TÀI LIỆU THAM KHẢO GIÁO TRÌNH BỆNH học nội KHOA y học cổ TRUYỀN - Pdf 41

GIÁO TRÌNH
BỆNH HỌC NỘI KHOA Y HỌC CỔ TRUYỀN
những chữ viết tắt trong giáo trình

AMP : Adeno mono phot-phat .
ADN : Acid desoxy nucleic .
ARN : Acid ribonucleic .
CDL : complement dependent lysis .
GMP : Gluco mono phot -phat .
HDL : Lipoprotein có tỷ trọng cao .
Ig
: immuno globulin .
KT
: kháng thể .
KN : kháng nguyên .
LDL : Lipoprotein có tỷ trọng thấp .
IDL : Lipoprotein có tỷ trọng trung gian .
TG : Triglyceride .
VLDL : Lipoprotein có tỷ trọng rất thấp .
YHCT : y học cổ truyền .
YHHĐ: y học hiện đại .
HLA : Human lymphocyte antigen .
NCF-A: neutrophil chemotactic factor of Anaphylaxis .
ECF- A: eosinophil chemotactic of Anaphylaxis .
SRS- A : chất phản vệ phản ứng chậm (Slow reacting substance of
Anaphylaxis ).

1


Phần 1

34

1.1. Chương III
biện chứng luận trị ngải tư bệnh ( HIV / AIDS)

3.1 Hư lao (tần kinh suy nhược )
3.2 Ngải tư bệnh (HIV/ AIDS)

38
40

Phần 2
biện chứng luận trị một số bệnh nan y theo hệ thống cơ quan tạng phủ

2


Chương I
biện chứng luận trị bệnh tim mạch , thận khớp , nội tiết

Đường niệu bệnh ,tiêu khát (đái tháo đường )
48
Bệnh nhược năng tuyến giáp (viêm tuyến giáp Hashimoto)
Biện chứng luận trị viêm tắc tĩnh mạch
Bệnh van tim phong thấp tính ( thấp tim tiến triển)
Viêm thận, tiểu cầu thận cấp tính
Viêm cầu thận mãn tính
Viêm khớp phong thấp tính (viêm khớp dạng thấp tiến triển )
Tim mạch và phong thấp nhiệt tính ( thấp tim )
Bệnh cao huyết áp nguyên phát (tăng huyết áp nguyên phát )

118
121
127
134
139

Chương III
biện chứng luận trị bệnh tiêu hoá

Viêm đại tràng mãn tính

147
3


Mạn tính nuy túc tính vị viêm (viêm teo niêm mạc dạ dày mạn tính hay
thoái hoá niêm mạc dạ dày )
151
Viêm gan mãn tính hoạt động
156
Đởm lạc kết thạch ,đởm lạc cảm nhiễm
( sỏi đường mật , viêm đường dẫn mật )
159
Chương IV
biện chứng luận trị các bệnh tiết niệu

Tiết niệu lạc kết thạch (sỏi hệ thống tiết niệu )
Niệu lạc kết thạch (sỏi niệu quản )
Niệu lạc cảm nhiễm (viêm đường tiết niệu )


chương I
Y học Cổ truyền với miễn dịch và khả năng
kháng khuẩn

5


thuốc yhct có tác dụng trên miễn dịch tế bào, miễn dịch dịch thể
và điều tiết miễn dịch
1.Khái niệm:

Quan điểm của YHCT: “Tự ngã thức biệt“, “Bài trừ dị kỉ“. Bình
thường, chức năng miễn dịch của cơ thể có 3 loại tác dụng lớn:
* Tự thân ổn định (trung hòa các dị nguyên).
* Cố định các dị nguyên (vô hiệu hóa).
* Dự phòng các bệnh truyền nhiễm, cảm nhiễm.
Theo Von Pirquet (1929 - 1974), phản ứng miễn dịch bao gồm ; choáng
phản vệ loại bỏ protein lạ, mày đay nổi mẩn... cố định các dị nguyên ở
vùng viêm không cho lan rộng ra toàn thân. Nhưng do quá mức (thái quá)
mà cơ thể không những không tự bảo vệ được mình mà còn gây ra rối
loạn chức năng các tổ chức cơ quan trong cơ thể.
Quan điểm YHCT, theo Tần Vạn Chương và Nại Duy Lập (Thượng Hải,
1988):
“Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư
Chính khí tồn nội, tà bất khả can”.
Nghĩa là tác nhân gây bệnh ở da, cơ sẽ làm tổn thương sức đề
kháng của cơ thể, và ngợc lại sức đề kháng tốt thì tác nhân gây bệnh
không thể xâm phạm vào da, cơ của cơ thể được.
2. Nội dung:


như: luput ban đỏ, xơ cứng bì, ngân tiết bệnh... và nham chứng.
Có nhiều báo cáo tổng kết nghiên cứu: Thuốc bổ ích khí - huyết đa phần
có tác dụng tăng cường miễn dịch; thuốc điều hòa âm - dương đa phần có
tác dụng điều tiết miễn dịch.Thuốc sơ phong - thanh nhiệt - lợi thấp đa
phần có tác dụng tiêu viêm, thoái mẫn.Thuốc tiêu viêm - hóa ứ đa phần có
tác dụng ức chế miễn dịch.

2.2. Tác dụng điều tiết miễn dịch của thuốc phù chính.
- Trung y cho rằng “Hư tắc bổ”. Nhưng hư chứng có hay không có
suy giảm chức năng miễn dịch? Có một số người cho rằng, phù chính có
thể là tiền đề cho tăng cường công năng miễn dịch. Bệnh luput ban đỏ chủ
yếu liên quan với thận hư tiên thiên bản tạng bất túc ?.
Tần Vạn Lập nghiên cứu về bản chất của bệnh đã phát hiện đa số bệnh
nhân bị luput ban đỏ có biểu hiện triệu chứng thận hư . Sau khi ông cho
những bệnh nhân này dùng thuốc bổ thận liều nhẹ thì các triệu chứng lâm
sàng và cận lâm sàng đều được cải thiện rõ rệt.
Trong nghiên cứu cơ chế thận hư , các tác giả đã chứng minh được
thuốc bổ thận có thể điều chỉnh và nâng cao tính phản ứng hệ thống của
chất vỏ thượng thận và tuyến yên. Điều này có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn
trong việc dùng kích tố nội tiết.
Trong những thập kỷ gần đây, kết hợp Trung - Tây y để điều trị các
bệnh tự thân miễn dịch ngày càng được phát triển và đã thu được hiệu quả
cao. Tại các trung tâm nghiên cứu Y học Cổ truyền của Bắc Kinh,
Thượng Hải, Thiên Tân, có nhiều tác giả nhận thấy luput ban đỏ, viêm da
- cơ, xơ cứng bì... đều là chứng hư ở mức độ khác nhau. Sau khi điều trị
bằng thuốc phù chính thì hầu hết các bệnh nhân, qua kiểm tra xét nghiệm
và lâm sàng, đều thấy các chỉ tiêu miễn dịch được cải thiện, bệnh ổn định.
Theo nghiên cứu của Y viện Hiệp Hoà - Bắc Kinh, điều trị bệnh
viêm da - cơ cấp tính bằng “thanh doanh giải độc thang gia giảm” và điều
trị viêm da - cơ mãn tính bằng “bổ trung ích khí gia giảm” kết hợp với

năng xúc tiến chuyển hóa limpho bào, kích thích phản ứng miễn dịch tế
bào và hình thành kháng thể.
Thực tiễn lâm sàng đã chứng minh các loại bệnh thuộc hư chứng ,
dù ở các mức độ khác nhau , đều có suy giảm chức năng miễn dịch rõ rệt.
Vì vậy, khi dùng các phương thuốc phù chính để bổ dưỡng đã thu được
hiệu qủa nhất định.

2.3.Tác dụng điều tiết miễn dịch của thuốc trừ tà:
Theo Y học cổ truyền: Tà thực lấy trừ tà là chủ để điều trị, tức là khu
trừ bệnh tà, khôi phục lại sự cân bằng của cơ thể mà đạt hiệu qủa điều trị.
Trong những năm gần đây, những công trình nghiên cứu đã phát hiện
nhiều loại thuốc trừ tà có khả năng điều chỉnh chức năng miễn dịch của cơ
thể.
Thuốc trừ tà thường dùng là các nhóm thuốc: Hoạt huyết - hóa ứ;
thanh nhiệt - giải độc ; thuốc trừ thấp.
Các nghiên cứu cho thấy, đại bộ phận các thuốc hoạt huyết - hóa ứ
có tác dụng ức chế phản ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể. Đối với một số
bệnh tự thân miễn dịch và phản ứng biến thái thì có hiệu qủa rất tốt. Một
số tư liệu đã chứng minh một số thuốc hoạt huyết- hóa ứ có tác dụng tăng
cường công năng miễn dịch cơ thể. Những năm trước đây người ta chỉ
chú ý đến tính kháng khuẩn, kháng siêu vi khuẩn của thuốc thanh nhiệt giải độc, thì ngày nay người ta đã phát hiện ra nhiều loại thuốc thanh nhiệt
- giải độc có tác dụng tăng cường công năng miễn dịch của cơ thể. Tuy
nhiên, cũng có một số thuốc thanh nhiệt - giải độc lại có tác dụng ức chế

8


miễn dịch. Ngoài ra nhiều loại thuốc sơ phong - trừ thấp có tác dụng tiêu
viêm thoái mẫn.
2.3.1. Tác dụng ức chế miễn dịch của thuốc trừ tà:

độc: Kim ngân hoa, liên kiều, bản lam căn (rễ của thanh đại diệp - lá chàm
mèo - cây bọ mắm), nhưng thanh đại diệp là chính để ức chế phản ứng
quá mẫn trong điều trị bệnh luput ban đỏ, có hiệu quả rõ rệt.
Học viện Trung y - Quảng Châu dùng bài “thanh ôn bại độc ẩm” để
điều trị bệnh viêm da - thần kinh cũng thu được kết quả tốt. Thuốc thanh
nhiệt - giải độc không những có tác dụng kháng khuẩn, kháng bệnh độc
cảm nhiễm mà còn có thể ức chế phản ứng quá mẫn, tiêu trừ phức hợp
miễn dịch, từ đó ức chế có hiệu quả các phản ứng miễn dịch.
2.3.2. Tác dụng tăng cường miễn dịch của thuốc trừ tà:

9


+ Căn cứ vào nghiên cứu thực nghiệm các hội chứng "thực chứng"
người ta nhân thấy một số thuốc hoạt huyết - hóa ứ và thanh nhiệt - giải
độc có tác dụng tăng cường miễn dịch bao gồm: số lượng bạch cầu tăng
cao, xúc tiến bạch cầu khổng lồ tăng thực bào, xúc tiến tăng chuyển hóa tế
bào limpho, hình thành các IL 2 (Interlerkill2), và hình thành kháng thể.
Thông qua sử dụng một số thuốc điều trị trên lâm sàng nhiều tác giả đã
thu được kết quả nhất định. Tổng hợp các báo cáo phát hiện phương thuốc
“bạch hổ thang” có tác dụng xúc tiến chức năng thực bào của đại thực bào
tương đối tốt. Bài “quế chi gia truật thang” có tác dụng ức chế quá mẫn,
trung hòa kháng nguyên và sản sinh kháng thể.
Thực nghiệm còn chứng minh, bài thuốc “bài nùng thang” và “bài
nùng tán” đều có tác dụng ức chế rõ đối với bạch cầu đa nhân. Kết qủa
thực nghiệm trên chuột cống cho thấy 2 phương thuốc trên đều có tác
dụng ức chế và xúc tiến dòng bạch cầu đa nhân, tác dụng này phụ thuộc
vào loại thuốc và nồng độ thuốc; bài thuốc “tiểu thanh long thang” có tác
dụng ức chế globulin E miễn dịch (IgE), ức chế quá mẫn.
Ngoài ra, các loại thuốc trừ tà, thuốc lợi thấp - sơ phong phần nhiều có

Quế chi
15g
Đan bì
15g
Đào nhân 15g
Bạch thược
15g
Hoàng liên 10g
Hoàng cầm
15g
Hoàng bá 15g
Sinh thục địa 15g
Đương qui 15g
Xuyên khung 15g
Hoàng kỳ 30g.
* Tất cả những báo cáo dẫn liệu trên chứng tỏ thuốc phù chính - trừ tà
dùng để điều trị đều liên quan mật thiết đến vấn đề miễn dịch, hoặc là ức
chế hoặc là tăng cường hay là điều hòa miễn dịch. Chính vì vậy sử dụng
các thuốc này đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ trong điều trị lâm
sàng.

PHân loại thuốc Y học Cổ truyền theo biện chứng luận trị
và tác dụng kháng khuẩn của thuốc thảo mộc.
1. Phân loại thuốc yhCt theo biện chứng luận trị.

1.1. Khái niệm.
Y học Cổ truyền thường kê đơn thuốc hoặc chọn dùng các chế
phẩm thuốc tễ, thuốc hoàn dựa trên tính vị hàn - nhiệt - ôn - lương và qui
kinh, được tổ chức theo biện chứng luận trị. Dựa trên tác dụng thực tế lâm
sàng, thuốc thảo mộc được chia ra nhiều loại, mỗi loại có thể điều trị 1

linh, bán chi liên, nhất kiến hỷ, sơn đậu căn, xạ can, ngư tinh thảo, bối
tương thảo...
- Thuốc tả hạ là nhóm thuốc gây nhuận tràng, tiện lỏng, trục thuỷ tả
hạ. Các vị thuốc thường được chọn dùng: đại hoàng, mang tiêu, hoả ma
nhân, uất quí nhân, đại kích nguyên hoa, cam toại, hắc sửu.
+ Thuốc trừ phong thấp là nhóm thuốc có tác dụng sơ thông kinh
lạc trừ phong thấp, giải trừ thống tý ở biểu, vận động trở ngại. Các vị
thuốc thường được chọn dùng: tần cửu, độc hoạt, uy linh tiên, ngũ gia bì,
mộc qua, hổ trượng, xú ngô đồng, hy thiêm thảo, hải phong đằng, thương
nhĩ tử, ô tiêu xà, mao lương.
+ Thuốc phương hương hóa thấp là nhóm thuốc có tác dụng
phương hương hóa trọc, hoà vị. Các vị thuốc được chọn dùng : hoắc
hương, phong lan, hậu phác, sa nhân, bạch khấu nhân, thương truật, thạch
xương bồ.
+ Thuốc lợi thuỷ thấm thấp là nhóm thuốc có tác dụng bài trừ thuỷ
thấp, thông lợi tiểu tiện. Các vị thuốc được chọn dùng: phục linh, trư linh,
trạch tả, đông qua tử (bì), ý dĩ nhân, hoạt thạch, sa tiền thảo (tử), mộc
thông, thông thảo, hải kim sa, kim tiền thảo, ngọc mễ tu, nhân trần, biển
xúc, cù mạch, phòng kỷ, tỳ giải.
+ Thuốc ôn lý là nhóm thuốc có tác dụng ôn lý trừ hàn, ôn trung hồi
dương, tán hàn chỉ thống. Một số vị thuốc được chọn dùng: phụ tử, nhục
quế, can khương, cao lương khương, ngô thù du, hoa tiêu, tiểu hồi hương,
ngải diệp...
+ Thuốc lý khí là nhóm thuốc có tác dụng điều lý khí cơ, lưu thông
khí - huyết. Một số vị thuốc được chọn dùng: quất bì, chỉ thực (sác), mộc
hương, giới bạch, hương phụ, ô dược, thanh bì, xuyên luyện tử, uất kim.
+ Thuốc lý huyết là nhóm thuốc có tác dụng điều lý huyết phận chỉ
huyết tiêu tán huyết ứ. Một số vị thuốc được chọn dùng: bạch cập, đại kế,
tiểu kế, mao căn, tiên cước thảo, trắc bá diệp, tây thảo, địa du, quỉ hoa,
huyết dư thán, tam thất. Một số vị thuốc thường dùng hoạt huyết - khư ứ:

trong hội chứng thiếu máu, kinh nguyệt không đều. Một số vị thuốc được
chọn dùng: đương qui, bạch thược, thục địa, tang thầm tử, hà thủ ô, câu
kỷ tử...
- Thuốc bổ âm là thuốc có tác dụng dưỡng âm - sinh tân - nhuận
táo. Các vị thuốc được chọn dùng: thiên môn đông, mạch môn đông,
thạch hộc, sa sâm, ngọc trúc, bách hợp, hạn liên thảo, nữ trinh tử, qui bản,
miết giáp.
+ Thuốc thu liễm là nhóm thuốc có tác dụng thu liễm cố sáp. Các vị
thuốc được chọn dùng: ngũ vị tử, sơn thù nhục, khiếm thực, kim anh tử,
tang phiêu tiêu, phúc bồn tử, ô tặc cốt, ô mai, thạch lựu bì, nhục đậu
khấu...
+ Thuốc khu trùng là nhóm thuốc có tác dụng khu trùng hoặc diệt
trùng - ký sinh trùng đường ruột. Một số vị thuốc được chọn dùng: sử
quân tử, khổ luyện căn bì, binh lang, quán chúng, nha đàm tử...
+ Thuốc dùng ngoài là nhóm thuốc dùng để bôi đắp ngoài; có tác dụng
thu liễm, chỉ huyết, tiêu thũng, giải độc, hoá ứ, sinh cơ, bài nùng, chỉ
thống. Một số vị thuốc được chọn dùng: hùng hoàng, sa sàng tử, minh
phàn, phê sa, lưu hoàng, khinh phấn, lô cam thạch, thủy phiến...
2. Tác dụng kháng vi khuẩn và ức chế vi khuẩn của th uốc thảo
mộc

13


Trong những năm gần đây, trên cơ sở kết hợp YHHĐ với biện
chứng luận trị theo y lý Y học Cổ truyền, một số nước tiên tiến đã đưa nền
Y học Cổ truyền phương Đông ngang tầm với YHHĐ, đã lần lượt nghiên
cứu cơ bản các thuốc thảo mộc dạng cao lỏng, dạng sắc thang, dạng tễ,
dạng hoàn, dạng viên nén, viên bao, dạng tiêm, dạng truyền... Bằng kết
quả khả quan trên thực nghiệm và lâm sàng, người ta đã khẳng định tác

bạch đầu ông, địa cốt bì... Riêng bạch đầu ông (cây bướm bạc), địa cốt bì,
đan bì đều có tác dụng kháng trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn,
trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, phế cầu khuẩn và liên cầu khuẩn; bạch
đầu ông còn có tác dụng diệt amip, lỵ và trùng roi âm đạo.
- Thuốc thanh nhiệt - giải độc là nhóm thuốc có tác dụng điều trị
nhiệt độc, hoả độc sinh nhọt bọc đầu đinh, ban chẩn và dịch độc (bệnh do
các loại siêu vi trùng gây nên). Hầu hết các vị thuốc trong nhóm này đều
14


có khả năng kháng các loại khuẩn: kim ngân hoa có phạm vi kháng
khuẩn rộng và mạnh với trực khuẩn thương hàn, tụ cầu vàng, phó thương
hàn, liên cầu khuẩn tan huyết, trực khuẩn lỵ và trực khuẩn đại tràng; liên
kiều có tác dụng với bệnh truyền nhiễm cầu khuẩn cấp tính, khả năng
kháng khuẩn rộng và mạnh với trực khuẩn thương hàn, tụ cầu vàng, phó
thương hàn, liên cầu khuẩn tan huyết, trực khuẩn lỵ và trực khuẩn đại
tràng; địa du thảo có tác dụng diệt khuẩn mủ xanh. Như vậy thuốc thanh
nhiệt - giáng hoả theo Y lý Cổ truyền, đa phần chữa bệnh do nhiệt độc,
hoả độc đinh sang ung thư (nhọt bọc), dị ứng, lở ngứa, các bệnh thường
hay có sốt...
2.3. Khả năng kháng khuẩn của các thuốc tả hạ:
Thuốc có tác dụng chủ yếu: thông hạ đường tiêu hóa, lợi mật, lợi đởm khí,
tả thực nhiệt, phá tích trệ, hành ứ huyết. Tuy nhiên , đại hoàng, hắc sửu có
khả năng kháng khuẩn mạnh trên phạm vi rộng: cầu khuẩn, tụ cầu vàng,
trực khuẩn lỵ, trực khuẩn mủ xanh, phế cầu khuẩn.
2.4. Khả năng kháng khuẩn của các nhóm thuốc khác:
+ Nhóm thuốc trừ phong thấp : hổ trượng (cốt khí củ) và mao lương
có khả năng diệt tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn lỵ và trực
khuẩn thương hàn.
+ Nhóm thuốc phương hương hóa thấp : lạt liễu và hậu phác có hiệu

yên, thượng thận, giáp trạng và các tuyến sinh dục theo cơ chế tự điều
chỉnh. Ví dụ: tử hà sa, lộc giác và đại bộ phận thuốc bổ khí - huyết, bổ
âm, bổ dương có tác dụng tăng cường miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế
bào và điều tiết miễn dịch (như đã nói ở bài 1).
2.6. Nhóm thuốc thu liễm khu trùng và thuốc dùng ngoài:
Khả năng kháng khuẩn trong thực nghiệm của ô mai, thạch lựu bì tương
đối mạnh với trực khuẩn lỵ, thương hàn, trực khuẩn mủ xanh và tụ cầu
vàng. Đa số các thuốc trong nhóm thuốc này đều có tác dụng khu trùng,
nhất là ký sinh trùng, thuốc làm cho giun sán tê liệt và bị tống ra ngoài.
Các thuốc dùng ngoài, tác dụng theo y lý cổ truyền: thu liễm chỉ huyết,
tiêu các thũng giải độc, hóa ứ, sinh cơ, bài nùng chỉ thống (giảm đau và
làm sạch mủ ở vết thương).

16


Chương II
biện chứng luận trị thũng lưu
(chuyên đề miễn dịch và ung thư).
ung thư và điều trị theo YHHĐ
1. Đại cương theo YHHĐ.

1.1. Ung thư :
Là một nhóm tế bào phản loạn phát triển vô tổ chức trở thành vật
ngoại lai, ức chế và phá hủy tế bào bình thường của cơ thể. Ngày nay, nhờ
những thành tựu nghiên cứu của miễn dịch học , của sinh học phân tử và
kỹ nghệ sinh học, người ta hy vọng sẽ điều trị ung thư bằng miễn dịch trị
liệu.
- Sự phát sinh, phát triển ung thư thường đi đôi với suy giảm và
thiếu hụt miễn dịch. Khả năng miễn dịch của cơ thể suy sụp còn có thể do

kháng thể và cảm ứng tế bào ức chế).
. Nhóm 2: Lym pho T ức chế, gây độc (ức chế tế bào B sản xuất
kháng thể và trung gian cho gây độc tế bào).
Nhóm 1/nhóm 2 là CD4 /CD8 tạo thành thế cân bằng và điều hoà miễn
dịch.
+ Lim pho B được gọi là miễn dịch dịch thể. Trên thực nghiệm của
Ge’rald (973 ) tìm thấy 3 típ với cơ chế hủy hoại K:
- Phá vỡ tế bào đích bằng bổ thể làm tan CDL (complement
dependent lysis).
- Kháng thể gây độc tế bào.
- Bất động tế bào.
+ Lympho K còn gọi là tế bào Null, kháng thể đóng vai trò trung
gian giữa tế bào K và tế bào đích.
+ Tế bào NK tự nhiên là tế bào diệt tự nhiên có trong miễn dịch tự
nhiên; nó phản ứng với nhiều loại tế bào K, tiêu diệt tế bào đích, chịu ảnh
hưởng của Interferon gamma và Prostaglandin E2. NK được coi như cơ
chế đề kháng rất quan trọng.
+ Đại thực bào là loại tế bào đơn nhân từ tủy xương trưởng thành
tung vào máu, có ở nhiều tổ chức cơ quan khác nhau. Đại thực bào diệt tế
bào đích bằng cách tiết các men tiêu đạm (phosphataza a xit,
tetaglycoronidaza).

1.4. Điều trị K bằng miễn dịch trị liệu
Người ta dùng kháng thể đơn (clôn), Interferon, Interleukin2 và
một số limphokin khác.
- Interferon là protein do đáp ứng miễn dịch vi rút tiết ra, có
Interferon tự nhiên và tái tổ hợp 3 loại α, β và γ nhưng Interferon α được
áp dụng nhiều hơn.
- Interleukin 2 là loại limphokin do limpho bào T tiết ra, là yếu tố
tăng trưởng tế bào T (T - cell growth factor), loại kháng thể này có vai trò

dùng thuốc thảo mộc hiệu quả điều trị sẽ tốt hơn.

phế nham (ung thư phế quản).
1. Phế nham.

Bệnh nguyên phát, bệnh biến tại phế; biểu hiện triệu chứng chủ yếu
là: Nội phế kết độc, độc thành khối u lưu, hữu hình, hữu chứng, khái thấu,
suyễn tức, khí đoản, khái đàm trệ huyết, hung thống phát sốt; kèm theo
đau xương khớp, ngón tay biến dạng, bì phu cơ nhục cải biến hoặc phiền
khát đa niệu, nam giới vú to lên, thời kỳ sau gầy gò, cổ nách nhiều hạch
(thành đám hoặc kết hòn hoặc xâm lấn dần vào cơ quan hoặc lưu chuyển
đến tạng phủ khác để xuất hiện các triệu chứng tương ứng.
Nguyên nhân phế nham bệnh: có ngoại cảm tà độc, có nội thương
thất tình, có phiêu phong dị thường.
Chủ bệnh là : khí cơ không thông, đàm độc nội kết, ứ huyết thương
lạc.
Về biện chứng phương trị loại trừ nguyên nhân sinh bệnh là thứ
yếu, chủ yếu là biện chứng về tà chính hư thực, tiêu bản hoãn cấp, cứu
nguy kéo dài đời sống là cơ bản.
- Phế nham đột xuất phải phối hợp tây y - y học cổ truyền để điều
trị trong thời kỳ đầu; thời kỳ giữa phải phẫu thuật phối hợp với xạ trị, hóa
19


liệu, Trung y dược biện chứng, biện bệnh, phù chính - trừ tà, điều lý diệt
độc sẽ nâng cao hiệu qủa điều trị. Sau khi điều trị bằng phóng xạ, hóa
chất, phẫu thuật phối hợp với Trung y dược trị sẽ hạn chế phần nào được
di căn, tái phát và kéo dài thêm đời sống cho bệnh nhân.
- Phế nham thời kỳ sau: dùng các thuốc tây y không hiệu qủa; điều
trị thuốc Trung y lại thấy không ít bệnh nhân tiến triển đột biến tốt, thời

2.2.1. Sau phẫu thuật:
Phế nham thời kỳ đầu, phần phế nham đã được cắt bỏ, bệnh lý
chứng thực đã được loại trừ bằng phẫu thuật, không nhất thiết phải điều
trị phóng xạ hoặc hóa dược (hoá chất) mà có thể chọn dùng các thuốc
trung y có tác dụng phù chính - trừ tà điều hòa miễn dịch phối hợp với các
thuốc kháng nham thảo mộc.

20


Biện chứng đặc trưng: thời kỳ đầu sau phẫu thuật, đa số khí hư, âm
hư là chủ, số ít có ứ nhiệt, sau hồi phục đa phần là hư chứng ở mức độ
khác nhau.
- Phương pháp trị liệu:
. Sau phẫu thuật: ích khí dưỡng âm, thanh nhiệt hoạt huyết.
. Khi hồi phục: ích khí dưỡng âm, hóa ứ tán kết.
- Phương thuốc thường dùng:
. Sau phẫu thuật: Sinh mạch ẩm, sa sâm, mạch đông thang, “bổ phế
a giao thang” gia giảm.
. Khi hồi phục: “Sinh mạch ẩm” gia vị.

2.2.2. Phế nham thời kỳ tiến triển:
Là chỉ bệnh có triệu chứng thũng lưu cấp nham rõ rệt, nhưng hình
thể còn mập, sinh hoạt thể lực hoạt động, ăn uống chưa có trở ngại, tức là
“Tà khí thịnh mà chính khí dương xung” , là thời kỳ chính tà giao tranh.
- Phương trị: Giải độc tán kết, hóa ứ hành khí, hoạt huyết, chỉ huyết,
công trục đàm ẩm liễm ngoan khí âm.
- Phương thuốc:
. Hoàng liên giải độc thang, đạo đàm thang, huyết phụ trục ứ thang.
. Đình lịch đại táo tả phế thang, đại hãm hung thang, ngưu hoàng thang

thần kinh cảm giác. Khi phối hợp với thuốc trung thảo dược thường khắc
phục được tồn tại trên, hạn chế tác dụng phụ và hiệu qủa điều trị được
nâng cao.
- Phương pháp trị liệu: ích khí dưỡng huyết - kiện tỳ bổ thận là
chủ, chống phản ứng đường tiêu hóa phải lấy hòa vị giáng nghịch - lý khí
tiêu trướng , kết hợp kiện tỳ chỉ tả. Chống tủy xương bị ức chế phải thêm
thuốc bổ khí huyết; chống chức năng gan bị tổn thương phải xơ can - lợi
đởm; chống chức năng tạng tâm bị tổn hại phải dưỡng tâm - an thần; mạt
đoạn thần kinh tổn thương phải dưỡng huyết - tức phong; miễn dịch bị ức
chế phải lấy thuốc phù chính là chủ.
- Phương thuốc thường dùng: “Sinh huyết thang”, “kiện tỳ bổ thận
phương”, “nhân sâm dưỡng vinh thang”, “quất bì trúc nhự thang”, “qui tỳ
thang”, “kiện tỳ hoàn”, “khai vị tiêu thực thang”, “hương sa lục quân tử
thang” và “sâm linh bạch truật hoàn”.

2.3. Phương thuốc kinh nghiệm chữa phế nham
- Phương thuốc thường dùng
Ngư tinh thảo
20g
Trư phục linh
15g
Sa sâm
5g
Mạch đông
10g
Qua lâu
20g
Ngân hoa
10g
Xuyên bối mẫu 10g

nguyên phát tại tạng can. Bệnh có thể phát ở mọi lứa tuổi từ trẻ 2 tháng
tuổi đến người già 80 tuổi; tuổi trung bình là 43,7; tỷ lệ cao nhất vào tuổi
40 - 49; nam nhiều hơn nữ. ở Trung Quốc và Việt Nam, can nham chiếm
tỷ lệ tương đối cao. Tỷ lệ tử vong do bệnh này đứng vào hàng thứ 3 so với
22


tử vong các bệnh tiêu hóa. Nguyên nhân phát bệnh chưa rõ, đặc điểm lâm
sàng thời kỳ đầu không điển hình, thường lẫn trong triệu chứng của bệnh
đường tiêu hoá. Thời kỳ 3 đột nhiên tiến triển nhanh, diễn biến nặng
không quá 6 tháng. Thời kỳ 4 có tỷ lệ tử vong rất cao. Về điều trị, hiện
nay còn gặp nhiều khó khăn, điều trị hóa chất hiệu qủa chưa tiên lượng
được, thời kỳ giữa có thể kết hợp điều trị phóng xạ điều trị can nham bằng
miễn dịch liệu pháp đến nay được coi là biện pháp hỗ trợ.
+ Theo YHCT: Thường mô tả can nham trong tổng hợp các chứng:
huyết thống, vị quản thống, tiết tả, hoàng đản, cổ chướng, thổ huyết, tiện
huyết, hư lao, tích tụ, nội thương phát nhiệt.
YHCT cho rằng, bản chất can nham là đặc điểm bản hư và tiêu
thực. Điều trị chủ yếu lấy “Công bổ kiêm thi” hoặc công tà là chủ hoặc
phù chính là chủ. Hiện nay trên lâm sàng thường kết hợp cả hai phương
pháp trên với mục đích kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng
cuộc sống.
2. Chẩn đoán bệng dựa vào:

+ Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý, tổ chức học xác định là can nham
nguyên phát.
+ Chẩn đoán lâm sàng:
- Triệu chứng của can nham; αFP (+) hoặc phóng xạ miễn dịch ≥
500 mg/ml kéo dài .
- Biểu hiện lâm sàng của can nham: phúc thuỷ (cổ chướng) hoặc là

Vùng gan chướng, đau liên tục, đau tăng lên khi ấn gõ, ăn kém,
không muốn ăn, vị quản chướng đầy hoặc chướng đau, toàn thân vô lực,
sắc mặt vàng bủng, đại tiện lỏng nát, chất lưỡi nhợt hoặc bệu to, rìa lưỡi
có hằn răng, mạch hư nhược hoặc tế nhược hoặc huyền tế vô lực.
- Phương pháp điều trị: Sơ can lý khí - kiện tỳ hóa vị.
- Phương thuốc: “Sài hồ sơ can tán” gia giảm.
3.2.2. Thể huyết ứ nội trở, can lạc bất thông (nhóm xơ gan):
Đau nhói vùng gan, cự án, bệnh ngày nhẹ đêm nặng, miệng khô,
không muốn ăn, sắc mặt sạm đen, hình thể gầy gò, đa số có kỳ nhiệt, da
cơ khô, móng chân móng tay khô sác, có thể có bàn tay son, có sao mạch
rõ, nôn ra máu, ỉa ra máu, rêu lưỡi xám tía có ban điểm ứ huyết, mạch
huyền hoặc là tế nhược.
- Phương pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ - thông kinh hoạt lạc.
- Phương thuốc thường dùng: “Huyết phụ trục ứ thang” gia giảm.
3.2.3.Thể ứ độc nội trở, ngoan tụ bất tán (thể viêm):
Vùng gan đau kịch liệt, đau mỗi ngày 1 tăng hoặc đau chướng là
chính, có lúc sốt cao, có lúc không sốt, bệnh tình tiến triển tăng; thường
khoảng 50% các trường hợp có vàng da, vàng mắt; có phúc thủy (cổ
chướng), tiểu tiện vàng đỏ; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng hoặc vàng nhờn;
mạch hoạt sác.
- Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt - giải độc, tiêu ứ kháng nham.
- Phương thuốc điều trị: “Bạch xà lục vị phương” gia giảm.
3.2.4. Khí âm song hao, chính bất thắng tà (giai đoạn cuối):
Sắc mặt xám đen hoặc xám bệch, thiểu khí phạp lực, loạn ngôn, tư
hãn,vùng gan ẩn thống, khí nghịch ẩu thổ, đại tiên lỏng nát, lông tóc khô
cứng, móng tay và móng chân khô ráp, mất rêu lưỡi, lưỡi không có hằn
răng, mạch tế nhược.
- Phương pháp điều trị: ích khí dưỡng âm - phù chính kháng nham.
- Phương thuốc thường dùng: “Lục vị địa hoàng hoàn” gia giảm.


Thất diệp nhất chi hoa 10g
Nga truật 20g.
2.2 Tỳ hư đàm thấp trở trệ.
Sắc mặt vàng tối, tinh thần mệt mỏi, chi giá lạnh, ngực tức, bụng
chướng, đại tiện lỏng nát, rêu lưỡi trắng dính nhớt, chất lưỡi nhợt, mạch
huyền hoạt.
- Pháp chữa: kiện tỳ - hóa đàm - tán kết - giải độc.
- Bài thuốc: “Hương sa lục quân” gia thêm cỏ lưỡi rắn 40g, cốc tinh
thảo 12g.
2.3. Thể độc ứ.
+Tâm phiền táo trằn trọc, mặt mắt đỏ, đau vú dữ dội, chất lưỡi đỏ
có nhiều ban đỏ ứ huyết, lưỡi thường không rêu, mạch huyền sác, tiểu tiện
vàng đỏ. Pháp chữa là hoạt huyết - hóa ứ - thanh nhiệt - giải độc.
+Nếu bệnh nhân hay cáu gắt giận dữ, tinh thần u uất, ăn kém, ợ hơi,
đầy chướng, quanh quầng vú có khối u rắn, ấn đau, rêu lưỡi vàng mỏng
mạch huyền tế là can khí uất kết.
- Pháp chữa: thư can - giải uất - nhuyễn kiên - tán kết.
- Bài thuốc: “Tiêu giao tán” gia giảm.
- Trọng dụng:
Sài hồ tẩm giấm 12g
Thanh bì
15g
Hương phụ
12g
Qua lâu
15g
Uất kim
12g
Đương qui 10g
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status