Hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 - Pdf 41

Header Page 1 of 161.
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN TI DNG

HậU QUả PHáP Lý
CủA VIệC HủY HÔN NHÂN TRáI PHáP LUậT
THEO LUậT HÔN NHÂN Và GIA ĐìNH NĂM 2014
Chuyờn ngnh: Lut Dõn s v T tng dõn s
Mó s: 60 38 01 03

TểM TT LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016

Footer Page 1 of 161.


Header Page 2 of 161.
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ ĐÌNH NGHỊ

Phản biện 1: ........................................................................
Phản biện 2: ........................................................................

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi .... giờ ...., ngày ..... tháng ..... năm 2016

1.2.3. Những quy định về hủy hôn nhân trái pháp luật của Việt Nam
giai đoạn 1945 đến năm 1975 ...................................................... 16
1.2.4. Những quy định về hủy hôn nhân trái pháp luật của Việt Nam
giai đoạn từ 1975 đến nay ............................................................ 19
Chương 2: HÔN NHÂN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 ........................................... 24
2.1.
Các trường hợp hôn nhân trái pháp luật ................................ 24
2.1.1. Hôn nhân trái pháp luật do vi phạm độ tuổi kết hôn ................... 24
2.1.2. Hôn nhân trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện....................... 26
2.1.3. Kết hôn khi một hoặc cả hai bên bị mất năng lực hành vi dân sự ... 30
2.1.4. Kết hôn giả tạo ............................................................................. 34
2.1.5. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc
người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn với người đang có
chồng, có vợ ................................................................................. 38

Footer Page 3 of 161.

1


Header Page 4 of 161.
2.1.6.

2.1.7.
2.2.
2.2.1.
2.1.2.
2.2.3.


3.3.2. Một số giải pháp trong tổ chức thi hành, phổ biến và áp dụng
pháp luật ....................................................................................... 71
KẾT LUẬN ............................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 74

Footer Page 4 of 161.

2


Header Page 5 of 161.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân và gia đình là một hiện tượng xã hội. Hiện tượng này tồn
tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Thuở sơ khai,
con người kết hôn với nhau chỉ nhằm mục đích suy trì nòi giống. Nhưng
trải qua quá trình lịch sử lâu dài, con người gắn kết với nhau bởi quan hệ
hôn nhân và quan hệ hôn nhân đã dần được pháp luật bảo vệ. Trong những
quy định của pháp luật có những quy định cụ thể về điều kiện kết hôn,
những trường hợp cấm kết hôn, thủ tục và hình thức kết hôn.
Ngày nay, khi kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì đi kèm với đó
là hoàn cảnh sống thay đổi, tâm lý con người thay đổi và các mối quan hệ
giữa con người với con người cũng thay đổi kéo theo đó dẫn tới những
hành vi trái pháp luật trong đó có hành vi kết hôn trái pháp luật. Việc hình
thành quan hệ hôn nhân trái pháp luật ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống
xã hội, gây ra những hậu quả xấu cho các thành viên trong gia đình, cho
những người xung quanh và để lại nhiều hệ lụy xấu cho xã hội. Trong khi
đó, hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về Hôn nhân và gia
đình nói riêng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế; chưa thể dự liệu cũng như
điều chỉnh một cách toàn diện các trường hợp phát sinh cũng như hậu quả

- Nêu ra những tồn tại, hạn chế, những bất cập của pháp luật hiện
hành những hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo luật
hôn nhân gia đình năm 2014.
- Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để sửa đổi, hoàn thiện những quy
định của pháp luật về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật
3. Tính mới và đóng góp của đề tài
Trong quá khứ đã có một số công trình nghiên cứu khoa học của
những chuyên gia pháp lý, của các bạn học viên, sinh viên viết về vấn đề
hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật. Tuy nhiên, tất cả
những đề tài khoa học đó chủ yếu dựa trên những quy định của Luật hôn
nhân gia đình cũ. Những đề tài khoa học đó chưa cập nhật được hết những
vấn đề mới về lý luận và thực tiễn cũng như chưa đưa ra được những bất
cập cũng như phương hướng hoàn thiện pháp luật về hôn nhân gia đình nói
chung và những quy định về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái
pháp luật nói riêng đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn
cuộc sống.
Luận văn được viết vào thời điểm sau khi Luật hôn nhân gia đình

Footer Page 6 of 161.

4


Header Page 7 of 161.
năm 2014 và Bộ luật dân sự 2015 ra đời và có hiệu lực nên luận văn có thể
đưa ra những điểm mới về lý luận và thực tiễn trong những quy định của
pháp luật về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật, phân
tích và chỉ ra những điểm chưa hợp lý, những bất cập của pháp luật hiện
hành về hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật, đồng thời
đưa ra được một số những kiến nghị mới, có tính cập nhật phù hợp với yêu

Header Page 8 of 161.
điều chỉnh của pháp luật trong việc giải quyết hệ quả của Hôn nhân trái
pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ
CỦA VIỆC HỦY HÔN NHÂN TRÁI PHÁP LUẬT THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về hủy hôn nhân trái pháp luật
1.1.1. Quan niệm về hôn nhân trái pháp luật
Dưới giác độ xã hội học, quan hệ hôn nhân và gia đình là một mối
quan hệ xã hội được xác lập giữa hai chủ thể nam và nữ, quan hệ này tồn
tại và phát triển theo quy luật của tự nhiên nhằm đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của con người. Tuy nhiên, trải qua các thời kỳ lịch sử với
những hình thái kinh tế- xã hội khác nhau, pháp luật nói chung và pháp
luật về hôn nhân và gia đình nói riêng đã ra đời nhằm điều chỉnh những
quan hệ khách quan trong đó có quan hệ hôn nhân và gia đình. Lúc này,
hôn nhân không còn là một mối quan hệ mang tính bản năng nhằm duy
trì nòi giống mà quan hệ hôn nhân và gia đình trở thành một mối quan
hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của giai cấp thống trị nhằm tuân theo ý chí,
bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị. Lúc này xã hội mới bắt
đầu xuất hiện những quan niệm đầu tiên về hôn nhân hợp pháp và hôn
nhân trái pháp luật. Trải qua nhiều thời lỳ lịch sử khác nhau, ở mỗi quan
niệm về hôn nhân trong đó có quan niệm về hôn nhân trái pháp luật cũng
có những thay đổi khác nhau.
Trong xã hội phong kiến, pháp luật thể hiện ý chí của một bộ phận
rất nhỏ trong xã hội đó chính là những người thuộc tầng lớp quan lại, vua
chúa, địa chủ. Họ đề ra những quy định điều chỉnh quan hệ về hôn nhân và
gia đình mà theo họ là hợp lý và những quy định đó trở thành những


điểm, những quy định khác nhau về hôn nhân cũng như hôn nhân trái pháp
luật, nhưng tựu chung lại thì pháp luật ở mỗi quốc gia đều tạo ra một
khuôn khổ pháp lý nhất định, trong khuôn khổ pháp lý đó thì mọi cuộc hôn
nhân trên tinh thần tự nguyện đều được Nhà nước và xã hội tôn trọng và
thừa nhận.
1.1.2. Hệ quả của hôn nhân trái pháp luật

Footer Page 9 of 161.

7


Header Page 10 of 161.
1.1.2.1. Hệ quả pháp lý
Khoản 6, điều 13, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy đinh: Kết
hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết
hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này. Việc kết hôn trái pháp luật tạo
ra nhiều hệ quả khác nhau, trong đó có hệ quả về mặt pháp lý. Hệ quả về
mặt pháp lý của hôn nhân trái pháp luật trước tiên là xâm phạm đến quyền
và lợi ích chính đáng của công dân. Mỗi công dân đều có quyền sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và được pháp luật bảo vệ, vậy
mà hành vi thiết lập nên những cuộc hôn nhân trái pháp luật lại xâm hại
trực tiếp hoặc gián tiếp tới quyền mưu cầu hạnh phúc của công dân. Khi đã
là cuộc hôn nhân trái pháp luật thì đương nhiên không được pháp luật công
nhận và bảo vệ. Mối quan hệ của họ không được coi là quan hệ vợ chồng,
khi việc kết hôn bị hủy thì ai đi đường nấy, tài sản cũng không chia như
trong trường hợp hôn nhân hợp pháp mà tài sản của ai thuộc về người đó,
không có khái niệm tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản
chung của vợ chồng.

Một gia đình được hình thành và tồn tại để thực hiện tốt những chức năng
của nó phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu của hai bên nam nữ, sự
thương yêu, gắn kết và tự nguyện chung sống, thực hiện tốt bổn phận của
mình, phải được thiết lập giữa những chủ thể khác giới có đầy đủ những
tiêu chuẩn về thể lực, sinh lý, tâm lý. Nếu một cuộc hôn nhân mà thiếu đi
những yếu tố đó thì sẽ không thể xây dựng được một gia đình hạnh phúc.
Đó là những thành tố không tốt gây ảnh hưởng đến nhiều mặt khác của đời
sống xã hội, góp phần tạo dựng nên một xã hội không ổn định.
1.3. Những quy định về hủy hôn nhân trái pháp luật của Việt
Nam qua các thời kì lịch sử
1.3.1. Những quy định về hủy hôn nhân trái pháp luật của Việt
Nam thời kì phong kiến
Ở thời kỳ phong kiến, tư tưởng Nho giáo đóng một vai trò chủ đạo
chi phối hầu hết các mối quan hệ cơ bản trong xã hội trong đó có quan hệ
hôn nhân và gia đình. Bởi vậy, hệ thống pháp luật trong thời kỳ phong
kiến cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi tư tưởng Nho giáo nhằm củng cố
địa vị, vị trí của người gia trưởng. Nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực hôn nhân
và gia đình như vấn đề kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa
cha mẹ và con cái.... đã được nhiều văn bản quy phạm pháp luật dưới thời
phong kiến quy định, trong đó không thể không nhắc tới hai bộ luật tiêu

Footer Page 11 of 161.

9


Header Page 12 of 161.
biểu là Bộ Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) được ban hành dưới triều
Lê và Hoàng Việt Luật Lệ (Bộ luật Gia Long) được ban hành dưới triều
Nguyễn. Tuy nhiên các văn bản luật thời kỳ này ít quy định về hủy hôn


10


Header Page 13 of 161.
1.3.4. Những quy định về hủy hôn nhân trái pháp luật của Việt
Nam giai đoạn từ 1975 đến nay
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ra đời. Nhìn chung Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986 đã có sự kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và
gia đình năm 1959. Trong đó Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã nêu
rất rõ ràng những căn cứ để xác định hôn nhân trái pháp luật và hậu quả là
hôn nhân trái pháp luật đó phải bị huỷ bỏ.
Sau hơn 10 năm kể từ khi áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế không phù hợp với thực tiễn, đòi hỏi
cần có sự thay đổi, bổ sung sao cho phù hợp hơn. Từ bối cảnh đó, Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 đã ra đời. Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đáp ứng yêu cầu cao hơn trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và
gia đình trong tình hình mới.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là văn bản quy phạm pháp luật
điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đìnhcó dung lượng lớn nhất từ trước
tới nay với 133 điều luật được chia làm 9 chương. Với dung lượng như
vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có những sự sửa đổi, bổ sung
phù hợp hơn với tình hình mới.
Như vậy, thông qua việc tìm hiểu những quy định về hôn nhân và gia
đình nói chung và vấn đề hôn nhân trái pháp luật nói riêng qua các thời kỳ
lịch sử có thể thấy rằng trải qua hàng trăm năm với nhiều biến cố của lịch
sử, quy định về hôn nhân trái pháp luật cũng có những thay đổi phù hợp
với từng thời kỳ lịch sử. Hiện nay, cùng với sự phát triển của đời sống xã
hội, quan hệ hôn nhân và gia đình trong đó có vấn đề hôn nhân trái pháp
luật đang được điều chỉnh theo hướng văn minh, tiến bộ và được tập trung

yên, ấm no, hạnh phúc. Bên cạnh những cơ sở khoa học, việc quy định độ
tuổi kết hôn còn căn cứ vào những cơ sở về mặt xã hội như phong tục, tập
quán, truyền thống, đạo đức xã hội, tâm lý, quan niệm của người Việt
trong vấn đề hôn nhân và gia đình. Việt Nam chúng ta là một nước phương
Đông chịu ảnh hưởng của Nho giáo, với truyền thống coi trọng gia đình, từ
đó hình thành nên quan niệm “ nữ thập tam, nam thập lục”. Quan niệm
này được hình thành từ rất lâu trong đời sống xã hội. Và hiện nay ở nhiều
miền quê Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn của quan niệm này. Điều

Footer Page 14 of 161.

12


Header Page 15 of 161.
này dẫn đến hiện tượng tảo hôn xảy ra ở nhiều nơi, nhất là nông thôn,
miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bởi thế nên việc quy định độ tuổi hôn nhân
như Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện nay vừa đảm bảo hôn nhân
được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, vừa góp phần quan trọng vào việc
xóa bỏ những quan niệm về hôn nhân còn lạc hậu, cổ hủ.
2.1.2. Hôn nhân trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện
Nguyên tắc tự nguyện là nguyên tắc đầu tiên, quan trọng nhất và
xuyên suốt trong các quan hệ dân sự trong đó có quan hệ hôn nhân và gia
đình. Sự tự nguyện trong quan hệ hôn nhân được hiểu là việc người nam
và nữ tự mình quyết định việc kết hôn và thể hiện sự mong muốn trở thành
vợ chồng của nhau và không phụ thuộc vào ý chí của người khác. Hôn
nhân là một quyền của con người. Hôn nhân không thể duy trì bền vững,
gia đình không thể hạnh phúc nếu không có sự tự nguyện của cả hai bên
nam và nữ.
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là xu thế của cuộc sống hiện đại đồng

Bên cạnh đó, việc Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không cho
phép người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn còn nhằm đảm bảo
quyền và lợi ích chính đáng của những người có liên quan. Bởi vì khi xác
lập quan hệ hôn nhân, hai bên nam, nữ phải thực hiện các quyền và nghĩa
vụ đối với nhau và các nghĩa vụ đối với những người liên quan như cha
mẹ, con cái.
Thêm vào đó, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm
no, hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu như cho phép người bị mất năng lực hành
vi dân sự kết hôn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của những thành
viên khác trong gia đình. Một điều nữa không thể không nói tới đó là dưới
góc độ y học, tâm thần là một loại bệnh có thể di truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Điều này sẽ gây ra sự ảnh hưởng không tốt cho những đứa trẻ
có cha hoặc mẹ bị mất năng lực dân sự. Hơn thế nữa nó còn ảnh hưởng
không tốt cho gia đình và xã hội, gây ra nguy cơ đe dọa chất lượng dân số.
2.1.4. Kết hôn giả tạo
Tại khoản 11, Điều 3, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú,
nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của
Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây
dựng gia đình”. Bên cạnh đó, điểm a, khoản 2, điều 5 của Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014 cũng quy định hôn nhân giả tạo là một trong những hành
vi bị cấm kết hôn. Vì thế, kết hôn giả tạo là hành vi kết hôn trái pháp luật.

Footer Page 16 of 161.

14


Header Page 17 of 161.
Từ định nghĩa kết hôn giả tạo được quy định tại khoản 11, điều 3,

Footer Page 17 of 161.

15


Header Page 18 of 161.
sống như vợ chồng với người khác diễn ra khá nhiều thậm chí ngày càng
gia tăng. Đặc biệt là đối với những người từ tỉnh lẻ di chuyển lên các
thành phố lớn để làm ăn. Do khoảng cách địa lý nên rất khó để gia đình,
người thân và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hiện được hành
vi sống chung như vợ chồng với người khác. Thậm chí, có một số trường
hợp còn giả mạo giấy tờ nhằm qua mặt cơ quan thực thi pháp luật dẫn tới
tình trạng có hai Giấy đăng ký kết hôn với hai người khác nhau. Điều đó
cho thấy hành vi vi phạm điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình diễn ra
ở nhiều nơi với nhiều cách khác nhau và để lại rất nhiều hệ lụy cho bản
thân những người trong cuộc, cho gia đình, và cho xã hội. Trong khi đó,
luật pháp của chúng ta lại chưa có những chế tài đủ mạnh nhằm ngăn
ngừa, thậm chí là răn đe đối với người đang có vợ, có chồng mà kết hôn
hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có
chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có
chồng, có vợ. Điều này vô hình chung làm cho quy định của Luật hôn
nhân và gia đình trở nên hình thức, thiếu tính khả thi. Theo tôi, cần đưa ra
những biện pháp chế tài đủ mạnh để nhằm hạn chế, răn đe đối với hành vi
vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng như phạt hành chính nặng
hơn cho người có hành vi vi phạm.
Như vậy, quy định cấm kết hôn giữa người đang có vợ, có chồng mà
kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ,
chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang
có chồng, có vợ là một trong những trường hợp bị cấm kết hôn theo Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014. Đây cũng là trường hợp cấm kết hôn được

hại. Gene lặn bệnh lý tồn tại dai dẳng trong dòng họ từ thế hệ này qua thế
hệ khác. Nếu cuộc hôn nhân được tiến hành với người khác dòng họ thì
nguy cơ bệnh bộc phát thường không cao. Trái lại, hôn nhân cận huyết
chính là điều kiện thuận lợi cho những gene lặn bệnh lý tương đồng gặp
gỡ nhau, sinh những đứa con bệnh tật hoặc dị dạng di truyền”.
Việc Luật hôn nhân và gia đình quy định như vậy nhằm đảm bảo
tránh gây ra những hệ lụy không tốt cho thế hệ sau, góp phần đảm bảo cho
sự phát triển bình thường và khỏe mạnh của con cái, xây dựng hạnh phúc
gia đình. Mặt khác, dưới góc độ phong tục, tập quán và truyền thống đạo
đức của người dân Việt Nam thì quan hệ tình cảm giữa các thành viên
trong gia đình mà được xây dựng trên cơ sở huyết thống rất là một thứ tình
cảm thiêng liêng, cao đẹp và rất được tôn trọng. Do đó, những quan hệ với
họ hàng trong phạm vi ba đời và với những người có cùng dòng máu về

Footer Page 19 of 161.

17


Header Page 20 of 161.
trực hệ là không được phép và bị coi là “loạn luân”. Bởi thế, việc Luật
hôn nhân và gia đình cấm kết hôn đối với những người có họ trong phạm
vi ba đời và những người có cùng dòng máu về trực hệ vừa là quy định
mang tính khoa học, vừa là quy định phù hợp với phong tục, tập quán và
truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam.
2.1.7. Kết hôn giữa những người cùng giới tính
Về vấn đề hôn nhân giữa những người có cùng giới tính, Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959 chỉ quy định con trai, con gái, được quyền kết
hôn, không nói đến việc quy định kết hôn giữa những người có cùng giới
tính với nhau, cũng không cấm kết hôn giữa những người có cùng giới

hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật đối với quan hệ nhân
thân đó là hai bên nam, nữ “phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng”.
Về nguyên tắc, khi cuộc hôn nhân bị coi là hôn nhân trái pháp luật
thì sẽ không được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Do vậy, từ khi hai bên
nam, nữ bắt đầu quan hệ sống chung như vợ chồng tới thời điểm bị Tòa án
tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật thì hai người chưa phát sinh và tồn tại
quan hệ vợ chồng hợp pháp. Khi Tòa án tuyên bố hủy hôn nhân trái pháp
luật thì quan hệ như vợ chồng giữa hai bên nam, nữ bị buộc phải chấm dứt.
Nếu trước khi bị Tòa án tuyên bố hủy hôn nhân trái pháp luật mà các bên
nam, nữ đã có thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với nhau thì tới khi bị
Tòa án tuyên bố hủy hôn nhân trái pháp luật thì các quyền và nghĩa vụ
giữa hai bên nam, nữ đối với nhau cũng bị chấm dứt.
2.1.2. Hậu quả về tài sản
Khoản 3, điều 12, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo
quy định tại Điều 16 của Luật này”. Và tại điều 16, hôn nhân và gia đình
năm 2014 quy định: “1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam,
nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được
giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa
thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan
để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập”.
Bên cạnh đó, đối với trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật thì vấn đề
cấp dưỡng giữa vợ và chồng cũng không được đặt ra. Bởi vì là kết hôn trái
pháp luật nên cuộc hôn nhân đó không được Nhà nước thừa nhận là vợ
chồng hợp pháp.

Footer Page 21 of 161.

GIẢI QUYẾT HỆ QUẢ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Đường lối xử lý cụ thể các trường hợp kết hôn vi phạm các
điều kiện kết hôn theo luật định
3.1.1. Người có quyền yêu cầu Tòa án hủy hôn nhân trái pháp luật
Từ quy định của pháp luật có thể thấy rằng, so với Luật hôn nhân và

Footer Page 22 of 161.

20


Header Page 23 of 161.
gia đình năm 2000 thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định phạm
vi những người có quyền yêu cầu Tòa án hủy hôn nhân trái pháp luật có
phạm vi rộng hơn rất nhiều. Việc Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy
định mở rộng đối tượng có quyền yêu cầu Tòa án hủy hôn nhân trái pháp
luật là bởi vì việc kết hôn trái pháp luật không chỉ xâm phạm đến quyền và
lợi ích hợp pháp của chính những người tham gia kết hôn trái pháp luật mà
còn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người xung quanh
họ và ảnh hưởng tới lợi ích, tới trật tự xã hội. Nên để bảo vệ quyền và lợi
ích chính đáng của các cá nhân, bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội, Luật
hôn nhân và gia đình đã quy định mở rộng đối tượng có quyền yêu cầu
Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật.
3.1.2. Đường lối xử lý một số trường hợp cụ thể
Nói về phương hướng xử lý hôn nhân trái pháp luật thì điều 11, Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp tại thời điểm
Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên
kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật
này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận

tiến bộ;
- Điều 147: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng;
- Điều 148: Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn;
- Điều 150: Tội loạn luân.

3.3. Một số giải pháp tăng cường hiệu quả điều chỉnh pháp luật
trong việc giải quyết hệ quả kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam hiện nay
3.3.1. Một số giải pháp lập pháp
Thứ nhất: Cần có những quy định cụ thể hơn nữa về trường hợp hôn
nhân trái pháp luật do bị lừa dối
Thứ hai: Cần sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm c, khoản 1, điều 8,
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho hợp lý hơn.
Thứ ba: Pháp luật cần quy định thêm điều kiện bắt buộc đối với
trường hợp một hoặc cả hai bên tham gia kết hôn được sinh ra theo
phương pháp khoa học.
Thứ tư: Cần đưa ra quy định về xác minh quan hệ nhân thân của
người tham gia kết hôn.
Thứ năm: cần có những chế tài xử lý mạnh mẽ hơn đối với những
trường hợp kết hôn trái pháp luật.
3.3.2. Một số giải pháp trong tổ chức thi hành, phổ biến và áp
dụng pháp luật

Footer Page 24 of 161.

22


Header Page 25 of 161.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về Hôn
nhân và gia đình nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status