1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Trần Thị Kim Tuyền – Nông nghiệp: trái cây
Thân Lê Tấn Định – Nông nghiệp: lúa, gạo
Thân Lê Tấn Lượng – Công nghiệp chế biến
Nguyễn Huỳnh Trân– Nông nghiệp: cây công nghiệp
Đặng Thăng Long Công nghiệp khai khoáng: dầu mo
Ngô Thành Đạt
Trần Hoàng Thảo Anh Công nghiệp gia dụng
Ngô Thị Tuyết Thi
Lê Huy Hoàng – Công nghiệp dệt may
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường hướng ra xuất khẩu những mặt hàng xuất khẩu, những mặt
hàng của Việt Nam dần dần đã thâm nhập được thị trường quốc tế, đưa mặt hàng của Việt
Nam đáp ứng với nhu cầu của người tiêu dùng thế giới. Hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu
hàng hoá nên Việt Nam đã chính thức ký kết, thiết lập mối quan hệ ngoại giao với cộng
đồng Châu Âu. Liên minh châu Âu (EU) là một tổ chức khu vực rộng lớn nhất thế giới hiện
nay,có sự liên kết tương đối chặt chẽ và thống nhất được coi là một trong ba “siêu cường”
có vị thế ngày càng tăng (Mỹ,EU,và Nhật Bản).EU là một tổ chức có tiềm năng to lớn trong
lĩnh vực thương mại. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là những mặt hàng
mà thị trường này có nhu cầu cần nhập khẩu hàng năm với khối lượng lớn. Hoạt động xuất
khẩu có thể gia tăng ngoại tệ,cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nhà nước.
Việt Nam cung sản lượng gạo đứng thứ hai trong các quốc gia xuất khẩu gạo nhưng cũng
phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ các quốc gia có nguồn cung gạo còn lại.
1.2 Nhu cầu gạo trên thế giới
Năm 2012 các nước châu Phi nhập khẩu 10,5 triệu tấn,
giảm 2% so với năm 2011. Nguồn cung dồi dào là
nguyên nhân khiến một số nước như Benin, Guinea, Sierra Leone và Tanzania cắt giảm
lượng gạo nhập khẩu. Tổ chức FAO cũng cho biết lượng gạo nhập khẩu của Ai Cập năm
2012 là 100 nghìn tấn, giảm so với mức 350 nghìn tấn năm 2011. Nigeria, quốc gia nhập
khẩu nhiều gạo nhất tại châu Phi, cũng giảm lượng gạo nhập khẩu 8%, ở mức 1,9 triệu tấn.
Ngoài lý do sản lượng năm 2011 tăng thì việc chính phủ áp đặt các biện pháp bảo vệ hoạt
động sản xuất trong nước cũng là nguyên nhân khiến nhập khẩu tại quốc gia này suy giảm.
Nằm trong mục tiêu đến năm 2015 trở thành quốc gia tự cung về gạo, Chính phủ Nigeria sẽ
áp dụng mức thuế suất 25% đối với lúa gạo nhập khẩu bắt đầu từ ngày 1 tháng 7 năm 2012.
Ngoài ra, chính phủ có kế hoạch nâng thuế nhập khẩu gạo từ 20% lên 40%. Điều này có
nghĩa là mặt hàng sẽ có mức thuế nhập khẩu 50% và đến 31 tháng 12 năm 2012 sẽ tăng lên
100%. Triển khai các biện pháp này sẽ đánh dấu một sự thay đổi trong chính sách hải quan
của Nigeria, theo đó trong những năm gần đây quốc gia này đã có những điều chỉnh giảm
về thuế suất phù hợp với lộ trình của Chương trình thuế quan chung trong Cộng đồng Kinh
tế các quốc gia Tây Phi. Trong khi đó, một số thị trường lớn khác trong khu vực như
Senegal sẽ tăng 4% lượng gạo nhập khẩu lên ở mức 780 nghìn tấn. Cote d’Ivoire và Nam
Phi tăng lên ở mức tương ứng là 900 nghìn và 950 nghìn tấn.
Các nước châu Mỹ Latinh và vùng Caribe nhập khẩu gạo cũng tăng 6% lên 3,7 triệu tấn
trong năm 2012. Brazil sản lượng trong nước giảm nên phải tăng lượng gạo nhập khẩu lên
800 nghìn tấn, cao hơn 200 nghìn tấn so với năm 2011. Thiếu hụt sản lượng tại Haiti, Mêxi-cô, Panama và Peru cũng buộc các quốc gia phải nhập khẩu gạo nhiều hơn. Trong khi đó,
sản lượng tại Colombia có những dấu hiệu phục hồi sẽ là yếu tố khiến lượng gạo nhập khẩu
năm 2012 nước này trở về mức bình thường (khoảng 20 nghìn tấn). Đất nước Cuba, với sản
lượng giảm 5% nên lượng gạo nhập khẩu năm 2012 là 570 nghìn tấn. Phù hợp với mục tiêu
chính của Việt Nam trong mùa vụ 2011/2012 là các quốc gia châu Á chiếm 77,7% tổng
lượng gạo xuất khẩu của cả nước (tương đương 6 triệu tấn). Indonesia, Philippines và
Malaysia vẫn tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu truyền thống.
Hình 2. Xuất khẩu gạo của Việt Nam từ mùa vụ 2005 đến mùa vụ 2011 (Đvt: nghìn tấn)
Tiềm năng tiêu thụ gạo của các thị trường này vẫn còn khá lớn, tuy nhiên, theo USDA,
trong vài năm tới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này sẽ bị thu hẹp
dần. Mùa vụ 2011/12, Trung Quốc là nước nhập khẩu gạo nhiều nhất của Việt Nam với kim
ngạch hơn 2 triệu tấn. Dự báo xuất gạo của Việt Nam sang thị trường này sẽ tiếp tục tăng
trong mùa vụ 2012/13. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ
Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan và Myanmar khi xuất khẩu gạo sang Trung Quốc.
Đối với thị trường châu Phi, Việt Nam có nhiều lợi thế hơn so với Ấn Độ và Pakistan
nhất là với loại gạo tấm 5%; nhưng lại phải đối mặt với sức ép cạnh tranh gay gắt từ Thái
Lan vì các nhà xuất khẩu Thái Lan có thể hạ thấp giá bán để cạnh tranh tại thị trường quan
trọng này. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Ấn Độ và Pakistan lại có lợi thế cạnh tranh
đối với thị trường gạo chất lượng thấp (đặc biệt là gạo tấm 25%).
Xét về lượng, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi từ 1,2 đến 1,5 triệu
tấn gạo. Mùa mua sắm tại thị trường châu Phi không bắt đầu vào quý đầu tiên của năm mà
thường từ quý 2 trở đi. Gạo xuất sang châu Phi thường được bán theo cơ sở giá FOB; hàng
hóa được chuyển bằng tàu lớn và dừng lại ở nhiều cảng tại các quốc gia châu Phi khác
nhau. Chính vì vậy, rất khó để đưa ra con số chính xác về lượng gạo xuất khẩu của Việt
Nam sang châu lục này. (Bảng 3).
Theo báo cáo của USDA, Việt Nam đang muốn tiếp cận thị trường mới để đẩy mạnh xuất
khẩu. Việt Nam đã xuất khẩu gạo đến Chile và Haiti trong năm ngoái và đang tìm cách mở
rộng thị phần tại Tây bán cầu. Cũng theo báo cáo, sản lượng lúa gạo Việt Nam năm 2013
ước tính 27,65 triệu tấn, tăng so với khoảng 27,15 triệu tấn năm trước. Tiêu thụ lúa gạo
trong nước dự kiến sẽ tăng nhẹ, từ khoảng 19,65 triệu tấn năm 2012 lên 20,1 triệu tấn năm
2013. 2.3 Giá gạo xuất khẩu Năm 2012, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt 7,72
thế giới, nhưng giá trị chỉ đạt được 3,45 tỷ USD. Sản lượng tăng 8,3% nhưng giá trị thấp
hơn 1,98% so với năm 2011 (thấp hơn 70 triệu USD). Điều này cho thấy một nghịch lý
người nông dân sản xuất càng nhiều thì giá bán càng rẻ và lợi nhuận giảm. Nếu chúng ta so
sánh với Thái Lan, diện tích đất trồng lúa của Việt Nam chỉ khoảng 3,5 triệu ha và diện tích
này có khuynh hướng giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, sân gôn hóa… trong
khi đó Thái Lan có đến 10 triệu ha đất trồng lúa. Do vậy, việc Việt Nam đứng thứ hai thế
giới trong xuất khẩu gạo vượt qua Thái Lan là không bền vững nếu chúng ta không chú ý
tới chất lượng mà chỉ chạy theo số lượng. Như vậy, trong sản xuất lúa gạo, Nhà nước và
chính quyền địa phương phải có định hướng, tuyên truyền, khuyến cáo người nông dân
muốn xuất khẩu bền vững thì phải chú ý đến chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường, tăng
cường sản xuất lúa thơm jasmine hoặc gạo Homali là những loại gạo đang được thị trường
ưa chuộng và có giá cả hợp lý bên cạnh đó sản xuất giống lúa IR50404 ở mức độ vừa phải
(dưới 20%), từ đó người nông dân sẽ thấy được hiệu quả và lợi nhuận mang lại từ việc sản
xuất các giống lúa thơm, nhận thức được sự gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ (xuất khẩu).
Bên cạnh đó, Nhà nước và chính quyền địa phương cần có một sự đầu tư thoa đáng cho việc
tuyển chọn những giống lúa chủ lực, phù hợp với thổ những từng vùng, miền cho năng suất
và giá trị cao phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước (thấu hiểu chiết lý “sản
xuất cái mà thị trường cần”) và không nên chạy theo số lượng để có vị trí thứ nhất hay thứ
hai về số lượng, đã đến lúc phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng đế có giá trị cáo vì năng
suất lúa và diện tích trồng lúa không thể tăng mãi được. Hai là, Xây dựng thương hiệu cho
gạo Việt Nam Năm 2012 giá gạo Việt Nam rất thấp so với các đối thủ cạnh tranh nên hiệu
quả xuất khẩu và đời sống của người trồng lúa không được cải thiện là mấy. Chúng ta sản
xuất ra lúa, gạo nhưng cái chúng ta cần bán là thương hiệu gạo. Có thương hiệu không chỉ
là việc bán được giá cao mà còn ghi dấu ấn vào thị trường với những sản lượng và giá trị ổn
định. Thương hiệu không chỉ là nhãn hiệu, tên gọi mà nó còn hàm chứa sở hữu trí tuệ khác
như bao bì, mẫu mã, kiểu dáng, quảng bá, tiếp thị giới thiệu sản phẩm… chúng ta chưa có
được loại gạo nào mà khi nhắc đến tên gạo là nhắc đến Việt Nam. Trong khi đó, nhắc đến
Thái Lan, ai cũng có thể kể tên những giống gạo ngon nổi tiếng của nước này, như gạo
với quy mô khoảng 4,4 nhân khẩu/1 hộ, với lợi nhuận thu được từ sản xuất lúa khoảng
230USD/người-năm. Qua số liệu này cho thấy, phần lớn người nông dân sản xuất lúa ở Việt
Nam là nghèo. Như vậy, Nhà nước phải có sự quan tâm kịp thời khi giá lúa giảm để trợ giá
cho người nông dân đảm bảo cho họ luôn có mức lợi nhuận định mức từ 30% trở lên, để họ
tái sản xuất và yên tâm, gắn bó với nghề nông của mình.
Tên một số loại gạo, doanh nghiệp xuất khẩu của nước ta :
Tiêu chuẩn xuất khẩu Gạo hạt dài
Tấm
Loại gạo
(%)
Độ
ẩm
(%)
Hạt
hư
(%)
Hạt
vàng
(%)
Tạp
chất
(%)
Dâu tằm là cây công nghiệp truyền thống, nay được phát triển cùng với việc khôi phục
nghề tằm tơ ở nước ta, được trồng nhiều nhất ở tỉnh Lâm Đồng. Cây bông mới được chú
trọng phát triển, trồng phổ biến ở Đắc Lắc, Đồng Nai và một số tỉnh Nam Trung Bộ. Mía
được trồng ở hầu khắp các tỉnh, nhưng tập trung tới 75% diện tích và 80% sản lượng ở các
tỉnh phía Nam (đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và duyên hải miền Trung).
Đậu tương, lạc, thuốc lá được trồng nhiều trên đất bạc màu. Đậu tương được trồng nhiều
nhất ở miền núi, vùng trung du phía Bắc (Cao Bằng, Sơn La, Bắc Giang), chiếm hơn 40%
diện tích đậu tương cả nước, ngoài ra còn được trồng nhiều ở các tỉnh Hà Tây, Đồng Nai,
Đắc Lắc và Đồng Tháp. Cây lạc phù hợp trên đất phù sa cổ ở các tỉnh Tây Ninh, Bình
Dương, trên đất cát pha các đồng bằng duyên hải miền Trung, nhất là ở Bắc Trung Bộ và ở
trung du Bắc Bộ. Cây thuốc lá được trồng nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ, duyên hải
miền Trung và miền núi, vùng trung du phía Bắc.
-Sản lượng xuất khẩu một số cây công nghiệp lâu năm ở nước ta thời gian gần đây?
Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, 9 tháng đầu năm 2008, Việt Nam
đã xuất khẩu được 449,33 nghìn tấn cao su các loại với kim ngạch 1,22 tỉ USD, giảm 9,48%
về lượng nhưng lại tăng 30,44% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007. Dự báo từ nay đến hết
năm, lượng cao su xuất khẩu có thể đạt trên 300 nghìn tấn, kim ngạch đạt 800 triệu USD,
đưa kim ngạch xuất khẩu cao su cả năm lên gần 1,7 tỉ USD, tăng 21,6% so với năm ngoái.
Trong tháng 8 năm 2008, cả nước đã xuất khẩu được 53,3 nghìn tấn chè các loại với kim
ngạch đạt 16,5 triệu USD, tăng 339,15% về lượng, song lại giảm 7,36% về kim ngạch so
với tháng trước. Đồng thời cũng giảm 64,20% về kim ngạch so với tháng 8 năm 2007 mặc
dù tăng 367,49% về lượng. Như vậy, tính chung 8 tháng đầu năm 2008, lượng chè xuất
khẩu của nước ta đã đạt 330,4 nghìn tấn với kim ngạch 161,6 triệu USD, tăng 70,55% về
lượng nhưng giảm nhẹ 4,15% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo Hiệp hội cà phê Việt Nam (Vicofa), sản lượng xuất khẩu cà phê năm nay của Việt
Nam không cao. Tuy nhiên, cả nước đã xuất khẩu trên 1 triệu tấn cà phê nhân, đạt kim
ngạch 2 tỉ USD, giảm về sản lượng nhưng do giá xuất khẩu cao, bình quân 1.937 USD/tấn
nên kim ngạch xuất khẩu cũng cao hơn trước.
trước lượng tối đa cho phép (MRLs) của hoá chất này là 0.1ppm, nhưng năm 2017 có thể sẽ
không còn được như vậy, Uỷ ban Châu Âu EC đang kiến nghị áp dụng MRLs cho phép chỉ
là 0.05ppm.
Theo thông tin chính thức từ Hiệp hội Gia vị Châu Âu (ESA), trong thư gửi VPA và Bộ
Nông nghiệp – PTNT cuối tháng 1/2017 vừa qua cho biết năm 2016, ESA phân tích 799
mẫu hạt tiêu đen nhập vào EU năm 2016 thì chỉ có 17% số mẫu có mức dư lượng tối đa cho
phép dưới 0.05ppm. Nếu tình hình sản xuất Hồ tiêu vẫn như 2016 thì đồng nghĩa với việc
năm 2017 sẽ có thể có tới trên 80% hạt tiêu của Việt Nam khó có cơ hội vào được thị
trường Châu Âu, thị trường vốn tiêu thụ xấp xỉ 40.000 tấn, chiếm 23% tổng lượng Hồ tiêu
xuất khẩu của VN hàng năm.
Với thị trường Mỹ, nơi mà vài năm trở lại đây có tới trên 40.000 tấn hạt tiêu được nhập từ
Việt Nam, chiếm 24% tổng SL HT XK của VN, tương đương Châu Âu, cũng đang chuẩn bị
ban hành hàng loạt qui định mới về yêu cầu chất lượng nông sản nhập khẩu trong đó có hạt
tiêu.
Chất lượng là vấn đề sống còn của ngành Hồ tiêu VN trong thời gian tới nhưng quản lý chất
lượng ở các vùng SX Hồ tiêu thế nào để đáp ứng yêu cầu thị trường XK vẫn là câu hoi trăn
trở. Tâm lý tìm kiếm năng suất cao để có thu nhập cao bằng mọi giá của đa số nông dân
trồng HT ở nước ta đã khiến việc sử dụng phân bón quá mức, đẩy cây HT vào tình trạnh
sinh trưởng mất cân đối, dễ nhiễm sâu bệnh để rồi lại sử dụng tràn lan thuốc BVTV để
“cứu” tài sản bạc tỷ của mình đang là một thực tế buồn. Chỉ khi nào đa số nông dân trồng
tiêu nhận ra được tính nghiêm trọng của vấn đề canh tác kém hiểu biết đó, thay đổi hành vi,
canh tác theo GAP thì chất lượng hạt tiêu mới có thể cải thiện, xuất khẩu theo đó mới có thể
bền vững.
-Ngành cà phê:
Tình hình thị trường cà phê thế giới:
Giá trị thị trường của ngành cà phê bán lẻ trên thế giới ước tính khoảng 70.68 tỷ đô la (năm
2011) (Euromonitor). So với thị trường cà phê nguyên liệu thì giá trị cà phê rang xay thành
phẩm cao hơn gấp 9 hoặc 10 lần, nâng tổng giá trị giao dịch cà phê thành phẩm lên tới trên
khoảng 287,34 triệu USD năm 2012. Mintel dự đoán sẽ tăng đến 573,75 triệu USD vào năm
2016.
Thị trường cà phê Việt Nam được chia thành 2 phân khúc rõ ràng. Cà phê rang xay (cà phê
phin) chiếm khoảng 2/3 lượng cà phê được tiêu thụ; còn lại là cà phê hòa tan. Theo nghiên
cứu của Học viện Marketing Ứng dụng I.A.M về thói quen sử dụng cà phê, 65% người tiêu
dùng có sử dụng cà phê Việt Nam uống cà phê 7 lần/tuần, nghiêng về nam giới (59%).
Riêng cà phê hòa tan có 21% người tiêu dùng sử dụng cà phê hòa tan từ 3 đến 4 lần trong
tuần, nghiêng về nhóm người tiêu dùng là nữ (52%).
Sức tiêu thụ cà phê Việt Nam còn khá thấp Việt Nam sử dụng chừng 5% cà phê thô để chế
biến, trong khi đó tỷ lệ này của Brazil là 50%. Việt Nam có 5 nhãn hiệu cà phê hòa tan,
Brazil có 20 nhãn hiệu. Về cà phê rang xay, thì Việt Nam có 20 nhãn hiệu, trong khi đó số
lượng của Brazil là 3.000 nhãn hiệu.
Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu cà phê nhân ở Việt Nam
+Về xuất khẩu:
Doanh nghiệp xuất khẩu cà phê
Việt Nam có 153 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cà phê, trong khi chỉ có 20 công ty nước
ngoài thu mua và cung cấp cho 8 nhà rang xay lớn của thế giới.
Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê FDI
Niên vụ 2011- 2012: tổng số sản lượng thu mua của các doanh nghiệp FDI bằng 45% sản
lượng của cả niên vụ, trong đó hàng năm lượng thu mua của các doanh nghiệp FDI thu như
Nestlé chiếm 15% (khoảng 250.000 tấn), Nedcoffee chiếm 9% (khoảng 150.000 tấn). Ở Gia
Lai, chỉ riêng chi nhánh Công ty TNHH Louis Dreyfus Commodities đã chiếm hơn 40%
tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả tỉnh trong năm 2012.
Các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân trong nước
Năm 2010: tập đoàn Intimex chỉ xếp vị thứ 2 trong các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân
lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch vào khoảng 142.134 tấn (13.59% kim ngạch xuất
khẩu cà phê cả nước), đứng vị trí đầu tiên là Tổng công ty cà phê Việt Nam với kim ngạch
177.902 tấn (16.46% kim ngạch xuất khẩu cả nước) và tập đoàn Thái Hòa xếp vị trí thứ 2
với kim ngạch xuất khẩu là 82.951 tấn (7.93% kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước).
Nhưng đến niên vụ 2011-2012, Tập đoàn Intimex xếp vị trí đứng đầu trong các doanh
Theo số liệu của Bộ nông nghiệp Hoa Kì (USDA) lượng cà phê hòa tan xuất khẩu của Việt
Nam niên vụ 2011-2012 là 21.600 tấn.
Năm 2012: Trung Nguyên doanh thu từ việc xuất khẩu cà phê sang thị trường Trung Quốc
là 50 triệu đô la.
Doanh thu xuất khẩu cà phê hòa tan của Vinacafé Biên Hòa chiếm 8-10% doanh thu hằng
năm chủ yếu tập trung ở 2 thị trường Mỹ chiếm 85% thị phần xuất khẩu và còn Hồng Kông,
Đài Loan, Trung Quốc chiếm 15%.
Về cà phê nhân:
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân của
Việt Nam. Tổng tiêu thụ robusta ở Mỹ đã tăng 7% trong năm 2012, sau khi tăng 3,9% trong
năm 2011 và 3,6% năm 2010 (theo StudyLogic). Trong khi đó, nhu cầu các sản phẩm từ
Arabica chỉ tăng 1,9% trong năm 2012, sau khi tăng 4,1% năm 2011 và 5,4% năm 2010.
Trung Quốc cũng sẽ là thị trường nhập khẩu tiềm năng. Việt Nam cung cấp khoảng 90%
tổng lượng cà phê Trung Quốc nhập khẩu từ các nước ASEAN trong khoảng từ năm 20022011.
Việt Nam sẽ tăng diện tích và sản lượng cà phê bền vững bởi các công ty rang xay lớn nhất
thế giới như Nestlé, Starbucks, D.E Master Blenders 1753, Kraft Food Group, Tchibo đồng
thời lên tiếng về việc sẽ tăng tỉ lệ cà phê bền vững trong nguyên liệu sản xuất của họ (theo
Coffee in the United States: Sustainability Trends).
Về cà phê hòa tan và rang xay:
Thị trường cà phê hòa tan và rang xay của Việt Nam vẫn đang hấp dẫn đối với các doanh
nghiệp được thể hiện ở chỗ các nhà máy của Nestlé, Vinacafé Biên Hòa, Trung Nguyên đều
đã hoạt động hết công suất và họ đều đang mở rộng qui mô sản xuất lên và việc mới đây
ngày 28/4 công ty cà phê Ngon của Ấn Độ vừa mới khánh thành nhà máy chuyên sản xuất
cà phê hòa tan lớn nhất Châu Á tại cụm Công Nghiệp huyện Cư Kuin, Đắk Lắk với công
suất 10.000 tấn/năm.
Tuy Việt Nam có rất nhiều loại cà phê hòa tan nhưng chủ yếu là cà phê truyền thống. Trong
tương lai với sự tham gia của nhiều thương hiệu cà phê đặc biệt (Starbucks đã mở cửa hàng
cà phê đầu tiên tại Việt Nam) thị trường sẽ phân chia lại và định hình rõ ràng hơn 2 loại cà
rất thích hợp với sở thích của phái nữ với sự hòa quyện giữa mùi và vị tạo ra một cảm giác
dân dã, cao sang quý phái.
Trái cây xuất khẩu của Việt Nam
Giơí thiệu các loại trái cây xuất khẩu ở Việt Nam
Với nhiều thuận lợi về khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có rất nhiều loại trái cây đa dạng, có
chất lượng tốt phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Các vùng có thế mạnh trồng trái
cây xuất khẩu chủ yếu tập trung tại khu vực phía Nam. Các loại trái cây xuất khẩu chủ yếu
của Việt Nam hiện nay là dứa đóng hộp, bưởi, xoài, thanh long…
1/ Giới thiệu chung về ngành kinh doanh xuất khẩu trái cây Việt Nam:
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đơí gió mùa , tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển các cây nhiệt , được phân bố khắp cả nước với nhiều sản phẩm mang đặc
trưng riêng . Tính đến năm 2011 , cả nước ta có 832.000 ha diện tích đất trồng cây ăn quả
với nhiều chủng loại trái cây có chất lượng dinh dưỡng cao , sản lượng mỗi năm 7-8 triệu
tấn , là một trong những nước có diện tích trồng cây ăn quả lớn trong khu vực , miền Bắc
có các loại, nổi bật là : mơ Hương Sơn ( Hà Nội ), đào ( Sapa), táo mèo ( Sơn La), vải thiều
Thanh Hà (Hải Dương),vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ) ,
nhãn lồng (Hưng Yên), ổi bo (Thái Bình), chuối ngự (Hà Nam), cam Canh( Hà Nội), dứa
Đồng Dao (Ninh Bình)… Miền trun có các loại trái cây đặc sản như : bưởi Thanh Trà
( Thừa Thiên Huế ), xoài tượng ( Bình Định ), sầu riêng Khánh Sơn (Khánh Hòa ),
nho(Ninh Thuận), thanh long( Bình Thuận ), … Miền Nam có các loại trái cây đặc sản
như : măng cụt Lái Thiêu (Bình Dương), bưởi Biên Hòa , chôm chôm Long Khánh( Đồng
Nai), nhãn xuồng cơm vàng ( Bà Rịa- Vũng Tàu ), mãng cầu Cần Giờ ( Thành Phố Hồ Chí
Minh), sơ ri Gò Công , xoài cát Hòa Lộc , vú sữa Lò Rèn , dưa hấu Gò Công (Tiền Giang ),
bưởi Năm Roi ( Vĩnh Long) . Trái cây Việt Nam có nhiều ưu thế phát triền theo như Đồng
Bằng Sông Cửu Long , Trung du miền núi phía Bắc , Đông Nam Bộ , đồng bằng Sông
Hồng , Bắc Trung Bộ , Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên .
Ngành trái cây đã và đang có nhiều tác nhân tham gia trong các lĩnh vực sản xuất cũng như
Với những vùng chuyên canh lớn, để phát triển ngành công nghiệp hoa quả đáp ứng các
tiêu chuẩn GAP, sản lượng xuất khẩu chắc chắn sẽ tăng. Hiện nay, rất nhiều cánh cửa đang
mở rộng đối với những nhà vườn Việt Nam có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn GAP. Ngày
nay, rất nhiều nước trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn GAP vào việc kiểm tra các loại nông
phẩm nhập khẩu vào đất nước mình.
Mặc dù Nga, EU và Hoa Kỳ là những thị trường khó tính, nhưng nếu áp dụng được tiêu
chuẩn GAP vào trong canh tác, chắc chắn trái cây của Việt Nam có thể cất cánh ngang bằng
với các loại trái cây của Thái Lan hay Trung Quốc.
Ngoài những khó khăn trong công tác bảo quản, các nhà xuất khẩu trái cây của Việt nam
còn phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt với các loại trái cây đến từ Thái Lan và Trung
Quốc. Hiện nay, mặc dù sản phẩm trái cây của Việt Nam rất lớn song nước ta lại nhập khẩu
một lượng tương đối lớn trái cây của Thái Lan để tiêu thụ tại thị trường nội địa. Nhiều
người dân có thu nhập cao lại ưa dùng những sản phẩm trái cây của Thái Lan hơn do chất
lượng tốt hơn và đảm bảo hơn của Việt Nam. Thêm vào đó, các sản phẩm trái cây của
Trung Quốc mặc dù chất lượng không cao nhưng giá thành lại rất rẻ, do đó các sản phẩm
này được đối tượng người tiêu dùng có thu nhập thấp ưa dùng. Tính từ đầu năm đến nay,
nhiều hợp đồng xuất khẩu trái cây của Việt Nam được kí kết và những lô hàng đầu tiên đã
"đặt chân" đến các thị trường khó tính.
Cụ thể, vào tháng 4, một trong những hệ thống bán lẻ lớn nhất của Nhật Bản là Don Kihote
đã chính thức bày bán chuối Việt Nam. Để xuất khẩu được vào thj trường này, sản phẩm đã
phải đáp ứng được các tiêu chuẩn, điều kiện khắt khe, từ thổ nhưỡng đến quy trình chọn
giống, chăm bón, thu hoạch, đóng gói bao bì, vệ sinh thực phẩm, cách xếp trong container...
Vào tháng 6, Việt Nam cũng xuất khẩu nhiều lô vải thiều sang Mỹ, Australia và một số
nước khác.
Mỗi năm có trên 10 tấn trái vú sữa Lò Rèn được xuất khẩu sang thị trường Anh, Canada.
Cùng với đó, các loại Bơ cơm vàng (Đồng Tháp) và Bơ hồng (Bến Tre) cũng đang được
xuất khẩu ra nước ngoài.
Lần gần đây nhất là sau khi được cấp phép vào ngày 21/9, những trái xoài tươi đầu tiên của
Việt Nam đã xuất hiện trên thị trường Úc và bước đầu được bày bán trên sạp hàng của một
số cửa hàng, siêu thị ở thành phố Perth.
quả trong năm 2016 sẽ lần đầu tiên vượt qua lĩnh vực lúa gạo về giá trị.
Một thông tin lạc quan khác là Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) vừa đề xuất xin ý kiến công
chúng về việc sửa đổi các quy định cho phép trái xoài tươi của Việt Nam được nhập khẩu
vào thị trường Mỹ. Với động thái này, có thể khẳng định gần như chắc chắn đến cuối năm
nay xoài tươi sẽ là loại trái cây thứ sáu của Việt Nam được tiêu thụ tại thị trường Mỹ sau
thanh long, chôm chôm, vải, nhãn và vú sữa.
Hiện nay các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, EU, Úc đã mở cửa với hàng loạt trái cây
đặc sản Việt Nam. Thông tin từ Bộ Nông lâm ngư nghiệp Nhật vừa cho biết sẽ mở cửa cho
xoài cát của Việt Nam từ ngày 17/9. Đây là trái cây tươi thứ hai của nước ta được xuất khẩu
vào thị trường cao cấp này sau trái thanh long.
Để xoài vào được thị trường Nhật, các cơ quan chức năng của Việt Nam mất 5 năm chuẩn
bị hồ sơ, xây dựng quy trình xử lý dịch hại mới được phía Nhật chấp thuận.
Không chỉ xoài mà hàng loạt trái cây Việt Nam khác như vải, vú sữa, thanh long, nhãn…
cũng đã được xuất sang Mỹ, Úc, Hàn Quốc, New Zealand; trong số đó có vải thiều mà
trước đây phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc thì giờ đây đã chinh
phục được cả những thị trường rất khắt khe như Mỹ, Canada, Pháp… Mới đây, hơn 30 tấn
vải thiều của chúng ta đã được bán tại Úc và bước đầu nhận được phản hồi tích cực của
người tiêu dùng.
c/ Thực trạng và nguyện vọng
Diện tích cây ăn quả của Việt Nam hiện đạt 786 nghìn hécta, trong đó vùng Đồng bằng
sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất cây ăn quả lớn nhất cả nước, đạt 298 nghìn hecta
(chiếm 37,9% tổng diện tích cây ăn quả cả nước); vùng Đông Nam bộ đứng hàng thứ hai,
với diện tích 187 nghìn hecta (chiếm 23,8% tổng diện tích cây ăn quả cả nước).
Những năm gần đây, diện tích cây ăn quả có tốc độ phát triển chậm (chỉ hơn 1% năm). Tuy
nhiên, nhờ tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi giống cây trồng, sản xuất
chuyên canh và trình độ canh tác của các nhà vườn được nâng cao… nên năng suất và sản
lượng cây ăn quả tăng trưởng mạnh (3 – 4%/năm).
Các chủng loại trái cây được trồng khá tập trung ở các vùng phù hợp với điều kiện thổ
thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng, vú sữa, bưởi, nhãn, chuối, dứa, cam, mãng cầu và
quýt. Tổng diện tích cây ăn quả chủ lực trồng tập trung dự kiến đến năm 2020 là 257 nghìn
hecta, chiếm 52% tổng diện tích quy hoạch cây ăn trái ở Nam bộ, trong đó vùng ĐBSCL
hơn 185 nghìn hecta, vùng Đông Nam bộ 72 nghìn hecta.
- Xoài là loại cây có diện tích trồng tập trung lớn nhất với gần 46 nghìn hecta, tiếp đó là
nhãn 30 nghìn hecta, chuối 29 nghìn hecta, bưởi 28 nghìn hecta, cam 26 nghìn hecta, thanh
long 25 nghìn hecta, dứa 21 nghìn hecta, chôm chôm 18 nghìn hecta, sầu riêng 15 nghìn
hecta, mãng cầu 8.300 hecta, quýt 5.850 hecta và vú sữa 5.000 hecta…
Mở ra một triển vọng cho trái cây vào cuối thập niên này, Bộ NN&PTNT đặt ra 2 mục tiêu:
(1) Xây dựng ngành trái cây chủ lực trồng tập trung ở Nam bộ phát triển theo hướng sản
xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm trên thị trường trong nước và nước ngoài và (2) Ít nhất 50% sản phẩm đạt tiêu chuẩn
chất lượng GAP để có thể xuất khẩu.
Để đạt mục tiêu này, Nhà nước cần tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp hợp tác với
nhóm sản xuất (doanh nghiệp sẽ là chủ lực trong liên kết), có cơ chế phù hợp để mang lại
lợi ích cao nhất cho người sản xuất.
Những con số dự báo trên không làm cho chúng ta yên lòng, bởi dù sao xuất khẩu trái cây
cũng chỉ là bước đầu trong khi chưa xây dựng được thương hiệu để có thể đứng chân vào
các thị trường nhiều cạnh tranh.
Để trái cây đến với người tiêu dùng không dễ. Chẳng hạn Úc là một trong những nước có
các quy định về kiểm dịch ngặt nghèo nhất thế giới. Mở cửa được thị trường Úc là một
phép thử quan trọng cho trái cây xuất khẩu Việt Nam.
Thị trường Mỹ ngoài các quy định về an toàn thực phẩm còn chịu sự cạnh tranh của nhiều
nước Caribe có cùng chủng loại trái cây vùng nhiệt đới như chúng ta.
Các doanh nghiệp đều biết rằng trái nhãn xuất khẩu vào thị trường Mỹ bắt buộc phải sản
xuất theo đúng quy trình hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn của nước này, trong khi
nông dân chúng ta lại sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật một cách tùy tiện. Đó là
chưa kể phải đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt của hệ thống kiểm soát Mỹ như xử lý
bay, trong khi đó chi phí vận chuyển lại cao, doanh nghiệp không thu được lợi nhuận, mà
vận chuyển bằng đường thủy lại càng không thể, vì khi đến nơi, lô hàng dễ bị hư hao.
Nếu trái cây ra thị trường nước ngoài gặp khó khăn về khâu vận chuyển và bảo quản, thì
ngay cả thị trường trong nước cũng không ngoại lệ.
Con đường quốc lộ 1A dài hàng ngàn cây số, xe vận chuyển phải đi mất ba ngày hai đêm
mới tới nơi, đó là chưa tính đến phải thêm công đoạn vận chuyển đến vùng Tây Bắc, giao
thông lại khó khăn hơn, điều đó cũng đồng nghĩa, trái cây không đến được với đồng bào
dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.
Điều này dẫn đến một nghịch lý của ngành, nơi quá thừa có lúc phải đổ đi, nơi lại quá
thiếu so với nhu cầu tối thiểu. Để cho ra hai sản phẩm an toàn xuất khẩu sang các nước châu
Âu và thị trường Mỹ, công ty đã ba lần đầu tư nâng cấp công nghệ chế biến sau thu hoạch.
Sản phẩm trái cây đóng hộp không sử dụng chất bảo quản, kể cả chất bảo quản sinh học,
vì đặc điểm thị trường Mỹ và thị trường châu Âu rất khó tính, nên những loạt sản phẩm đưa
sang phải đúng theo tiêu chuẩn của họ.
Chính vì thế, công đoạn thu hoạch, phân loại và chế biến phải được thực hiện trong thời
gian nhanh nhất, tránh trái bị đổi màu hoặc xuống màu và hư hao. Trong quá trình vận
chuyển, trái cây được bảo quản theo cách thông hơi axit và thông hơi lưu huỳnh.
Để đảm bảo được chất lượng trái, công ty đặt hàng nông dân phải sản xuất theo yêu cầu
của công ty. Hơn nữa, do sản xuất theo tiêu chuẩn xuất khẩu nên công ty sẽ thu mua với giá
cao hơn so với giá thị trường.
Đây cũng chính là điều khuyến khích nông dân nâng cao ý thức sản xuất hàng chất lượng
cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu theo hợp đồng 150 tấn/tháng (sang Mỹ và
châu Âu), hoặc 600 tấn/tháng sang thị trường Trung Quốc.
4/ Dự đoán dự kiến sự phát triển
-Nếu các điều kiện hiện tại bao gồm chính sách và năng lực của ngành cây ăn trát Việt Nam
nói chung không thay đổi , trong điều kiện thị trường thế giới hiện nay tùy vào đặc thù của
từng loài trái cây mà có thể dự đoán xu hướng
-Đối với một số loại trái cây co lợi thế vùng rõ rệt , điều kiên tự nhiên , kĩ thuật giống ,
canh tác là những lợi thế lớn
- Đối với đa số các loại quả khác bị cạnh tranh gay gắt , nếu không cải cách việc sản xuất và
đạt 429.4 triệu tấn/năm (tăng 22%). Năm 2000 sản lượng bình quân đầu người trên thế giới
là 73kg. Năm 2000 tốc độ tiêu thụ trái cây tăng lên rõ rệt, trong khi các loại nông sản chủ
yếu khác đều giảm đi.
Rau quả chiếm vị trí đáng kể trong cơ cấu nông sản xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới.
Theo FAO tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản xuất khẩu năm 1996 ở một số nước
như sau: Trung Quốc 23.8%; Thái Lan 18.1% ; Hàn Quốc 14.4%.
Theo số liệu thống kê trong những năm gần đây (1996-2000), diện tích cây ăn quả cả nước
tăng lên nhanh và liên tục, từ 260.9 ngàn ha năm 1996 lên đến 438.8 ngàn ha vào năm 2000
Giá trị sản xuất cây ăn quả trong 5 năm qua cũng tăng lên liên tục, song tốc độ tăng chưa
tương xứng với mức tăng diện tích trồng, vì cây ăn quả phải trải qua một thời kỳ chăm sóc
từ 2 đến 4 năm mới bắt đầu có quả và năng suất sẽ tăng lên dần. Do vậy tỷ trọng cây ăn quả
trong cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt trong 5 năm qua không tăng, bình quân là 8.3%. Tính
ra năm 2000 cây ăn quả mới chiếm 7.9% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước.
6/Nguyên nhân chính gây rớt giá
-cung vượt quá cầu,dẫn đến tình trạng đươc mùa mất giá của3 nông dân
-cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh ngiệp
-thương lái trung quốc ép giá vì là bạn hàng lớn nhất , có khả năng thao túng thị trường
-sản phẩm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế nên khó xâm nhâp vào các thị trường
mới và cò giá trị cao
- khả năng dự báo thị trường không tốt nên việc điều phối cung cầu trên thị trường chưa
thưc sự tốt
7/kết và lựa chọn giải pháp
-Sửa chính sách và chiến lươc là bước đầu tiên để làm nền tảng ,cơ sở cho các yếu tố khác .
Khắc phục và cải thiện các yếu điểm của ngành kinh doanh trái cây .Đào tạo nhân lực nông
nghiệp chất lượng cao hổ trợ chính sách tín dụng, cải thiện chính sách đầu tư minh bạch
trong các thủ tục,chuyển giao các công nghệ tiên tiến , định hướng tiêu chuẩn VietGAP,hỗ
tợ tim thị trường đầu ra cho các thị trường xuất khẩu qua các hiệp định song phương ,đa
phương , đơn giản thủ tuc xuất tục nhập khẩu, xây dựn g thương hiệu Việt Nam qua những
4, Giày dép các loại: kim ngạch xuất khẩu trong tháng đạt 983 triệu USD, giảm 12,6% so
với tháng 7/2015. Tính đến hết tháng 8/2015, xuất khẩu nhóm hàng giày dép đạt 7,95 tỷ
USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,72 tỷ USD, tăng 28% và chiếm 34,2%
kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước; tiếp theo là xuất khẩu sang thị trường EU
đạt 2,66 tỷ USD, tăng 13,4%; sang Trung Quốc đạt 504 triệu USD, tăng 51,2%; sang Anh
đạt 458 triệu USD, tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2014.
5, Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: Tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 8
tháng/2015 lên 5,17 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2014. Tuy nhiên, tính riêng
trong tháng 8/2015, xuất khẩu chỉ đạt gần 685 triệu USD, giảm 1,9% so với tháng trước.
Tính đến hết tháng 8/2015, xuất khẩu nhóm hàng này sang Hoa Kỳ là hơn 1 tỷ USD, tăng
23,4%; sang Nhật Bản: 932 triệu USD, tăng nhẹ 0,9%; sang Trung Quốc: 445 triệu USD,
tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước.
6, Gỗ & sản phẩm gỗ: xuất khẩu trong tháng đạt hơn 590 triệu USD, giảm nhẹ 0,2% so với
tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong 8 tháng/2015 lên hơn 4,35 tỷ USD, tăng
9,4% so với cùng kỳ năm 2014.
Tính đến hết tháng 8/2015, nhóm hàng gỗ & sản phẩm gỗ xuất sang Hoa Kỳ đạt 1,69 tỷ
USD, tăng 19,3%; sang Nhật Bản là 654 triệu USD tăng 3,2%; sang Trung Quốc: 575,8
triệu USD giảm 1,9%; so với cùng kỳ năm 2014.
7, Túi xách, ví, va li, mũ và ô dù: trong tháng 8 xuất khẩu mặt hàng này đạt hơn 251 triệu
USD, tăng 3,5% so với tháng trước, nâng tổng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 8
tháng/2015 lên 1,94 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước.
Hoa Kỳ là đối tác chính nhập khẩu túi xách, ví, vali mũ và ô dù của Việt Nam trong 8
tháng/2015 với 821 triệu USD, tăng14,4% so với 8 tháng/2014, tiếp theo là EU với trị giá
xuất khẩu với 499 triệu USD, tăng 15,2%; Nhật Bản là 208,7 triệu USD, tăng 10,8% .
10, Lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 8/2015 là 92 nghìn tấn, trị giá đạt 186 triệu USD,
giảm 13,6% về lượng và giảm 14,5% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 8
tháng/2015, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta đạt 879 nghìn tấn, trị giá đạt 1,81 tỷ USD,
giảm 32,2% về lượng và giảm 32,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2014.
Ngoài ra, còn phải kể đến một số mặt hàng: Gạo, tính đến hết tháng 8/2015, lượng xuất
Trước hết về khí hậu của nước ta thuận lợi cho phát triển sản xuất vì có nhiều
nước,, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ ẩm… Đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ
rất lớn và đang có khả năng mở rộng nữa.
Nhân dân ta cần cù lao động, có nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất các mặt hàng về
nông dân cho đời sống hàng ngày và cho xuất khẩu. Với dân số 80 triệu người, trong đó
trên 70% làm nông nghiệp có đủ sức sản xuất, nhân công của nước ta thấp nên giá thành sản
xuất rẻ. Với việc vận tải nhiều thuận lợi nên chi phí xuất khẩu kể cả vận tải thấp có thể cạnh
tranh được với nước khác. Đây là điều kiện thuận lợi chủ yếu bằng đường biển và xe lửa
cho nước ta để sản xuất và xuất khâủ những mặt hàng nông sản
2. Tiềm năng xuất khẩu những mặt hàng nông sản đã
qua chế biến
Nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có tiềm năng to lớn để phát triển nền nông nghiệp
toàn diện hướng tới mục tiêu vừa thoa mãn nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước, vừa phục
vụ xuất khẩu. Trong những năm qua, xuất khẩu nông sản Việt Nam đã đạt được những buớc
tiến mạnh mẽ, song tập chung chủ yếu vào các sản phẩm thô, tỷ lệ nông sản chế biến xuất
khẩu còn hết sức nho bé. Phát triển công nghiệp chế biến gắn với các vùng nguyên liệu là
một yêu cầu quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn Việt Nam.
3.Vị trí và vai trò của nông sản chế biến trong hoạt động
xuất khẩu.
Ngay từ thời kỳ đầu xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài, nông sản đã là mặt hàng xuất khẩu
chủ lực của Việt Nam. Nhà nước có chủ trương phát triển ngành công nghiệp chế biến nông
sản xuất khẩu, coi nông nghiệp là ngành quan trọng cho đời sống nhân dân và phát triển các
ngành xuất khẩu khác. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu đạt 5,3 tỷ USD, gồm mặt hàng nông
sản và nông sản chế biến đạt 1855 triệu USD chiếm tỷ trọng 31%. Đến năm 2001 tổng kim
ngạch xuất khẩu đạt 11.523 triệu USD trong đó mặt hàng nông sản và nông sản chế biến đạt
3.456,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng 30%. Lương thực của nước ta trong đó mặt hàng nông
517,2
40,2
24.2
218,0
124,7
12,784
38,612
1999
19.242
736,0
56,6
52,7
427,4
193,5
20,026
94,648
2000
21.807
947,3
70,3
63,7
553,2
248,7
13,868
216,543
2001
22.225
Xay sát gạo (dạng chế biến đơn giản): cả nước có hơn 5.000 cơ sở xay sát tập trung với
công suất từ 8- 60 tấn/ ca/ cơ sở. Ở miền Bắc, các cơ sở này được xây dựng từ những năm
1960 đến nay đã cũ nát và hoạt động kém hiệu quả. Ở miền Nam, các cơ sở xay sát chủ yếu
do tư nhân quản lý với thiết bị lạc hậu. Gần đây, Việt Nam đã đầu tư một số nhà máy lớn tại
đồng bằng sông Cửu Long với thiết bị hiện đại của nước ngoài phục vụ xuất khẩu gạo. Nhờ