ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ ANH
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ ANH
XÁC ĐỊNH TÀI SẢN VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Chuyên ngành
: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.1. Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng và xác định tài sản vợ chồng khi ly
hôn..................................................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng ......................................................... 8
1.1.2. Khái niệm xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn ................................... 10
1.2. Ý nghĩa của việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn ....................... 13
1.3. Sơ lược pháp luật Việt Nam về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn
qua các thời kỳ ............................................................................................... 14
1.3.1. Pháp luật phong kiến về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn ............. 14
1.3.2. Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn.15
1.3.3. Pháp luật ở miền Nam trước ngày thống nhất đất nước về xác định tài
sản vợ chồng khi ly hôn (1954 - 1975) ........................................................... 18
1.3.4. Pháp luật của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng tám đến năm 2000 về
xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn............................................................... 19
1.4. Pháp luật một số quốc gia về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn .. 25
1.4.1. Luật của Thái Lan ................................................................................. 25
1.4.2. Luật của Nhật Bản ................................................................................. 26
1.4.3. Luật của Đức ......................................................................................... 27
Chương 2: XÁC ĐỊNH TÀI SẢN VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO
PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG..................................................................................... ......30
2.1. Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng áp
dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận ............................................................ 29
2.1.1. Xác định tài sản vợ chồng dựa vào văn bản thoả thuận về tài sản của vợ
chồng ............................................................................................................... 29
2.1.2. Xác định tài sản của vợ chồng khi thoả thuận về chế độ tài sản không
đầy đủ, rõ ràng................................................................................................. 32
2.2. Xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng áp
dụng chế độ tài sản theo luật định ............................................................... 34
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật dân sự
DLBK
: Dân luật Bắc Kỳ
DLTK
: Dân luật Trung Kỳ
BLTTDS
: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung
năm 2011
GCNQSDĐ
: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
HN&GĐ
: Hôn nhân và gia đình
TAND
: Tòa án nhân dân
trường nên đời sống xã hội cũng như kinh tế của người dân ngày càng được
đảm bảo và nâng cao. Song mặt trái của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến
nhiều người sống buông thả, coi trọng vật chất, tình cảm giữa mọi người với
nhau không còn mặn mà, được coi trọng như trước. Giá trị tài sản lớn và sự
coi trọng vật chất làm những tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong
việc giải quyết ly hôn có tính quyết liệt, căng thẳng hơn.
Đất nước ta bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xã hội Việt Nam
đang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, không chỉ về mặt kinh tế mà
còn cả về mặt văn hóa, xã hội. Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội cũng
không tránh khỏi sự tác động đa chiều đó. Một số quan niệm mới về hôn
nhân, gia đình ở nước ngoài đã du nhập vào Việt Nam và gây ra nhiều hệ lụy
khác nhau. Trong bối cảnh như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã bộc lộ một
số hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến sự ổn định của các quan hệ HN&GĐ.
Nhằm tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho việc xây dựng và
hoàn thiện chế độ HN&GĐ Việt Nam; góp phần xây dựng gia đình Việt Nam
ấm no, tiến bộ và hạnh phúc. Kế thừa và phát triển của Luật HN&GĐ năm
1959, Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp
thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 đã quy định các vấn đề HN&GĐ,
trong đó có vấn đề tài sản của vợ chồng một cách đầy đủ và hợp lý hơn, tạo
thuận lợi cho việc thực hiện và áp dụng giải quyết tranh chấp.
Với những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Xác định tài sản
vợ chồng khi ly hôn theo luật HN&GĐ 2014” làm Luận văn thạc sĩ luật học
của mình.
2
Kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự (Học viện Tư pháp, Nxb Công an nhân dân,
2007); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn
Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2004); Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư Pháp,2008); Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000 (Tác giả Nguyễn Văn Cừ Ngô Thị Hường, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002);…
Trong các cuốn sách trên, xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn đã được
phân tích một cách chung chung, có tính chất tổng quát, có cuốn đi vào phân
tích chuyên sâu và cụ thể nhưng chưa nêu hết được những bất cập, hạn chế
trước những biến đổi của đời sống xã hội có ảnh hưởng tới chế độ tài sản của
vợ chồng.
Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Có thể kể đến một số bài
như Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo
pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành (Nguyễn Hồng Hải, 2003, Tạp chí
Luật học, số 5); Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp
luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam (Bùi Minh Hồng, 2009, Tạp chí Luật
học, số 11);….
Các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể
liên quan đến xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn mà không thể phân tích
toàn diện các khía cạnh của chế định này.
Một điểm chung của cả ba nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là
phần lớn các tác giả thường thiên về việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp
luật quy định về chế độ tài sản của vợ chồng. Một số công trình nghiên cứu,
cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng một số quy định pháp luật, tuy
nhiên, sự liên hệ, phân tích đó chỉ có tính chất minh hoạ cho một số trường hợp
cụ thể mà chưa có sự soi chiếu một cách tổng thể, toàn diện tất cả các khía
cạnh của việc áp dụng quy định về chế độ tài sản của vợ chồng vào thực tiễn.
4
- Tìm hiểu một cách có hệ thống về lịch sử phát triển của việc xác định
tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật ở Việt Nam qua các thời kỳ.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tài sản vợ chồng
và cách xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn.
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về xác định tài sản vợ
chồng khi ly hôn theo pháp luật..... Qua đó, đánh giá về những thành tựu cũng
như những vướng mắc, bất cập của việc áp dụng các nguyên tắc xác định tài
sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật.
- Từ những phân tích nội dung và nghiên cứu thực tiễn áp dụng xác định
tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật, luận văn đề xuất những kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn theo pháp luật
4. Đối tượng nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, Luận văn sẽ phân tích các quy
định của pháp luật hiện hành về cơ sở lý luận và thực tiễn việc xác định tài
sản vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, luận văn tập trung vào một
số vấn đề sau:
- Quy định của pháp luật hiện hành về xác định tài sản vợ chồng khi ly
hôn được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014,
BLDS năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về xác định tài
sản vợ chồng khi ly hôn. Trong đó, tập trung vào một số vấn đề khó khăn,
vướng mắc, điển hình; các trường hợp áp dụng sai luật…; tìm hiểu và nghiên
cứu những ví dụ cụ thể, những bản án thực tế từ đó bình luận và phân tích
6
VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1. Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng và xác định tài sản vợ chồng
khi ly hôn
1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội.
Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Để xây dựng gia đình tốt thì nền
tảng hôn nhân phải bền vững, ngoài việc được hình thành trên cơ sở tự
nguyện, bình đẳng, tiến bộ thì việc tạo lập tài sản là một trong những điều
kiện tất yếu để nuôi sống gia đình, là điều kiện vật chất, cơ sở kinh tế cho hôn
nhân tồn tại bền vững. Vì vậy, các nhà làm luật đã quan tâm xây dựng các quy
định về chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng,
cơ bản nhất của pháp luật hôn nhân và gia đình.
Vợ, chồng với tư cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Tài sản theo nghĩa từ điển
Luật học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng”,
còn theo Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản” [40, Điều 163]. Trước khi kết hôn, tài sản của
mỗi bên nam, nữ thuộc phạm trù tài sản riêng của cá nhân. Chủ sở hữu có
toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình. Chỉ sau khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân, vấn đề tài sản giữa
vợ chồng mới phát sinh, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng được hình
thành. Do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân - tính cộng đồng, hai vợ
8
chồng cùng đóng góp công sức trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình
hoà thuận, hạnh phúc.
chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài
sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng;
nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng” [10].
Đối với tài sản chung, vợ chồng cùng tham gia vào việc tạo lập, duy trì
và phát triển khối tài sản mà họ có quyền sở hữu chung. Trong khi đối với tài
sản riêng, vợ, chồng có sự độc lập trong việc xác lập và thực hiện quyền sở
hữu. Việc quy định chế độ tài sản vợ chồng ở các quốc gia là khác nhau tuỳ
thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội cũng như tập quán, thuần phong, mỹ tục.
Pháp luật hôn HN&GĐ nói chung quy định hai cách thức tương ứng với hai
chế độ tài sản vợ chồng: chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật (chế độ hôn
sản pháp định) và chế độ tài sản vợ chồng theo thoả thuận (chế độ hôn sản
ước định).
1.1.2. Khái niệm xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn
Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt
cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa
vợ. Một ngày cũng nên nghĩa vợ chồng là một quan hệ đẹp đã ăn sâu vào tiềm
thức của người Phương Đông. Mục đích của kết hôn là nhằm xây dựng một gia
đình hạnh phúc, cùng nhau chung sống suốt đời nhưng cuộc sống gia đình
không phải lúc nào cũng “êm đềm”. Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống
vật chất trong gia đình tăng lên, các mối quan hệ của vợ chồng đối với xã hội
ngày càng nhiều, đa dạng và tác động qua lại giữa chúng đã dẫn đến việc nảy
sinh những mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng, hôn nhân đi vào con đường rạn
nứt, đổ vỡ và họ tìm đến con đường giải thoát bằng những cuộc ly hôn.
10
Ly hôn không chỉ làm sứt mẻ đi cuộc sống, tình cảm tâm lý của của các
thành viên trong gia đình, sự ly tán gia đình, vợ chồng, con cái mà còn có sự
tranh giành, hơn thua nhau trong vấn đề phân chia tài sản.
chia tài sản chung như tình trạng tài sản, công sức đóng góp, hoàn cảnh của
các bên…
- Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba
khi ly hôn.
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng ràng buộc lẫn nhau bởi nhiều bổn
phận, trong đó có những bổn phận có ảnh hưởng nhất định đối với quyền hạn
của vợ, chồng trong việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản, thậm chí
có những bổn phận có tác dụng đặt cơ sở cho việc xác định tính chất chung
hay riêng của một tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra. Tất cả các tài sản của vợ,
chồng, dù là của riêng mỗi người hay của chung hai người, đều phải được
khai thác, sử dụng trước hết nhằm bảo đảm sự duy trì và phát triển của gia
đình, thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; nghĩa vụ chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục các con,… sau đó mới phục vụ cho cá nhân chủ sở hữu.
Nhân danh lợi ích của gia đình, vợ hoặc chồng có thể tự mình xác lập, thực
hiện các giao dịch trên tài sản chung và trong một số trường hợp, nghĩa vụ
phát sinh từ các giao dịch ấy có thể ràng buộc cả vợ và chồng một cách liên
đới, nghĩa là khiến cho chồng hoặc vợ, dù không trực tiếp đứng ra giao dịch,
phải có trách nhiệm cùng với vợ hoặc chồng thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản
chung, thậm chí bằng tài sản riêng của mình. Do vậy, tài sản không chỉ gắn
liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ
ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại.
Ví dụ: Các khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác trong thời kỳ
hôn nhân vì nhu cầu của sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học hành,
chữa bệnh và những nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho
12
cuộc sống bình thường của mỗi người trong gia đình; khoản nợ mỗi bên vợ,
chồng vay riêng, sử dụng vào mục đích riêng… Tùy theo từng trường hợp cụ
Thông qua việc xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn thì quan hệ tài sản
được chấm dứt phù hợp với quyền và lợi ích của vợ, chồng và những người
có liên quan. Thông qua sự xem xét, đánh giá, quyết định của một cơ quan
nhà nước có đủ thẩm quyền để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ,
chồng và giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ
giúp tháo gỡ hoặc hạn chế những mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ - chồng, giữa
vợ, chồng với các thành viên khác trong gia đình, giúp họ có đủ niềm tin,
động lực, điều kiện để duy trì, ổn định cuộc sống sau khi ly hôn, giúp con cái
họ có điều kiện phát triển bình thường, được hưởng các quyền lợi vật chất và
sự yêu thương, chăm sóc của bố mẹ. Như vậy, việc xác định tài sản vợ chồng
khi ly hôn là công việc có ý nghĩa quan trọng vừa đảm bảo pháp luật được thi
hành, tăng cường pháp chế trong lĩnh vực hôn nhân gia đình vừa hạn chế
được những mâu thuẫn, bất đồng giữa những con người đã từng có mối quan
hệ thiêng liêng về huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng.
1.3. Sơ lược pháp luật Việt Nam về xác định tài sản vợ chồng khi ly
hôn qua các thời kỳ
1.3.1. Pháp luật phong kiến về xác định tài sản vợ chồng khi ly hôn
Xã hội phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của nho giáo,
trong đó có các quan niệm về HN&GĐ. Các quy định về HN&GĐ chiếm một
vị trí quan trọng trong các văn bản luật. Tuy nhiên, ở thời kỳ này quan hệ gia
đình mang nặng tính chất gia trưởng, quyền uy, phục tùng trong đó người vợ
phụ thuộc tuyệt đối vào người chồng.
14
Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật: Quốc triều hình luật (còn gọi là
Bộ luật Hồng Đức - thời Lê) và Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Bộ luật Gia
Long - thời Nguyễn).
Theo các nhà nghiên cứu, chế độ tài sản của vợ chồng không được
mới là tài sản chung chính thức. Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản riêng
của vợ chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tài sản chung lại được tách
ra để chia theo nguyên tắc của ai thì người đó lấy lại, còn các tài sản chung thì
được chia đôi cho vợ và chồng.
Theo quy định tài Điều 106, 107 Bộ DLBK và Điều 104, 105 Bộ
DLTK thì tài sản chung của vợ và chồng gồm có:
- Các tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản do vợ chồng làm việc mà kiếm ra;
- Lợi tức của toàn bộ tài sản trong gia đình, không phân biệt lợi tức từ
tài sản riêng hay lợi tức từ tài sản chung.
Như vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân
(cả động sản và bất động sản) đều là tài sản chung của vợ chồng. Để phân biệt
được động sản hoặc bất động sản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ
chồng, thì căn cứ vào việc đăng ký hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc
của tài sản đó. Đối với các động sản không được đăng ký và cũng không có
chứng thư xác nhận nguồn gốc thì được suy đoán là tài sản chung của vợ
chồng; nếu bên vợ hoặc chồng cho rằng đó là tài sản riêng của mình thì phải
chứng minh.
Trong trường hợp vợ chồng ly hôn, theo Bộ DLBK và Bộ DLTK thì
khối cộng đồng tài sản sẽ được phân chia. Tuy nhiên, với quan niệm khối
cộng đồng tài sản được gây dựng để cho các con, pháp luật phân biệt hai
trường hợp: Vợ, chồng ly hôn mà có con chung hoặc không có con chung với
nhau. Tùy theo từng trường hợp mà áp dụng nguyên tắc phân chia khác nhau.
16
Khi ly hôn, nếu hai vợ chồng có lập hôn khế thì chia theo các điều
khoản trong hôn khế mà hai vợ chồng đã thỏa thuận, nếu không có hôn khế
thì áp dụng Điều 112 Bộ DLBK và Điều 110 Bộ DLTK xác định như sau:
không đề cập đến vấn đề này. Theo Luật Gia đình thì vấn đề xác định tài sản
vợ chồng chỉ được đặt ra khi một bên vợ hoặc chồng chết trước. Cũng bởi lẽ,
vấn đề ly hôn của vợ chồng không được Luật Gia đình chấp nhận, vì thế Luật
Gia đình không dự liệu việc chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp ly hôn.
Duy nhất một ngoại lệ đã cho phép tổng thống có quyền cho đôi vợ chồng được
ly hôn, sau khi đã hỏi ý kiến Chánh án tòa phá án và Chánh nhất tòa thượng
thẩm, nơi cư trú của vợ chồng và sau khi nghe tộc trưởng hai bên cùng ý kiến,
nguyện vọng của hai vợ chồng (Điều 55). Nếu tổng thống cho phép vợ chồng
được ly hôn, khi đó vấn đề phân chia tài sản của vợ chồng mới được giải quyết.
Toàn bộ tài sản của vợ chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc được tạo dựng
trong thời kỳ hôn nhân, đều là tài sản chung của vợ chồng.
Sắc luật số 15/64 không dự liệu việc chia tài sản chung của vợ chồng
khi một bên vợ, chồng chết trước mà chỉ dự liệu việc chia tài sản chung của
vợ chồng khi vợ chồng ly thân hoặc ly hôn. Đối với BLDS thì việc xác định
tài sản được đặt ra trong cả ba trường hợp: Khi vợ, chồng chết; khi vợ chồng
ly thân hoặc ly hôn. Bên cạnh khối tài sản chung, Sắc luật số 15/64 (Điều 55)
và BLDS năm 1972 (Điều 152) ghi nhận việc vợ chồng có khối tài sản riêng,
bao gồm:
- Những bất động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi
kết hôn (tức là các bất động sản mà vợ hay chồng đã có từ trước khi kết hôn);
- Những bất động sản mà mỗi bên vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn
nhân do được tặng cho riêng hoặc được thừa kế riêng.
18