TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KINH TẾ LUẬN VĂN
THẠC SỸ
BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT TÌNH HÌNH
THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
Nha Trang, tháng 6 năm 2010
H
ọc vi
ên th
ực hiện:
PHÙNG NAM
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHÙNG NAM BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT TÌNH HÌNH
THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA Chuyên ngành: Kinh tế thủy sản
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ - NGUYỄN THỊ HIỂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KINH TẾ LUẬN VĂN
THẠC SỸ
BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT TÌNH HÌNH
THU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA Chuyên ngành: Kinh tế
Mã số: 60 31 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ - NGUYỄN THỊ HIỂN
Nha Trang - Năm 2012 -1-
LỜI CAM
ĐOAN
-2-
LỜI CẢM
ƠN
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hiển đã tận
tình chỉ bảo, góp ý và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ông Huỳnh Sáng, Trưởng phòng Thuế thu nhập
cá nhân; Đội trưởng của các đội thuế thuộc Chi cục thuế thành phố Nha Trang, thành
phố Cam Ranh, thị xã Ninh Hòa, huyện Vạn Ninh đã nhiệt tình quan tâm, động viên và
hỗ trợ, cung cấp cho tôi nhiều số liệu rất hữu ích trong suốt quá trình thực hiện luận văn
này. Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô, những người đã tận tình truyền
đạt kiến thức cho tôi trong thời gian học lớp cao học vừa qua./.
Trang phụ bìa Trang
LỜI CAM
ĐOAN
1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC CÁC BẢNG 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 10
LỜI MỞ ĐẦU 11
CHƯƠNG 1 – LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 15
1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 16
1.2. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân 18
1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 19
1.3.1. Đối với nền kinh tế - xã hội 19
1.3.2. Đối với hệ thống thuế 20
1.4. Giới thiệu khái quát về Luật thuế thu nhập cá nhân 21
1.5. Một số nét so sánh giữa Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao với Luật thuế thu nhập cá nhân 27
1.5.1. Về chính sách: 27
1.5.2. Về phạm vi áp dụng: 28
1.5.3. Các khoản thu nhập không chịu thuế: 30
1.5.4. Về căn cứ tính thuế: 33
1.6. Khái quát về công tác quản lý thuế 35
1.6.1. Khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân 35
1.6.2. Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 35
1.6.2.1. Quản lý các đối tượng nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu
trừ theo quy định 36
1.6.2.2. Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế 41
1.6.2.3. Công tác đào tạo cán bộ công chức trong quản lý thuế 42
2.6.1. Những thành tựu đạt được 87
2.6.2. Những hạn chế và nguyên nhân 88
2.6.2.1. Những hạn chế 88 -5-
2.6.2.2. Nguyên nhân: 92
2.7. Những vướng mắc trong việc thực hiện triển khai Luật thuế TNCN tại
Khánh Hòa 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2. 96
CHƯƠNG 3 – BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TÌNH HÌNH THU THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA 97
3.1. Đề xuất với cơ quan Thuế tỉnh Khánh Hòa 97
3.1.1. Giám sát chặt chẽ thực hiện cơ chế khấu trừ tại nguồn 97
3.1.2. Đăng ký mã số thuế cho tất cả các đối tượng lao động 97
3.1.3. Tự kê khai và thực hiện quyết toán thuế cho từng đối tượng nộp thuế
98
3.1.4. Tăng cường thanh tra và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm thuế
thu nhập cá nhân 98
3.1.5. Đào tạo năng lực và phẩm chất cho đội ngũ cán bộ thuế 99
3.1.6. Về nhân sự 101
3.1.7. Về công tác kiểm tra kiểm soát 101
3.1.8. Hướng dẫn, tuyên truyền, hoàn thuế 102
3.1.9. Quản lý lĩnh vực khó thu 103
3.1.10. Cải thiện cơ sở vật chất của ngành thuế 104
3.2. Những kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước. 104
3.2.1. Cải cách chính sách tiền lương 105
3.2.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức thuế 106
3.2.3. Tăng cường triển khai thu thuế thu nhập cá nhân thông qua hệ thống
-7-
-8- DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Biểu thuế lũy tiến từng phần 26
Bảng 1.2 Biểu thuế lũy tiến toàn phần 27
Bảng 2.1
Dân số và thu NSNN tỉnh Khánh Hòa từ năm 2009
đến năm 2011.
53
Bảng 2.2
Diện tích và dân số của các huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh Khánh Hòa
54
Bảng 2.3
Tình hình thu NSNN của các huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh Khánh Hòa qua các năm
năm 2011
84
Bảng PL 3.1 Biểu thuế suất thu nhập cá nhân nước Anh 155
Bảng PL 3.2 Biểu thuế suất thu nhập cá nhân ở Mỹ 156
Bảng PL 3.3 Biểu thuế suất thu nhập cá nhân ở Thái Lan 158
Bảng PL 3.4 Biểu thuế suất thu nhập cá nhân ở Singapore 159
Bảng PL 3.5 Biểu thuế suất thu nhập cá nhân của Ấn độ 160
Bảng PL 3.6 Biểu thuế suất thu nhập cá nhân của Canada 160
Bảng PL 3.7 Biểu thuế suất thu nhập cá nhân của Malaysia 160
Bảng PL 3.8 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân của các nước 162
Bảng PL 3.9 Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của các nước 163
Bảng PL 3.10 Thu nhập không chịu thuế thu nhập cá nhân của các nước 165
Bảng PL 3.11 Biểu thuế lũy tiến từng phần của các nước 171
Bảng PL 3.12
Thu nhập chịu thuế áp dụng khấu trừ thuế tại nơi trả thu
nhập
172
-10-
bàn tỉnh Khánh Hòa năm 2011
85
-11-
LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết phải nghiên cứu:
Trong bất kỳ một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện
Tuy nhiên, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng nên giảm dần tới mức tương
ứng với các nước trong khu vực nhằm khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, chính phủ đã có những biện pháp đối với thuế thu nhập cá nhân (thuế TNCN)
nhằm tạo thêm nguồn thu cho ngân sách từ loại thuế này.
Ở nước ta hiện nay, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng
còn nhiều hạn chế kể từ việc ban hành pháp luật thuế đến tổ chức thực hiện cũng như
thanh tra thuế. Chính vì thế, công tác quản lý TNCN ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh
Khánh Hòa nói riêng cần phải được hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu trong xu
thế hội nhập và phát triển nhanh chóng hiện nay.
Với những lập luận như trên, tôi đã chọn đề tài “Biện pháp kiểm soát việc thu
thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”. Qua đó xin được nêu ra thực
trạng thu thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa trong những năm qua và đưa ra
những giải pháp đề xuất của bản thân để có thể đóng góp một phần công sức nhỏ của
mình vào quá trình quản lý thu thuế TNCN tại tỉnh nhà.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ thực tế của Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng,
trên giác độ quản lý để góp phần tìm các biện pháp nhằm quản lý tốt nhất nguồn thu
và chống thất thu thuế thu nhập cá nhân làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
nói chung và ngân sách tỉnh Khánh Hòa nói riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn này chủ yếu tập trung nghiên cứu về công tác
quản lý thu thuế thu nhập cá nhân. -13-
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa từ năm
2009 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
đặc biệt là những đơn vị quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hiểu rõ hơn về
Luật thuế thu nhập cá nhân và cách quản lý thu thuế thu nhập cá nhân, từ đó, có thể
tìm ra những giải pháp phù hợp để quản lý tốt việc thu thuế thu nhập cá nhân làm
tăng nguồn thu cho ngân sách tỉnh nhà và đảm bảo công bằng xã hội. Ý nghĩa thực
tiễn được nghiên cứu của đề tài có thể được mở rộng trên phạm vi toàn quốc để tìm
ra nhiều hơn nữa những giải pháp nhằm khơi tăng nguồn thu cho ngân sách nhà
nước, đảm bảo thực hiện công bằng xã hội.
7. Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết về công tác quản lý thuế thu nhập cá
nhân.
- Làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn
tỉnh Khánh Hòa.
- Đề xuất các biện pháp nhằm kiểm soát tình hình thu thuế thu nhập cá nhân
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, đề tài bao gồm
3 chương:
Chương 1: Lý luận tổng quan về thuế thu nhập cá nhân.
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn
tỉnh Khánh Hòa.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý tình hình thu thuế thu nhập cá nhân
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước. Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu
phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng được sự công
bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều khẩu ăn theo.
Cách thứ hai được áp dụng ở Pháp, Hà Lan Các chuyên gia cho rằng cách này
công bằng hơn về mặt đạo đức, xã hội nhưng không kịp thời vì mỗi gia đình đều có ít nhất
hai người trở lên. Ðã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập khác nhau, do đó phải -16-
mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải đối chiếu với nơi phát sinh thu
nhập, vì có nhiều phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng cách thứ hai.
Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế thu nhập
cá nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962 và sau đó được cải cách vào
năm 1972.
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã được ủy ban
Thường vụ Quốc hội thông qua. Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn
phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 07 lần sửa đổi, bổ sung Pháp
lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thành Luật thuế thu nhập cá nhân: lần thứ
nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần
thứ 4 vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày
1/7/2001) và lần thứ 6 là pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành
năm 2004 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2004). Để nâng cao hơn nữa tính chất quan trọng và
phải có các biện pháp chế tài đủ mạnh để việc thực hiện thu thuế TNCN được đi vào ổn
định, có hiệu quả, công bằng, tại kỳ họp Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật số
04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 - Luật thuế thu nhập cá nhân. Luật này có hiệu
lực thi hành chính thức từ ngày 01/01/2009.
Hiện nay việc thực hiện các quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân là Nghị định
phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về Thuế khác nhau nhưng chúng ta cũng nhận thấy
những điểm tương đồng sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải
nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định. Thuế mang tính bắt buộc và không mang
tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá. Một phần thuế nộp vào ngân sách Nhà nước được trả về với
người dân một cách gián tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội
và quỹ tiêu dùng khác.
Trên cơ sở những khái niệm về Thuế, chúng ta có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN
theo pháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập
của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào
ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến
khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập
từ kinh doanh, đầu tư,…
(3)
. Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của
các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn
trừ đặc biệt.
Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Anh Quốc vào
năm 1799. Lúc đầu Anh Quốc đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích
trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942, một số
nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như Ðức (1899), Hoa Kỳ (1903), Pháp
(1916). Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm
[1]
Nguồn: Hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện hành, Tác giả- Pts Nguyễn Thị Kim Tuyển, Pts Phan Mỹ Hạnh, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 1998.
[2]
Nguồn: Phát biểu của chủ tịch ủy ban Thuế của chính phủ Nhật bản, trên website
(3)
được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp.
- Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều
gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc
sức khỏe…).
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân
nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và
[4]
Bài "Thuế thu nhập cá nhân ở một số nước trên thế giới" của Huế Hằng (tổng hợp) đăng tại website:
ngày 15/7/2011. -19-
hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập
phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của
thuế TNCN rất cao.
Việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc
điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao,
góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp
ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao.
Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì
việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế.
1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn của điều
kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc ban hành Luật thuế TNCN ở nước ta là hết sức cần
thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt. Là một bộ phận của hệ thống thuế nên thuế TNCN
vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác
không có được.
1.3.1. Đối với nền kinh tế - xã hội
Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực
hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước
không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo
chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời
sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và
chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của
thuế TNCN.
1.3.2. Đối với hệ thống thuế
[5]
Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm
là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một
lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau. Nếu tính
thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược
điểm này.
Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN Giữa
hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế TNCN còn góp phần khắc
phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay
giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những
[5]
Nguồn: Đề tài nghiên cứu Cục thuế TP Hồ Chí Minh. -21-
chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế
thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế
thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh
-22-
các huyện, thị xã, thành phố, tại Văn phòng Cục Thuế và tại các Chi cục Thuế cũng đã thành lập
tổ thường trực giúp việc cho BCĐ; tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại
chúng; tập huấn chính sách thuế cho CBCC thuế, các phòng ban cấp huyện, UBND cấp xã, các
đơn vị chi trả thu nhập từ tiền lương, tiền công ngay từ quý IV/2008 đồng thời chuẩn bị đủ tài
liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền Luật thuế.
Tổ chức kiện toàn sắp xếp bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Văn phòng Cục Thuế
và các Chi cục Thuế tương đối đảm bảo về con người để thực hiện chính sách thuế thu nhập cá
nhân theo nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên:
- Luật thuế thu nhập cá nhân ra đời trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới bị khủng
hoảng trầm trọng đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống kinh tế xã hội Việt Nam nói chung và
tỉnh Khánh Hòa nói riêng. Nhiều chương trình phát triển kinh tế xã hội phải điều chỉnh thay đổi
làm cho chính sách thu thuế cũng thay đổi theo trong đó có chính sách thu thuế thu nhập cá nhân.
- Ngay từ đầu năm 2009 thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính ban hành
Thông tư số 27/2009/TT-BTC ngày 27/02/2009 về việc thực hiện giãn nộp thuế thu nhập cá nhân
cho các đối tượng nộp thuế từ các nguồn thu theo quy định. Sau đó thực hiện Nghị quyết số
32/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ
Tài chính ban hành Thông tư số 160/2009/TT- BTC ngày 16/8/2009 về việc miễn thuế thu nhập
cá nhân 06 tháng đầu năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh, từ thừa kế,
quà tặng,…và miễn thuế đến 31/12/2009 đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn
(bao gồm chuyển nhượng chứng khoán); từ bản quyền; từ chuyển quyền thương mại.
- Mặc dù cơ quan thuế đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền chính sách thuế thu nhập cá
nhận đến với các đơn vị, tổ chức, cá nhân có chi trả thu nhập nhưng nhận thức và trách nhiệm
phối hợp chưa đạt được yêu cầu đề ra thể hiện qua công tác đăng ký cấp mã số thuế cá nhân;
đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc.
- Luật thuế thu nhập cá nhân là một lĩnh vực mới, nhân lực được giao nhiệm vụ chưa có
nhiều kinh nghiệm mà chủ yếu là vừa làm vừa nghiên cứu nên công tác triển khai thực hiện có
hạn chế như chưa nghiên cứu, báo cáo phản ánh kịp thời vướng mắc phát sinh mà chủ yếu phát
[6]
Sự thay đổi này, trước hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập bởi đã là
cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều được đối xử như
nhau, tức là đều chịu thuế TNCN. Thêm vào đó, việc điều tiết thu nhập của cá nhân kinh doanh
theo Luật thuế TNCN thực hiện theo phương pháp luỹ tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp lý thu nhập
dân cư. Điều này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam vì theo quy định trước
đây họ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp
(thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy mô lớn).
Về đối tượng nộp thuế, còn một điểm mới nữa là việc định nghĩa rõ hơn đối tượng cư
trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể cả thu nhập phát
sinh ở Việt Nam và nước ngoài). Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ là cá nhân có mặt ở
Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến
[6]
Luật thuế thu nhập cá nhân, ngày 01 tháng 01 năm 2009, điều 3.