HCM người là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là mẫu mực của tinh thần độc lập tự chủ tự lực tự cường, đổi mới và sáng tạo (8) - Pdf 41

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Người ta có thể gọi Bác bằng nhiều cách khác nhau:một vị lãnh tụ,một
người cộng sản chân chính,một tâm hồn và một trí tuệ lớn lao;nhưng hết thảy
HỒ CHÍ MINH là một con người yêu nước vĩ đại đã cống hiến cả cuộc đời mình
cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Người ra đi đã để lại một tiếc thương vô hạn,nhưng di sản mà Người để lại
thì sẽ mãi là kim chỉ nam soi đường cho mọi bước đi của Đảng của nhà
nước.Người luôn sống mãi với sự nghiệp cách mạng của nước ta với non sông
đất nước ta.
Đại hội đồng UNESCO đã công nhận Người là danh nhân thế giới với lời
đánh giá rất cao:”Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết
tâm của cả một dân tộc,đã cống hiến trọn đời mình
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt
Nam,góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân
tộc vì hòa bình độc lập dân tộc và tiến bộ xã
hội.Những tư tưởng của Người là hiện thân của
những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng
định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự
thúc đẩy sự hiểu biết lẫn chúng.
Học tập và làm theo tư tưởng HỒ CHÍ MINH là chủ
trương của Đảng của Nhà nước.Trong diễn văn tại lễ kỉ niệm 105 năm ngày sinh
của Người đã có đoạn viết:”Người là hiện thân sáng chói của tư tưởng độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,là mẫu mực độc lập tự chủ tự lực tự
cường,đổi mới và sáng tạo”

1


II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ


hơn độc lập tự do.”
Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ đấu tranh vì độc lập dân tộc, song
người cũng là hiện thân của khát vọng hoà bình. Đó là tư tưởng độc lập dân tộc
trong hoà bình chân chính của Người. Tinh thần “chúng ta muốn hoà bình” đã
dẫn dắt nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng mọi thế lực xâm lược ngoại bang.
Có thể nói, tinh thần “không có gì quí hơn độc lập tự do” là tư tưởng và lẽ
sống của Hồ Chí Minh. Nó là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng không chỉ
của dân tộc Việt Nam mà còn của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì lẽ đó,
2


Người không chỉ được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” của Việt Nam
mà còn là “Người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc
địa trong thế kỷ 20”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa
dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa yêu
nước với chủ nghĩa quốc tế.
Trên cơ sở những quan điểm cơ bản của Mác-Lenin về mối quan hệ biện
chứng giữa dân tộc với giai cấp, Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận điểm mới
và sáng tạo, góp phần bổ sung và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác Lenin.
Theo Người, ở các nước thuộc địa “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của
đất nước”. Người phân tích, do kinh tế còn lạc hậu, chưa phát triển nên sự phân
hoá giai cấp ở nước ta và nhiều nước thuộc địa khác chưa triệt để, mâu thuẫn
chưa đến mức đối kháng quyết liệt. Ở những nước thuộc địa như nước ta, mâu
thuẫn giữa dân tộc với chủ nghĩa đế quốc quyết liệt hơn mâu thuẫn giữa giai cấp
nông dân với địa chủ, giữa công nhân với tư sản. Do đó, trong bối cảnh này
không thể giải quyết
vấn đề giai cấp rồi mới
giải quyết vấn đề dân
tộc như ở các nước tư

mạng và thổ địa cách mạng (tức cách mạng dân tộc-dân chủ) để đi tới xã hội
cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn bó thống nhất giữa độc lập dân tộc
và CNXH vừa phản ảnh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc
3


trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục
tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con
người. Xoá bỏ ách áp bức dân tộc mà không xoá bỏ tình trạng bóc lột và áp bức
giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng. Người nói: “Nếu nước
độc lập mà dân không được hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa
gì.” Do đó giành được độc lập rồi, thì phải tiến lên CNXH, vì mục tiêu của
CNXH là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Như vậy,
ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã phát triển thành chủ nghĩa
yêu nước hiện đại, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Là một chiến sỹ quốc tế chân chính, xuất phát từ quan điểm độc lập tự do là
quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc, Hồ Chí Minh
không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đấu tranh cho độc lập
dân tộc của tất cả các dân tộc bị áp bức. Ở Người, chủ nghĩa yêu nước chân
chính luôn gắn liền với chủ nghĩa quốc tế cao cả, trong sáng. Người nói: “
Chúng ta phải tranh đấu cho tự do độc lập của các dân tộc khác như là tranh đấu
cho dân tộc ta vậy.” Chủ trương “ giúp bạn là tự giúp mình”, Hồ Chí Minh luôn
nêu cao tinh thần dân tộc tự quyết song không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của
mình. Với Người, phải thông qua thắng lợi của Cách mạng mỗi nước mà đóng
góp vào thắng lợi chung của Cách mạng thế giới.
Về quan hệ quốc tế, Người tuyên bố với thế giới: “
Căn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam
Dân chủ cộng hòasắn sàng đặt quan hệ ngoại giao
với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng,
chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của

những nguy cơ mang tính hệ quả của toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế, chúng ta còn phải đối mặt với âm mưu diễn biến hoà bình. Các thế lực
thù địch trong và ngoài nước đang núp dưới những chiêu bài tự do, dân chủ,
nhân quyền, dân tộc tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta ( Sự
biến Tây Nguyên 2/2001 và 4/2004). Trước những nguy cơ ấy, Đảng và Nhà
nước ta phải không ngừng khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh
thần dân tộc, nguồn động lực mạnh mẽ để xây dựng và bảo vệ đất nước. Phát
huy tối đa các nguồn nội lực, bao gồm con người, trí tuệ, truyền thống, đất đai,
tài nguyên,v.v để xây dựng và phát triển kinh tế, đưa đất nước từng bước bắt kịp
các nước phát triển. Đất nước phát triển, nền kinh tế hùng mạnh sẽ góp phần
trực tiếp tạo sức mạnh cho nhân dân ta giữ vững độc
lập dân tộc. Độc lập dân tộc phải được xem là cái
bất biến trong sự thiên biến vạn hoá của nền kinh tế
thế giới đang phát triển với xu thế toàn cầu hoá; bản
sắc văn hoá Việt Nam cũng phải được xem là cái
bất biến trong sự đa dạng các nền văn hoá thế giới,
tiếp thu nhứng hay, cái đẹp, cái tiên tiến mà vẫn
không mất đi cái gốc, cái chất Việt Nam trong mỗi con người. Đó cũng là cách
để giữ vững độc lập dân tộc theo đúng nghĩa của nó.
Độc lập là tài sản thiêng liêng vô giá của cả dân tộc, là cái phải giữ cho dù
mất tất cả, “hy sinh tất cả”. Muốn thực hiện tốt tinh thần bất hủ ấy của Hồ Chí
Minh, ngày nay đường lối của Đảng và Nhà nước ta phải thể hiện rõ sự quan
tâm, không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tiếp thu
và phát huy tinh hoa của dân tộc với truyền thống “lấy dân làm gốc” (Dân vi bản
quốc gia trường thọ), sinh thời Hồ Chí Minh đã không ngừng giáo dục cán bộ,
đảng viên phải luôn luôn có tinh thần “vì dân phục vụ”. Người nói: “ Gốc có
vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” Chăm lo và không
ngừng nâng cao đời sống cho nhân dân là cách thiết thực nhất để bảo vệ độc lập
dân tộc, vì theo Người, dân như nước, chở thuyền cũng là nước mà lật thuyền
cũng là nước. Dân giàu thì nước mạnh, mà nước mạnh thì độc lập dân tộc còn.

2.3.Độc lập tự lực tự chủ tự cường kết hợp với tinh thần quốc tế
Hơn sáu mươi năm hoạt động cách mạng sôi nổi và sáng tạo, Người đã tiếp
thụ chủ nghĩa Mác - Lê-nin kết hợp với truyền thống yêu nước Việt Nam, tinh
thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường dân tộc, tìm thấy con đường cứu nước và
giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội. Con đường đó đã được vạch ra từ mùa xuân năm 1930, trong những văn
kiện do Người soạn thảo được Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thông qua,
trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Với Cương lĩnh đó, những nét lớn
trong Tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành và con đường cứu nước của Việt
Nam đã được khẳng định.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự thể hiện rõ nét nhất tinh
thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong khi giải quyết
những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát
triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về

6


cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ
nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Từ những năm 20 của thế kỷ trước, trong khi
nghiên cứu chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh đã nêu
rõ rằng ở phương Đông có những đặc điểm khác
với phương Tây mà thời mình Mác chưa có điều
kiện nghiên cứu, đồng thời mỗi dân tộc lại có
những đặc điểm riêng.
Trong Điều lệ tạm thời của Hội Liên hiệp công nhân quốc tế năm 1864 do
Mác khởi thảo, một tư tưởng cơ bản được nêu lên là: "Sự giải phóng của giai
cấp công nhân phải do bản thân giai cấp công nhân tự giành lấy" (4). Hơn sáu
mươi năm sau, trong Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp thuộc địa, Hồ Chí Minh

xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã nêu rõ : "Nắm
vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt quá
trình cách mạng của nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực
hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc
lập dân tộc". Và tại Đại hội IX của Đảng lần này, khi tổng kết những bài học chủ
yếu của 15 năm đổi mới, Báo cáo Chính trị đã chỉ rõ bài học thứ nhất là: "Trong
quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên

8


nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh".
Nhìn ra bên ngoài và nhìn lại lịch sử Việt
Nam trong thế kỷ XX vừa qua, chúng ta càng thấy
rằng sự lựa chọn của Đảng ta, của nhân dân ta là
hoàn toàn chính xác.
Như chúng ta đã biết, dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh dũng bất
khuất, đã từng chiến thắng nhiều đế quốc phong kiến hung hãn. Từ khi thực dân
Pháp xâm lược nước ta, phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ. Liên
tiếp nổ ra các cuộc nổi dậy trên khắp mọi miền đất nước thu hút đông đảo các
tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến. Các
phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế; các phong trào Duy Tân, Đông Du,
khởi nghĩa Yên Bái và hàng chục cuộc đấu tranh khác nữa đều bị thực dân Pháp
thẳng tay đàn áp và thất bại. Điều đó chứng tỏ rằng, vẫn là nhân dân giàu lòng
yêu nước, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng ủng hộ và tham gia
các phong trào yêu nước; còn các bậc sĩ phu, các nhà lãnh đạo các phong trào
chống thực dân Pháp đều có thừa trí dũng, không thiếu quyết tâm nhưng họ, cả
giai cấp phong kiến và đại diện cho chế độ phong kiến, cả giai cấp tư sản và đại
diện cho thế lực tư sản khi đó đều không giải quyết được vấn đề độc lập dân tộc

sâu sắc, đặc biệt với Cách mạng Tháng Mười Nga "rung chuyển thế giới", đã
làm cho tính chất thời đại thay đổi, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai
trò lãnh đạo cách mạng cũng thay đổi; vì vậy con đường để giải quyết mâu
thuẫn của xã hội, lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng cũng thay
đổi.
Trong mảnh đất Việt Nam - nơi mà chính "sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản
đã chuẩn bị đất rồi; chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt của
công cuộc giải phóng nữa thôi". Hơn ai hết, chính Nguyễn Ái Quốc là người
gieo hạt, gây mầm cách mạng Việt Nam. Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến
với chủ nghĩa xã hội. Ở Người, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, bản lĩnh và tố
chất đặc biệt Việt Nam đã "bắt gặp" chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nói như Cố Thủ
tướng Phạm Văn Đồng - một cuộc gặp gỡ đẹp như cùng hẹn trước - đã chung
đúc nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Với kỳ công của Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa
Mác - Lê-nin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt
Nam chuyển hóa thành một tất yếu đưa đến một sự kiện trọng đại : năm 1930,
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện này là mốc son đánh dấu sự kết hợp
các nhân tố dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trong bản chất của Đảng. Vừa ra đời, Đảng tuyên bố : "Chủ trương
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".
Lời tuyên bố ấy cũng đồng nghĩa với lời bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến
và chế độ tư bản chủ nghĩa; và nhìn rộng hơn, cũng bác bỏ bất cứ một thứ chủ
nghĩa nào khác, bất cứ một con đường nào khác. Một cách tự nhiên là, ngay sau
lời tuyên bố ấy của Đảng, chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà
đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường dân
tộc Việt Nam đã và đang đi từ đó dọc thế kỷ XX, và tiếp tục đi cho tới đích cuối
cùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế
10



ách áp bức con người về chính trị và sự nô dịch con người về tinh thần, ý thức
và tư tưởng.

11


Chủ nghĩa xã hội thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự
phát triển phồn vinh về kinh tế, sự phát triển phong phú đa dạng về văn hóa, tinh
thần, sự thực hiện đầy đủ nhất quyền lực của nhân dân. Chỉ với chủ nghĩa xã
hội, độc lập dân tộc mới đạt tới chân giá trị của nó ở chỗ nó hướng tới phục vụ
lợi ích và quyền lực của mọi người lao động, làm cho mọi thành viên của cộng
đồng dân tộc trở thành người chủ thực sự có cuộc sống vật chất ngày càng đầy
đủ và cuộc sống tinh thần ngày càng phong phú. Chính điều đó làm cho nền tảng
của sự độc lập tự chủ càng thêm vững chắc, khả năng bảo vệ nền độc lập dân tộc
càng đầy đủ và mạnh mẽ.
Sự phát triển thực chất và bền vững của độc lập dân tộc được đo bằng
những khả năng và điều kiện bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi tình cảnh nô lệ,
phụ thuộc, bị áp bức bóc lột và nô dịch. Nó cũng bảo đảm cho dân tộc vượt qua
tình trạng đói nghèo, lạc hậu và tụt hậu trong tương quan với các dân tộc khác
trong thế giới và ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn để đạt tới sự bình đẳng
trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng dân tộc
này với cộng đồng dân
tộc khác.
Toàn bộ khả năng
và điều kiện bảo đảm đó
chỉ có thể được tìm thấy
và giải quyết bằng con
đường phát triển chủ
nghĩa xã hội.Độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội

cầu hóa, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực, bất trắc; dù cho ai đó bị lóa mắt bởi
những bộ áo cánh sặc sỡ của chủ nghĩa tư bản thì hệ giá trị ấy - độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, trong ý thức và trong hành động vẫn là mục tiêu, lư tưởng,
là quốc bảo phù hợp xu thế thời đại. Mãi mãi giương cao ngọn cờ độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, bước vào thế kỷ XXI, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân
dân ta tiếp tục giành thêm nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, đưa đất nước ta sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế
giới.
2.Việt Nam với tinh thần độc lập tự chủ tự cường đổi mới và sáng tạo
Hiện nay trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trước
tình hình thế giới diễn biến phức tạp, nhanh chóng, trên cơ sở những quan điểm
có tính nguyên tắc, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hơn bao giờ hết, càng phải
phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo của Tư tưởng Hồ
Chí Minh. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các
mối quan hệ quốc tế, chúng ta đang tận dụng mọi khả năng để thu hút ngày một
nhiều hơn các nguồn lực bên ngoài, nhưng cần khẳng định rằng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trước hết là sự nghiệp của bản thân nhân dân ta, do trí tuệ và
sức lực của dân ta. Văn kiện Đại hội IX viết: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về
đường lối, chính sách... Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại,
kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất
nước"(11).

13


đưa đất nước tiến lên giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử.
Ba là, không ngừng củng cố và tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng,
đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.
Bốn là, thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay là kết quả
của sự kết hợp đúng đắn sức mạnh của dân tộc đã được lịch sử đấu tranh quật
cường hàng nghìn năm hun đúc nên với sức mạnh của thời đại.
Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng
đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng nước ta.

15


Tất cả những thắng lợi đó của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với công lao
to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thực tiễn cách mạng từ lúc Đảng ta ra đời đến
nay đã khẳng định: Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
nền tảng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài
sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu
tranh của nhân dân ta giành thắng lợi.
Di chúc của Bác để lại là bản tổng kết thực tiễn kinh nghiệm lãnh đạo cách
mạng và phương hướng phát triển của dân tộc, đồng thời thể hiện cô đọng nhân
cách của vị lãnh tụ, Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt
xuất Hồ Chí Minh. Di chúc kết tinh những giá trị lịch sử văn hóa, tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, mỗi chữ, mỗi câu, mỗi đoạn văn được viết ra là
một chương trình hành động trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng lại
đất nước sau khi nước nhà thống nhất.
Sau 40 năm thực hiện Di chúc của Người, đất nước ta đã đã có sự thay đổi
cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy

Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng.

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status