TIỂU LUẬN TÂM LÝ HỌC văn hóa GIỮ nước đặc TRƯNG tâm lý TRUYỀN THỐNG của NGƯỜI VIỆT NAM - Pdf 41

1

“Văn hóa giữ nước – Đặc trưng tâm lý truyền
thống của dân tộc Việt Nam”.
Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời với những chiến tích vẻ vang,
rất đáng tự hào của dân tộc đã tạo nên cho nhân dân Việt Nam truyền thống
yêu nước cao quí. Truyền thống đó là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ
và động viên mọi người Việt Nam vươn lên trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Chính lịch sử đó, đã là cái nền móng bền vững của truyền thống
vinh quang nhân dân Việt Nam.
Dựng nước và giữ nước là nội dung cơ bản, xuyên suốt toàn bộ tiến trình
lịch sử Việt Nam. Kể từ khi hình thành quốc gia - dân tộc Việt Nam đến nay,
nhân dân ta đã liên tục, bền bỉ, kiên cường chiến đấu chống lại các thế lực xâm
lược, đô hộ để giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ và những giá trị
văn hoá của dân tộc. Qua hàng ngàn năm chống ngoại xâm, ông cha ta đã xây
dựng và hun đúc nên văn hoá giữ nước, được xem như là đặc trưng tiêu biểu của
tâm lý truyền thống dân tộc Việt Nam.
Tìm hiểu văn hoá giữ nước Việt Nam với những giá trị của nó là việc làm
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Trước hết nó giúp chúng ta nhận
thức đầy đủ, sâu sắc hơn lịch sử đất nước, đặc biệt là lịch sử đấu tranh bảo vệ
những giá trị cao quý của nhân dân là độc lập, chủ quyền, hoà bình…Từ đó tăng
thêm lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ra sức học tập, vận dụng và phát triển những
bài học Văn hóa giữ nước của quá khứ vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.

I. Những điều kiện hình thành và phát triển văn hoá giữ nước Việt Nam


2
Truyền thống văn hoá dân tộc là kết quả tổng hợp của mọi lĩnh vực hoạt
động xã hội, mọi tập thể và cá nhân trong một quốc gia dân tộc. Mỗi lĩnh vực


3
Một trong những điều kiện nữa là là phải lo vấn đề thuỷ lợi. Minh chứng
hùng hồn nhất là hệ thống đê điều vĩ đại ở đồng bằng Bắc Bộ được đào đắp và
thường xuyên hoàn thiện từ đời này qua đời khác. Theo Giáo sư Phan Ngọc, số
lượng đất đào đắp để tạo nên hệ thống đê ở Bắc Bộ Việt Nam nhiều gấp ba lần
kênh đào Xuy - ê mà ở đó 120 ngàn dân Ai Cập đã chết vì đói, vì bệnh tật.
Người nông dân Việt Nam một mặt phải chống chọi với nắng mưa, bão tố “sáng chống bão giông, chiều ngăn nắng lửa”, mặt khác, phải bám chặt vào đất
“sống ngâm da, chết ngâm xương” để làm ra lúa gạo nuôi sống con người. Cố
Giáo sư Đào Duy Anh viết: “Những vấn đề sinh tử tồn vong của dân tộc ta là
thuộc về nông nghiệp”. Đất, nước, lúa là nguồn sống, nguồn sinh sôi phát triển.
Vì thế mà tâm lý truyền thống Mẹ được hình thành - Mẹ đất, Mẹ nước, Mẹ lúa,
và chung nhất là Mẹ Tổ Quốc.
Từ thực tiễn đấu tranh để thích ứng, hoà nhập với thiên nhiên, sống
quần tụ lâu dài theo làng xã, trồng lúa nước, người Việt đã dần dần định hình
và phát triển những phẩm chất tốt đẹp, trở thành những giá trị văn hoá truyền
thống tốt đẹp của dân tộc.
Trước hết là tình yêu quê hương đất nước. Quê hương đất nước như là
một phần máu thịt của người Việt Nam. Có lẽ không có một người Việt Nam
nào lại không có ấn tượng sâu sắc, đẹp đẽ và luôn tươi mới về mảnh đất quê
hương, nơi mình được sinh ra, nuôi dưỡng trong những năm tháng tuổi thơ.
Cây đa, bến nước, mái đình, dòng sông, đồng lúa và cây nêu ngày Tết…luôn
luôn sống động trong ký ức của mỗi con người Việt Nam. Quê hương đất
nước của người Việt Nam không chỉ là nơi ở, nơi làm ăn sinh sống mà còn là
nơi “chôn rau cắt rốn”, nơi có mồ mả tổ tiên. Đó là “sợi dây” nối tiếp không
bao giờ dứt của cuộc sống. Vì vậy, hai tiếng “quê hương” trong tâm thức của
người Việt Nam vô cùng thiêng liêng và sâu thẳm. Càng đi xa, càng da diết
nhớ quê cha đất tổ:
Đêm xa nước nghe tiếng bầu, tiếng trúc
Hồn ta ơi náo nức muốn quay về.

đầu cầu của khu vực Đông Nam Á lục địa, Việt Nam thực sự trở thành của ngõ
2

Trần Quốc Vượng - Văn hoá Việt nam, tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000, tr. 96.


5
giao thông quan trọng giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo; giữa
đại lục châu Á với châu Á - Thái Bình Dương. Đồng thời, con đường hải cảng
quốc tế do các nước tư bản phương Tây lập nên từ thế kỷ XVII – XVIII, con
đường tơ lụa trên biển cũng lấy biển Đông và các hải cảng Việt Nam làm thương
điếm quan trọng. Vị thế chiến lược đầu cầu lục địa và hải cảng giao tiếp đó tạo
cho nước ta nhiều lợi thế để phát triển và giao lưu kinh tế, văn hoá. Nhưng cũng
vì vị thế đó mà Tổ Quốc ta, nhân dân ta luôn phải đối phó với những cuộc thôn
tính và xâm lược của các cường quốc Đông - Tây từ xưa đến nay. Việt Nam đã
từng là nơi chặn đứng vó ngựa của quân xâm lược Mông - Nguyên, đã từng là
“tiền đồn” của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á - nơi đối đầu giữa lực lượng
cách mạng với những lực lượng phản động quốc tế hung hãn nhất.
Bản chất con người Việt Nam là cần cù lao động, sáng tạo và nhân ái,
mong muốn yên lành để xây dựng cuộc sống. Nhưng kẻ thù không để chúng ta
yên. Khi ngọn lửa chiến tranh xâm lược bùng cháy thì cuộc sống của cả dân tộc
và của mỗi người dân đều bị đảo lộn. Việc chuyển trạng thái từ thời bình sang
thời chiến không loại trừ bất kỳ đối tượng nào, ở bất cứ khu vực nào.
Cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do ở Việt Nam từ khi lập nước đến nay
diễn ra thường xuyên, liên tục với sự hy sinh mất mát vô cùng to lớn. Hàng ngàn
năm Bắc thuộc, các tập đoàn phong kiến phương Bắc thay nhau xâm lược, thống
trị, bóc lột và đồng hoá dân tộc ta với những chính sách cực kỳ tàn bạo. Nhưng
nhân dân ta không chịu cúi đầu. Các cuộc khởi nghĩa liên tiếp diễn ra đã chứng
tỏ sức sống mãnh liệt của dân tộc: chứng tỏ mục tiêu độc lập, tự do là động lực
thôi thúc cực kỳ mạnh mẽ khiến nhân dân ta không sợ bất cứ kẻ thù nào, không

3. Con người Việt Nam - chủ thể sáng tạo văn hoá giữ nước Việt Nam.
Những nét chung, đặc sắc về văn hoá, tâm lý dân tộc Việt Nam đã được
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Học giả Phan Kế Bính
viết: “Nước ta học theo Khổng giáo, cho nên trọng nhất là luân lý cương
thường. Bất cứ đàn ông, đàn bà hễ giữ được luân lý cương thường là hay, mà
trái với luân lý cương thường là dở… Dân tình rất yêu sự yên ổn; quý hồ làm
ăn cho đủ đóng đủ góp với làng nước; ra đến đình thì không ai nói động đến
mình là mãn nguyện rồi… Từ người sang đến người hèn, ai cũng lấy lễ nghĩa


7
làm trọng”3. Trong cuốn sách “Bộ mặt mới của nhà Phật” xuất bản tại Tôkyô
những năm 70 thế kỷ XX, một nhà báo Mỹ viết: Về mặt lịch sử, ở Việt Nam
có ba khối người chính là: người miền Bắc, người miền Trung và người miền
Nam. Người miền Bắc nổi tiếng về mặt nghị lực, khôn ngoan và sâu sắc,
người miền Trung có tiếng về sự nhiệt thành và lòng kiên nghị. Họ yêu mến,
thù ghét và cầu nguyện một cách hăng say. Gần đây nhất, nghệ sĩ nhiếp ảnh
điền dã người Mỹ Robert Paliotti đã có nhận xét: Người Việt Nam dễ cảm
thông và hoà đồng, Có lẽ chính vì tinh thần ấy làm cho các bạn không bị
nhiễu, và trải qua bao biến cố, các bạn vẫn là mình, không bị các thế lực bên
ngoài thống trị.
Điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử và con người Việt Nam có quan
hệ biện chứng với nhau, trong đó, con người (chủ thể văn hoá) giữ vai trò
quyết định. Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử là những nhân tố khách
quan quy định phương thức sống của con người. Song, con người không chỉ
là sản phẩm của hoàn cảnh mà còn là chủ thể sáng tạo ra hoàn cảnh. Con
người luôn phát huy tính năng động chủ quan và lựa chọn phương thức hành
xử phù hợp với mình.
Qua hàng ngàn năm đấu tranh với thiên nhiên, lao động sản xuất, và
chiến đấu chống kẻ thù xâm lược đã hun đúc nên tâm hồn, cốt cách con người

Có dân tộc lòng yêu nước của họ lại có màu sắc chủ nghĩa đại dân tộc.
Yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con người
như tình yêu quê hương, xứ sở, sự gắn bó với ngôn ngữ và niềm tự hào về
truyền thống... Yêu nước là một tình cảm xã hội, mà nội dung là tình yêu và
lòng trung thành đối với Tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ
quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc. Yêu nước cũng có quá trình
phát triển cùng với lịch sử phát triển của quốc gia dân tộc, theo quá trình đó
thì tình cảm yêu nước có tính chất cảm tính ấy dần dần trở thành lý tính có nội
dung tư tưởng, lý luận.
Nhân dân Việt Nam gọi nước Việt Nam bằng hai tiếng tiếng thiêng
liêng: Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam có lãnh thổ riêng do thiên nhiên ban tặng
và được tạo dựng, bồi đắp, giữ gìn bằng xương máu, mồ hôi của cả dân tộc
trong suốt chiều dài của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nuớc đầy khí
phách, anh dũng, ngoan cường. Tổ quốc là đây với đất liền, bầu trời, biển


9
khơi, hải đảo…phân định rạch ròi với các nước láng giềng bằng đường biên
giới trên đất liền, khoảng không và ngoài biển khơi. Mỗi tấc đất, tấc biển đều
là xương thịt Tổ quốc. Lòng yêu nước là một trong những giá trị tạo nên bản
sắc văn hóa Việt Nam phải được thẩm thấu và trở thành nội dung tư tưởng
của mỗi tác phẩm báo chí. Mỗi tên đất, tên làng, tên núi, tên sông, tên suối,
tên biển, tên đảo, tên người của Việt Nam đều thiêng liêng như hai tiếng
Việt Nam.
Một đất nước sinh ra và phát triển trong cuộc vật lộn không cân sức, trải
qua nhiều biến cố như vậy, cho nên, mọi hoạt động vật chất, tinh thần của dân
tộc ta luôn phải tuân theo quy luật xuyên suốt: dựng nước đi đôi với giữ nước.
Điều đó khiến cho nhân dân Việt Nam sớm hình thành lòng yêu nước nồng nàn
với những nội dung đặc sắc.
Nhận định về chủ nghĩa yêu nước truyền thống trong lịch sử dân tộc, Chủ

nhau mà thôi.
Nền tảng và biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước là tinh thần tự tôn, tự
lập, tự cường. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt, một nước nhỏ bên cạnh nước lớn
luôn tìm cách xâm lược, đô hộ, đồng hoá các nước xung quanh, dân tộc ta sớm
có ý thức tự lập, tự cường vươn lên đặt nước mình Nam quốc ngang hàng với
Bắc quốc. Con người Việt Nam đâu phải bẩm sinh đã có tinh thần dân tộc, có ý
thức tự lập, tự cường. Ý thức, tinh thần đó được hình thành trong quá trình sinh
tồn. Điều đặc sắc là đất nước vừa được xây dựng, lại bị kẻ ngoại xâm lớn mạnh,
có nền văn hoá phát triển rực rỡ với các thủ đoạn tàn bạo, thâm độc đô hộ, mà
cái nguồn mạch tự tôn, tự lập, tự cường trong nhân dân không hề bị mai một,
vẫn âm thầm tồn tại, phát triển, khi có dịp lại bùng phát như lẽ tự nhiên.
Năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa với lời thề: “báo nợ nước, đem lại
nghiệp xưa họ Hùng”. Dù đây là lời của Trưng Trắc, Trưng Nhị hay là lời của
nhân dân, thì vẫn thể hiện ý chí độc lập, mục tiêu cứu nước, cứu nhà của cuộc
tổng khởi nghĩa. Điều có ý nghĩa lớn là vào thời điểm đầu công nguyên, nước
ta mới có khoảng một triệu người, giữa mênh mông hoang dã, phải đọ sức với
đế chế Hán mà tổ tiên ta vẫn hiên ngang khẳng định sự tồn tại của mình, phủ
nhận cái lý thuyết “bá chủ thiên hạ” của các “thiên tử” Trung hoa. Ý chí đó là
trường tồn, nhưng hành động giành quyền tự chủ trong tương quan lực lượng
quá chênh lệch thì không thể một lần, hai lần mà thành công. Đến Lý Bí lãnh


11
đạo cuộc khởi nghĩa giành độc lập năm 544 đã xưng hoàng đế: Lý Nam Đế ngang hàng với hoàng đế phương Bắc. Đây là một bước phát triển mới của ý
chí quyết giành độc lập dân tộc, đặt vị thế nước ta ngang hàng với Trung
Quốc, không chấp nhận quan hệ “phiên thuộc” với “thiên triều”.
Chính ý chí quyết tâm giành lại nền độc lập dân tộc được lưu giữ và
ngày càng được vun đắp bằng xương máu trong hàng trăm năm đã trở thành
sức sống lâu bền, không thế lực nào, hoàn cảnh nào làm mai một. Chính giá
trị tinh thần ấy là nguồn gốc sâu xa nhất để dân tộc ta thoát khỏi đêm trường

lời: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu thần trước đã” (Trần Quốc Tuấn),
bằng hình ảnh người thiếu niên Trần Quốc Toản bóp nát quả cam mà không
biết chỉ vì chưa đủ tuổi cầm quân đánh giặc. Truyền thống tự tôn, tự lập dân
tộc thường trực trong mỗi người dân Đại Việt được chuyển hoá thành ý chí,
thành năng lượng sức mạnh vật chất được thích bằng chữ “Sát Thát” trên
cánh tay mỗi binh sĩ.
Đặc biệt đến thời Lê, đỉnh cao của văn minh Đại Việt trên mọi lĩnh vực
kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá, khoa học… đều phát triển rực rỡ. Ý thức tự
tôn, tự lập, tự cường dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, thể hiện một dân tộc đã
trưởng thành, tự tin ở chính mình. Sau khi chiến thắng giặc Minh xâm lược,
Nguyễn Trãi đã viết bài Bình Ngô đại cáo, trong đó nêu bật yếu tố nền tảng của
sự tồn tại, phát triển đất nước:
“ …Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Bờ cõi sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời dựng nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Xong hào kiệt bao giờ cũng có…”5
Như thế, theo ông, một nước độc lập bao giờ cũng gồm ba yếu tố căn
bản: Có lãnh thổ riêng, có nền văn hoá riêng và có những người “hào kiệt”,
5

Hoàng Minh: Bình Ngô đại cáo, Tìm hiểu về Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 193.


13
“những mưu trí, tài thức” - trải qua các đời Hán, Đường, Tống Nguyên của
Bắc quốc, thì Đại Việt cũng qua các triều Đinh, Lý, Trần… cùng tồn tại độc

lược, chống cả triều đình phong kiến đầu hàng. Các tấm gương như Trương
Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng… đã thể hiện rằng: trong sâu
thẳm mỗi con người Việt Nam, cái ý thức con Lạc, cháu Hồng một thời hào
hùng vẫn còn đó.
Vì yêu nước, vì ý chí độc lập, tự tôn dân tộc, những người yêu nước
Việt Nam sẵn sàng từ bỏ cả gia tài nho học của mình, học hỏi, tiếp thu những
tư tưởng mới để tìm con đường cứu nước. Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và
đỉnh cao là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là tiêu biểu cho những con người
như vậy. Cũng bắt đầu từ lòng yêu nước truyền thống, Nguyễn Ái Quốc ra đi
tìm đường cứu nước, Người đã tiếp thu được lý luận cách mạng của thời đại chủ nghĩa Mác - Lênin và đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn - con
đường cách mạng vô sản. Từ đây lòng yêu nước của người Việt Nam đã mang
sắc thái mới - đặc trưng của thời đại - gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã
hội. Ý thức tự tôn, tự lập, tự cường dân tộc được củng cố trên cơ sở niềm tin
vững chắc vào sự nghiệp giải phóng, vào tiền đề của dân tộc.
Ý chí “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng giành cho được độc
lập dân tộc” của cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám - 1945; tinh
thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”; hình tượng người chiến sĩ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”
của cuộc kháng chiến chống Pháp là sự thể hiện hùng hồn của lòng yêu nước
Việt Nam, của ý thức tự tôn, tự lập, tự cường dân tộc, mãi mãi là bức tượng
đài về một cuộc kháng chiến mà mỗi người dân Việt Nam đều sẵn sàng chiến
đấu hy sinh và độc lập tự do của Tổ quốc.
Có thể khẳng định chủ nghĩa yêu nước là động lực, là chìa khóa của
lịch sử Việt Nam, đoàn kết yêu nước là sức mạnh vô địch của dân tộc. Về vấn
đề này, có thể vận dụng bài học của Bác Hồ về yêu cầu khai thác, phát triển
lòng yêu nước, cũng được trình bày trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần
thứ II của Đảng (1951): Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi
được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng





16
Ý thức cố kết cộng đồng, cố kết dân tộc, cả nước đánh giặc trước hết
thể hiện ở sự đoàn kết trong nội bộ lãnh đạo đất nước. Trong xã hội phong
kiến, lúc thường cũng như lúc biến, nhất là khi đất nước có giặc ngoại xâm,
việc đoàn kết trong nội bộ triều đình có vai trò hết sức quan trọng, làm cho
lực lượng cả dân tộc quy về một mối, tạo thành khối đại đoàn kết chống quân
xâm lược.
Từ triều Lý, một chính quyền phong kiến trung ương tập quyền được xây
dựng bài bản. Các vua Lý đều chăm lo sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ triều
đình. Hàng năm, triều Lý đều tổ chức lễ Minh Thệ (Hội thề trung thành với vua).
Trước thần vị, các quan đều thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung xin thần
minh giết chết”. Trước cuộc chiến tranh chống Tống, nội bộ vương triều Lý có
sự bất hoà giữa hai người có quyền lực lớn nhất trong triều là Lý Thường Kiệt và
Lý Đạo Thành. Thấy tình trạng bất hoà có quan hệ an nguy với vận mệnh đất
nước, là người đang nắm quyền hành trong triều, Lý Thường Kiệt đã chủ trương
xoá mối bất hoà - Lý Đạo Thành được cử giữ chức Thái phó bình chương quân
quốc sự - ngang chức với Lý Thường Kiệt, chuyên lo việc nội trị để Lý Thường
Kiệt lo việc quân.
Nước Đại Việt đời Trần (1226 - 1400) bị thử thách nghiêm trọng nhất
bởi nạn ngoại xâm trong thời đại phong kiến. Triều Trần cũng tiêu biểu cho
một triều đại xây dựng củng cố sự đoàn kết, gắn bó trong triều đình và tầng
lớp vương hầu quý tộc. Cũng như triều Lý, triều Trần tổ chức hội thề hàng
năm gọi là Tuyên bố điều khoản minh thệ. Trong hoàn cảnh lịch sử thời ấy,
việc mở hội ăn thề có tác dụng nhất định để củng cố lòng trung với vua, gắn
bó trong triều đình. Triều Trần cũng có những mâu thuẫn nội bộ. Điều quyết
định là giải quyết những mâu thuẫn nội bộ đó trước vận mệnh chung của đất
nước. Quan hệ giữa hai vị quan đầu triều là Trần Quang Khải và Trần Quốc
Tuấn không hoà thuận vì vốn đã có vấn đề lịch sử, hai ông lại không hợp

Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn luôn xác định tư tưởng xây dựng quân
đội “phụ tử chi binh” (quân đội cha con). Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc
Tuấn viết về tình nghĩa trên dưới, trước sau của tướng sĩ trong quân đội:
6

Hồ chí Minh, Toàn tập, t.12, Nxb CTQG, H, 1996, tr479.


18
“Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có mặc thì ta
cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì
ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc trận mạc
xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui
cười…”. Ông gợi lên nỗi khổ nhục chung nếu để mất nước: “Lúc bấy giờ, ta
cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào? Chẳng những thái ấp của
ta không còn mà bổng lộc của các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến
của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta
bị giày xéo mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng bị quật lên, chẳng những
thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau tiếng dơ khôn rửa, tên xấu
còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng là tướng
bại trận”7.
Trong Binh thư yếu lược, bộ sách quân sự làm tài liệu huấn luyện tướng
sĩ, Trần Quốc Tuấn viết về Đạo làm tướng: “Người tướng quên mình để báo
ơn vua, mà không làm cho lòng sĩ tốt cũng như mình thì tướng ấy chưa phải là
tướng lập công giỏi. Cùng sĩ tốt ăn uống, thì sau sĩ tốt quên được nỗi đói khát
trên cật ngựa; cùng sĩ tốt cùng lên đài đi giày (cùng hưởng vinh quang) thì sau
sĩ tốt quên được nạn chông gai ở ngoài quan ải; cùng sĩ tốt cùng dạy, cùng
nghỉ thì sau sĩ tốt quên được nỗi lao khổ của chiến chinh, lo cái lo của quân
lính, đau cái đau của quân lính, mà sau quân lính quên được vết thương vì
gươm tên…Đại phần quân đội cần lao, tướng phải đem mình làm trước. Khi

Lợi đều sai đem phân phát cho quân sĩ. Về mặt tổ chức, bộ chỉ huy khởi nghĩa
Lam Sơn đề ra những quy định cụ thể về bảo đảm sự thống nhất hành động,
giúp nhau trong chiến đấu: “Hạ lệnh rằng các quân ra trận, hoặc toán 50
người, toán 100 người, tự lui chạy riêng mà bỏ lại một hai người không cứu
thì chém cả toán, không may có người chết tại trận mà cùng nhau góp sức
khiêng xác ra ngoài thì được tha tội”10. Nghĩa quân Lam Sơn chính là trên cơ
sở cùng chung mục tiêu chiến đấu, lại được giáo dục tư tưởng tinh thần và các
biện pháp tổ chức xây dựng đoàn kết nội bộ, nên lực lượng từ nhỏ đến lớn, từ
yếu thành mạnh, vừa có tinh thần cao, vừa có sức mạnh vật chất lớn. Nhân tố
Binh thư yếu lược, Nxb Công an nhân dân, H, 2002, tr. 52, 53, 59.
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb KHXH, H, 1967, tr. 80.
10
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Nxb KHXH, H, 1967, tr.40.
8
9


20
đoàn kết bao giờ cũng được phát huy, tạo ra sự thống nhất trong hàng ngũ
nghĩa quân.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng được Đảng Cộng sản Việt
Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Đó là đội quân
của dân, do dân và vì dân, mang bản chất giai cấp công nhân, có giác ngộ
chính trị sâu sắc, có tổ chức chặt chẽ và kỷ luật nghiêm minh. Tinh thần đoàn
kết thống nhất là một phẩm chất của quân đội ta từ khi mới ra đời đến nay.
Một trong những nội dung của Mười lời thề trong lễ tuyên thệ thành lập Đội
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân có điều “Xin thề: hết sức ái mộ các
bạn chiến đấu trong đội cũng như ái một bản thân, hết lòng giúp đỡ nhau lúc
thường cũng như lúc ra trận”11.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang

trọng, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi trong từng trận đánh cũng như cả cuộc
chiến tranh.
Đoàn kết thống nhất trong nội bộ lãnh đạo đất nước, đoàn kết quân đội
là những yếu tố hết sức quan trọng trong công việc giữ nước. Nhưng trong
hoàn cảnh nước ta, vấn đề hàng đầu quyết định thành công của cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm là xây dựng được khối đoàn kết toàn dân đánh giặc.
Những người lãnh đạo đất nước biết trọng dân, thân dân, dựa vào dân,
huy động được toàn dân đồng lòng gắng sức, thì dựng nước và giữ nước giữ
nước thành công. Nếu những người trị vì chỉ biết vơ vét khiến dân tình đói
khổ, đất nước suy vong, sẽ dẫn đến đối lập giữa những người lãnh đạo với
nhân dân thì không những thất bại trong công cuộc giữ nước mà còn bị chính
nhân dân đứng lên lật đổ.
Nhận thức được điều đó với mức độ khác nhau, đúng theo điều kiện cụ
thể từng thời kỳ, ông cha ta đã biết tìm sức mạnh trong việc thắt chặt đoàn kết
toàn dân, huy động lực lượng đông đảo của nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ đất
nước. Trong các xã hội có giai cấp bóc lột, bao giờ cũng có mâu thuẫn đối
kháng giữa giai cấp thống trị và quần chúng lao động. Nhưng ở Việt Nam,
mỗi khi có giặc ngoại xâm thì mâu thuẫn dân tộc được đặt lên hàng đầu, Nếu
triều đại phong kiến tiến bộ, biết “nới sức dân” thì hoàn toàn có khả năng hiệu
triệu đông đảo quần chúng chống ngoại xâm, vì người nông dân Việt Nam, dù
bị giai cấp phong kiến bóc lột, nhưng vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn,

13

Hồ Chí Minh, Toàn tập, t5, Nxb CTQG, H,1995, tr. 722.


22
vẫn có ý thức của người chủ nhân đất nước. Trước giặc ngoại xâm, họ vẫn
chủ động, tích cực làm chủ đất nước.

kháng chiến của ta càng ngày càng mạnh. Nhờ lực lượng ấy mà quân và dân ta
quyết chịu đựng muôn nỗi khó khăn thiếu thốn, đói khổ, tang tóc, quyết một lòng
đánh tan quân giặc cướp nước”14.
Tóm lại, những giá trị tiêu biểu như: Lòng yêu nước nồng nàn, ý thức
cộng đồng, cố kết dân tộc cùng với các giá trị khác đã tạo nên văn hoá giữ
nước Việt Nam – một đặc trưng tâm lý truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Những giá trị này luôn hoà quyện với nhau tạo nên giá trị tinh thần giữ nước
vừa hiện hữu, vừa lung linh trong đời sống của dân tộc. Đó là “ tâm hồn dân
tộc”, là cốt cách con người Việt Nam, tiềm ẩn bên trong cộng đồng các dân
tộc Việt Nam cũng như trong mỗi con người sống trên mảnh đất này và khi
được khơi dậy sẽ trở thành sức mạnh vô địch trước bất cứ thế lực ngoại xâm
nào. Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết của văn hoá giữ nước Việt Nam đã
hình thành, phát triển qua hàng ngàn năm, đã trở thành, cốt cách, bản sắc của
dân tộc. Các giá trị này sinh ra từ trong điều kiện, địa lý, lịch sử, kinh tế, xã
hội qua các thời đại lịch sử khác nhau. Nó có tính chất bền vững trường tồn
và vĩnh hằng của đất nước, nhưng cũng có tính biến động theo sự phát triển
của thời đại, của cơ sở chế độ xã hội hiện thời. Thế hệ đương đại có trách
nhiệm trân trọng, giữ gìn, phát triển làm phong phú thêm và nâng lên tầm cao
mới truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc trong gia đoạn cách mạng
mới.

KẾT LUẬN
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện
nay đang đặt ra những yêu cầu mới trong giữ gìn và phát huy những giá trị
truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Xây dựng nền văn
hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc là một đặc trưng cơ bản của chế
14

Hồ Chí Minh, Toàn tập, t6, Nxb CTQG, H,1995, tr. 281 - 282.


25
3. Hoàng Đình Châu (chủ biên), Lịch sử tâm lý học và tâm lý học quân
sự, Nxb QĐND, Hà Nội 2003.
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội 1995
5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội 1995
6. Đỗ Long, Tâm lý học dân tộc – nghiên cứu và thành tựu, Nxb
KHXH, Hà Nội 2001.
7. Hoàng Minh: Bình Ngô đại cáo, Tìm hiểu về Tổ tiên ta đánh giặc,
Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 193.
8. Trần Quốc Vượng - Văn hoá Việt nam, tìm tòi và suy ngẫm, Nxb
Văn hoá dân tộc, H, 2000, tr. 96.
9. Trần Quốc Vượng, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998.
10. Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb QĐND, H. 1999, tr. 86.
11. Binh thư yếu lược, Nxb Công an nhân dân, H, 2002, tr. 52, 53, 59.
12. Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ, Tuyển tập văn thơ yêu nước chống
phong kiến xâm lược, Nxb Văn học, H. 1966, tr. 16.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status