thảo luận pháp luật đai cương “Vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và phương hướng giải pháp hoàn thiện pháp luật.” . BÀI TẬP LỚN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH - Pdf 28

A.ĐẶT VẤN ĐỀ.
Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội sự ổn định và phát triển
lành mạnh của gia đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của
toàn bộ xã hội. Gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây
liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ
hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình. Trong
bối cảnh cuộc sống hiện nay, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu
thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất.
Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó
là một trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống
hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất tinh thần cho gia
đình. Xuất phát từ thực tế này mà đã nảy sinh các quyền và nghĩa
vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng là
một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình.
Chính vì lí do trên mà em xin chọn đề bài: “Vấn đề chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân và phương hướng giải pháp hoàn
thiện pháp luật.” làm đề tài cho bài viết của mình.
B.Giải quyết vấn đề
I. Cơ sở pháp lí về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân.
1. Về chế độ tài sản của vợ chồng theo hệ thống pháp luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam.
Trước hết, chế độ tài sản của vợ chồng cũng đã được quy định
tại các điều 14, 15 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986: “Điều 14 :
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra,
thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung hoặc được cho chung. Điều 15: Tài sản chung được sử
dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.Vợ, chồng có
quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua
bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến

chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29
của Luật này.”
Theo đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa
vào thời điểm phát sinh tài sản chung mà cụ thể là từ khi có sự
kiện kết hôn hợp pháp ; và nguồn gốc tài sản gồm: các tài sản do
vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân, những thu nhập hợp pháp
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, các tài sản mà vợ chồng được
thừa kế chung, được tặng cho chung, tài sản của vợ chồng bao gồm
quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau kết hôn (Điều 688 Bộ
luật dân sự năm 2005), tài sản chung của vợ chồng còn gồm những
tài sản được vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, tài sản mà
không đủ chứng cứ để xác định là tài sản riêng thì nó sẽ được suy
đoán là tài sản chung.
Tiếp đó theo như những điều khoản đã nêu và căn cứ vào điều
219 Bộ luật dân sự năm 2005 thì chúng ta có thể thấy vợ chồng có
quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung.
2.Về vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân.
Gắn liền với thực tiễn cuộc sống, nhiều cặp vợ chồng muốn
được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ
mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản
chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly
hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu
thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…) luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 (Điều 18) tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kì hôn nhân, cụ thể là:
“Điều 29. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
1. Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư
kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do

mình gây ra…)
Thứ ba là trường hợp có lí do chính đáng : trong luật không
quy định rõ lí do chính đáng ở đây cụ thể là gì? Tuy vậy, từ thực
tế, ta có thể hiểu một số lí do như vợ chồng đời sống tình cảm mâu
thuẫn sâu sắc nhưng có thể do tuổi đã cao hoặc do địa vị xã hội
ngại với con cháu và dư luận nên không muốn li hôn….Trong
trường hợp này để mâu thuẫn không sâu sắc hơn nữa và đảm bảo
cuộc sống của cả hai bên thì vấn đề chia tài sản chung được đặt ra.
Mặt khác, về phương thức chia tài sản, Luật hôn nhân và gia
đình năm 1986 quy định chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn
nhân tồn tại như chia tài sản chung cảu vợ chồng khi li hôn. Khác
với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 không quy định cụ thể phương thức chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân mà chỉ quy định “vợ
chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung”. Nếu vợ chồng thỏa
thuận được trong việc chia tài sản thì sự thỏa thuận đó được lập
thành văn bản và việc phân chia được pháp luật công nhận. Trong
trường hợp vợ chồng “không thỏa thuận được thì có quyền yêu
cầu tòa án giải quyết”. Ở đây luật hôn nhân và gia đình năm 2000
tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng. Bên cạnh đó Luật hôn nhân
và gia đình đã dự liệu đến những trường hợp có thể vợ chồng lạm
dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu
quả xấu xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bỏa
vệ. Vì vậy, khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
quy định : “Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh
thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.
Các nghĩa vụ ấy có thể là : Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng người
khác theo quy định của pháp luật, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,
nghĩa vụ thanh toán khi bị Toà án tuyên bố phá sản doanh nghiệp,
nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước,

Cuối cùng, xã hội phát triển đời sống tinh thần của con người
càng phức tạp. Có nhiều cặp cợ chồng tuy tình cảm đã không còn
như xưa nhưng vì hòa khí gia đình, không muốn con cái buồn, lo
lắng nên không li hôn; họ chỉ muốn chia tài sản chung ra để tiện
cho việc sinh hoạt riêng của mỗi bên.
Chính vì những thực tiễn ấy mà việc quy định chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân trong Luật hôn nhân và gia đình 1986
và năm 2000 là một điểm phát triển so với Luật hôn nhân và gia
đình năm 1959. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những hạn chế và
vướng mắc mà chúng ta cần xem xét.
III. Một số hạn chế trong việc quy định chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân trong luật hôn nhân và gia đình.
Một là, việc pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ công nhận vợ,
chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba có
liên quan đến tài sản chung (chủ nợ, con riêng của một bên đã
thành niên nhưng vẫn cần cấp dưỡng…) trong trường hợp này
không được thừa nhận (Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp
dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có
sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có
nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng
tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng
cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả
thuận (Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Vấn đề đặt
ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ
tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có
thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh
việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không
thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài

hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ
nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Có thể
thấy việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu
thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Khi động đến vấn đề vật chất
thì vấn đềtình cảm dường như đã bị xem nhẹ phần nào. Sự độc lập
về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống
ly thân hoặc một bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ
đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con
chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài
sản để tự nuôi mình.
IV. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Với tồn tại đầu tiên, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường
hợp người có lợi ích liên quan có đủ chứng cứ cho rằng, vợ chồng
không có thoả thuận hoặc không yêu cầu Tòa án chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực hiện
nghĩa vụ về tài sản, thì người đó có thể yêu cầu Toà án chia tài
sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài
sản của người vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ thực hiện thanh
toán các khoản nợ. Yêu cầu của người đó quyền sẽ bị Toà án bác
bỏ, nếu việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi
ích gia đình của người có nghĩa vụ hoặc bản thân vợ, chồng có
nghĩa vụ có đủ tài sản riêng đủ để thanh toán các khoản nợ, hay
thực hiện nghĩa vụ của mình.
Để giải quyết hạn chế thứ hai, như chúng ta đã biết, Điều 18
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã qui định: việc chia tài sản
trong thời kì hôn nhân giữa vợ và chồng được thực hiện như khi li
hôn. Trên cơ sở kế thừa qui định đó : Khi chia tài sản chung, Toà
án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định
phạm vi tài sản chung được chia. Việc chia tài sản chung căn cứ

chức có thẩm quyền. Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến con
áp dụng tương tự qui định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và
con khi ly hôn.
C. Kết thúc vấn đề.
Việc phân chia tài sản là một vấn đề khá phức tạp trong cuộc
sống của chúng ta hiện nay, khi mà giá trị vật chất ít nhiều đã xen
vào tình cảm gia đình, nhiều lúc con người ta coi trọng tiền bạc
hơn cả tình thân, hơn cả lợi ích chung của cả gia đình. Vì vậy việc
quy định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu về chế định chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân là hêt sức quan trọng, để không những
người hiểu luật, nắm được luật có thể áp dụng mà ngay cả những
người trong cuộc cũng hiểu, tôn trọng và làm theo pháp luật.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân,
Hà Nội, 2009.
2. Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Một số vấn đề lí
luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm
2000, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự
Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
4. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986.
5. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
6. Nghị định của chính phủ số 70/2001/NĐ-CP ngày
03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000.
7. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005.
8. Nguyễn Thị Thìn, Một số vấn đề về quyền sở hữu tài
sản chung của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status