
Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân ở

hiện hành trong nước nhằm đạt hiệu quả thi hành luật cao. Tuy nhiên, do nhu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam

20
tham gia hoặc ký kết, các chính sách thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân
nói riêng cũng phải tính đến sự phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ tư, đảm bảo huy động nguồn lực để nhà nước giải quyết tốt hơn
các vấn đề xã hội. Thuế là công cụ quan trọng có khả năng tạo nguồn thu cho
ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của nhà nước và
giải quyết các vấn đề xã hội. Nhất là trong điều kiện hiện nay khi vai trò của
nhà nước không chỉ đơn thuần điều chỉnh kinh tế - xã hội bằng các biện pháp
hành chính và ngày càng sử dụng nhiều biện pháp kinh tế để can thiệp và điều
chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội. Đối với thuế thu nhập cá nhân, có hai
cách để đảm bảo tăng mức thu thuế cho ngân sách nhà nước là tăng thuế suất
và mở rộng diện đánh thuế. Trong đó, cách thứ hai đảm bảo tính khả thi và
hiệu quả hơn vì xu hướng mở rộng diện đánh thuế, giảm bớt thuế suất tối đa
hiện nay đang là trào lưu cải cách chung của các nước trên thế giới và đã
được chứng minh qua thực tiễn thành công ở nhiều quốc gia.
1.2.1.2. Yêu cầu của Luật thuế thu nhập cá nhân
Một là, nắm thông tin về thu nhập dân cư, từng bước quản lý tiến tới
kiểm soát thu nhập, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước trong từng thời kỳ. Hiện nay, việc
hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội gặp không ít khó khăn là do
nhiều nguyên nhân, trong đó việc nhà nước chưa có cơ chế hữu hiệu để kiểm
soát thu nhập và nắm thông tin thu nhập dân cư là một trong những nguyên
nhân quan trọng. Việc thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân là một trong
những giải pháp hữu hiệu để nhà nước có thể thể nắm thông tin và tiến tới
kiểm soát thu nhập. Bởi vì, muốn thu thuế thu nhập cá nhân thì nhà nước phải
biết được các khoản thu mà cá nhân có được trong quá trình hoạt động của
mình. Việc kiểm soát thu nhập thông qua chính sách thuế sẽ có hiệu quả hơn

phát sinh thu nhập" và "nơi cư trú".

22
Tiêu thức "nơi cư trú" quy định một cá nhân phải nộp thuế đối với mọi
khoản thu nhập phát sinh từ mọi nơi trên thế giới tại nước mà cá nhân được
xác nhận là cư trú.
Tiêu thức "nguồn phát sinh thu nhập" lại quy định, một cá nhân chỉ
phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Quốc gia phát sinh nguồn thu nhập đó.
Từ trước đến nay, việc tính thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia
trên thế giới chủ yếu dựa vào tiêu thức "nơi cư trú". Bởi vì việc tính thuế thu
nhập cá nhân theo tiêu thức "nguồn phát sinh thu nhập" rất phức tạp đối với
việc xác định thu nhập cá nhân, khoản miễn trừ khi cá nhân đó có nguồn thu
nhập và nơi cư trú ở nhiều quốc gia khác nhau. Dựa vào tiêu thức "nơi cư trú"
việc tính thuế thu nhập cá nhân đơn giản hơn rất nhiều vì dù các khoản thu
nhập đó thường được chuyển về nơi cư trú hoặc thông qua hợp đồng lao
động, vì vậy nhà nước vẫn có thể kiểm soát được thu nhập. Đồng thời các
khoản khấu trừ thông thường phát sinh từ nơi cư trú nên việc tính thuế thu
nhập cá nhân cũng tương đối chính xác đối với những đối tượng này. Tuy
nhiên, trong Luật thuế thu nhập cá nhân của mỗi nước lại có khái niệm khác
nhau về nơi cư trú:
Nhật Bản đưa ra một định nghĩa tương đối phức tạp, trong đó có 3
khái niệm khác nhau là cá nhân cư trú thường xuyên, cá nhân cư trú không
thường xuyên và cá nhân không cư trú, cụ thể là: Cá nhân cư trú thường
xuyên là cá nhân định cư thường xuyên ở Nhật Bản liên tục trong vòng 5 năm;
cá nhân cư trú không thường xuyên là cá nhân không có ý định cư trú thường
xuyên tại Nhật Bản nhưng có nơi cư trú ở Nhật Bản từ 1 năm trở lên nhưng
không quá 5 năm; cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi định cư tại
Nhật Bản và sống tại Nhật Bản ít hơn 1 năm. Các cá nhân nước ngoài đến Nhật
Bản sẽ được coi là có nơi cư trú tại Nhật Bản trừ khi các hợp đồng lao động
hoặc các giấy tờ khác ghi rõ rằng họ sẽ ở lại Nhật Bản ít hơn 1 năm. Các cá nhân

theo hợp đồng thuê có thời hạn [55].

24
Luật thuế thu nhập cá nhân số 26/2012/QH13 đã bổ sung quy định
"thời hạn của hợp đồng thuê nhà để ở trên hợp đồng là 183 ngày trở lên" [60],
nhưng quá trình triển khai vẫn phát sinh bất cập là người Việt Nam có nơi ở
thường trú tại Việt Nam mà đi công tác, học tập, lao động tại nước ngoài từ
183 ngày trở lên, người nước ngoài là đối tượng cư trú tại nước ngoài đến
Việt Nam từ 183 ngày trở lên đều có thể là đối tượng cư trú của 2 nước và là
đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam trên thu nhập toàn cầu.
Mặc dù không dẫn đến tình trạng cá nhân là đối tượng cư trú của 2 nước như
nêu trên bị đánh thuế trùng và không làm tăng thêm số thuế thu được (do đã
được khắc phục bằng việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt
Nam đã tham gia hoặc ký kết), tuy nhiên quy định này vẫn phát sinh thủ tục
hành chính gây phiền hà cho người nộp thuế và phức tạp trong quản lý thu thuế.
1.2.2.2. Thu nhập chịu thuế
Để đánh giá đúng và chính xác tiêu chí của việc ban hành Luật thuế
thu nhập cá nhân mà từng nước áp dụng như: Sắc thuế này có thực sự công
bằng không, thuế này đem lại nguồn thu như thế nào cho ngân sách thì việc
xác định các loại thu nhập chịu thuế là vấn đề mang tính quyết định. Thu nhập
chịu thuế là một khoản thu nhập nằm trong diện chịu thuế thu nhập cá nhân
theo quy định trong chính sách thuế thu nhập cá nhân của từng quốc gia. Để
tính được thuế thu nhập cá nhân mà đối tượng nộp thuế phải nộp, trước tiên
phải xác định được những khoản thu nhập nào là thu nhập chịu thuế và cách
tính thu nhập, sau đó trừ các khoản miễn trừ, khấu trừ (nếu có) cơ quan thuế
xác định được thu nhập tính thuế, áp dụng thuế suất theo quy định sẽ xác định
được số thuế phải nộp.
Thu nhập cá nhân được hiểu là giá trị vật chất cá nhân kiếm được
trong một khoảng thời gian (thường là 01 năm) sau khi đã khấu trừ các chi phí
để tạo ra thu nhập đó.

Trích đoạn Mức giảm trừ gia cảnh chưa phự hợp Thuế thu nhập cỏ nhõn chưa đảm bảo tớnh đơn giản, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, minh bạch Một số quy định về phạm vi, đối tượng chịu thuế trong Luật thuế thu nhập cỏ nhõn chưa bao quỏt được cỏc khoản thu nhập chịu thuế Về mặt thuận lợ Về mặt khú khăn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status