TIỂU LUẬN tâm lý học PHẠM TRÙ NHÂN CÁCH TRONG tâm lý học mác xít - Pdf 41

Phạm trù nhân cách trong tâm lý học mác-xít
Sự phát triển và hoàn thiện nhân cách con người đang trở thành trung tâm
chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật hiện nay, nhân tố con người trở lên cấp bách thì sự hiểu biết về vấn đề nhân
cách là tiền đề của việc đầu tư có hiệu quả vào sự phát triển con người - yếu tố
quyết định mọi sự phát triển trong xã hội. Trong Tâm lý học vấn đề nhân cách là
một vấn đề quan trọng bậc nhất và nghiên cứu gặp nhiều khó khăn nhất vì những
lý do, thứ nhất là việc nghiên cứu đụng chạm đến những quan tâm chính trị của xã
hội. Vì vậy, nhiều lý thuyết được tạo ra tuỳ thuộc vào sự định hướng của các tác
giả mà mang tính chất duy tâm hay duy vật. Thứ hai là nhân cách là một cấu tạo rất
phức tạp, vì vậy các hướng tiếp cận nghiên cứu nhân cách rất đa dạng dựa trên
những quan điểm, quan niệm về nhân cách khác nhau.
Nhân cách là đỉnh cao nhất của sự phát triển tâm lí cuả con người, của tự ý
thức và tự điều chỉnh bản thân con người. Nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga
L.X.Vưgốtxki đã từng khẳng định: “Vấn đề nhân cách và phát triển nhân cách là
vấn đề tập trung cao nhất của toàn bộ tâm lý học”. Việc nghiên cứu, nắm chắc
quan điểm về nhân cách trong tâm lý học mác-xít có ý nghĩa vô cùng to lớn cả về
phương diện lý luận, phương pháp luận cũng như trong thực tiễn. Vấn đề nhân
cách đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học như:
giáo dục học, đạo đức học, y học, xã hội học, tâm lý học...Tuy nhiên, nhân cách lại
là vấn đề rất phức tạp. Ngay trong tâm lý học, xuất phát từ cơ sở lý luận và phương
pháp luận khác nhau nên có rất nhiều quan điểm, tư tưởng, cách tiếp cận, các
trường phái khác và lý thuyết khác nhau khi nghiên cứu về nhân cách. Việc nắm
chắc lý luận mác-xít về nhân cách là cơ sở để phê phán những quan điểm, lý thuyết
bàn về nhân cách một cách phiến diện, máy móc, phản động, phản khoa học, phi
giai cấp, phi lịch sử trong tâm lý học. Đồng thời, khẳng định bản chất cách mạng
và giá trị khoa học của phạm trù nhân cách cũng như vai trò của tâm lý học mácxít trong sự hình thành, phát triển nhân cách.
1


1. Một số quan điểm ngoài Mác xít về nhân cách

ngôn từ.... Khổng Tử quan niệm về nhân cách con người thể hiện ở Nhân, Nghĩa,
Lễ, Trí, Tín. Trong đó Nhân là gốc và chỉ có người “Đại nhân” mới có Nhân.
1.2. Quan niệm về nhân cách trong tâm lý học phương Tây.
Trong tâm lý học phương Tây có nhiều học thuyết khác nhau về nhân cách.
Trong đó nổi bật có các trường phái như Phân tâm học, trường phái Gestalt, tâm lý
học nhân văn về nhân cách, tâm lý học nhận thức của Piagiê về nhân cách…
1.2.1. Phân tâm học về nhân cách
* Quan niệm của S.Freud về nhân cách
- Về cấu trúc của nhân cách.
Theo S.Freud (1856 - 1939) người sáng lập ra trường phái Phân tâm học,
cấu trúc nhân cách con người gồm 3 khối: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi, tương ứng
với 3 cấp độ vô thức, ý thức và siêu thức.
Khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ vị trí trung
tâm. Khối vô thức (id) là thùng năng lượng tâm thần chất chứa những khát vọng
bản năng sôi sục. Hoạt động của “cái nó” theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi sự
thoả mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng. Vô thức là cái ngấm ngầm điều
khiển, điều chỉnh hành vi con người.
Khối ý thức tương đương với cái “tôi” (ego). Cái tôi được hình thành do áp
lực thực tại bên ngoài đến toàn bộ khối bản năng. Nó đảm bảo các chức năng tâm
lý như chú ý, trí nhớ…Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại. Nhiệm vụ
của cái tôi là làm cho cái nó thoả mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể, làm giảm
sự căng thẳng một cách tốt nhất.
Siêu tôi (superego): là tổ chức bên trong bao gồm tất cả phạm trù xã hội, đạo
đức, nghệ thuật, giáo dục. Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt.
Cả ba khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối: Con
người lúc ấy ở trạng thái bình thường. Nhưng cả ba khối này luôn luôn xung đột
với nhau, sự xung đột này là cơ chế của hoạt động tâm thần.
Từ quan niệm như trên S.Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lý của con người.
Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suy
thoái. Con người sống gồm các bản năng, xu hướng của các bản năng này là luôn

bản chất xã hội - lịch sử của các hiện tượng tâm lý người. Mặt khác, quan niệm về
con người và nhân cách con người của S.Freud bộc lộ những khía cạnh không
đúng đắn: con người trong học thuyết phân tâm là con người sinh vật, con người
4


cơ thể bị phân ly ra nhiều mảng, con người với những mong muốn là những đam
mê tính dục và luôn đối lập với xã hội.
- Phân tâm học mới về nhân cách
+ K.Jung (1879 - 1961) cho rằng hành vi con người được điều chỉnh bằng vô
thức và cả ý thức. Đó là quá trình điều chỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điều
chỉnh. Ông cho rằng con người có vô thức đạo đức bẩm sinh. Các hoạt động của
con người có tính chất bản năng và tạo thành vô thức tập thể. Điều đó được thể
hiện trong nền văn hoá dân tộc cũng như trong nghệ thuật. Ông cho rằng có vô
thức tập thể bởi vì mỗi người đều tiềm tàng trong mình một di sản tinh thần được
truyền từ nhiều thế hệ trong một nền văn hoá dân tộc và nền văn minh nhân loại.
Chính vì vậy, hình thức phản ứng của mỗi cá nhân cũng giống nhau.
K.Jung không thừa nhận bản năng tình dục là quyết định tâm lý con người
như S.Freud quan niệm, nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô thức. Vì
vậy, bản chất học thuyết của K.Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cải biến
thành học thuyết phân tâm mới.
Trong cấu trúc nhân cách của K.Jung, cái tôi là trung tâm của ý thức. Nhân
cách là mẹ của ý thức. Vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân. Quan
điểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu. Lý luận nhân
cách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức. Vô thức được xác định bằng những
sự kiện của hành vi. Đó là những bản năng trực tiếp và bản năng tức thời. Lý luận
nhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô thức. Song điều này chưa đủ để nói
lên bộ mặt nhân cách con người. Nhân cách con người còn thể hiện những phẩm
chất cũng như bộ mặt đạo đức trong nó.
+ A. Adller là nhà tâm lý học người Áo. Ông cho rằng tất cả hành vi của con

quyết định chứ không do yếu tố tâm lý nào như Fromm giải thích.
1.2.2. Trường phái Gestalt về nhân cách
Tâm lý học Gestalt hay còn gọi là tâm lý học cấu trúc nghiên cứu, xem xét
hình ảnh tâm lý trong trong một cấu trúc trọn vẹn, hoàn chỉnh. Là trường phái
chuyên nghiên cứu về tri giác và ít nhiều nghiên cứu về tư duy, nhân cách con
người. Nổi bật trong trường phái này là K.Lewin. Nếu như hầu hết các nhà tâm lý
học Gestalt quan tâm đến vấn đề tri giác, tư duy thì K.Lewin lại quan tâm đến vấn
đề động cơ, nhân cách và tâm lý học xã hội. Ông đưa ra thuyết trường tâm lý, cho
rằng con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó.
6


Ông quan tâm đến tiên trị âm và tiên trị dương trong cùng một không gian
sống. Tiên trị dương là nhằm thoả mãn những nhu cầu nào đó của cá nhân (như kẹo
với đứa trẻ). Các khái niệm “trường tâm lý”, “không gian sống” thể hiện một phương
pháp mới miêu tả hành vi hiện thực của nhân cách. Về thuyết “trường tâm lý”, ông
cho rằng thế giới xung quanh ta là thế giới của các sự vật và có những trình tự nhất
định, con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó.
Khái niệm “không gian sống” K.Lewin đưa ra nhằm giải thích hành vi của
nhân cách, không gian sống bao gồm cả trường tâm lý. Ông cho rằng, nếu ta biết rõ
về không gian sống của con người; có những thông tin về người ấy thì có thể dự
đoán hành vi của người ấy. Lý luận và các công trình thực nghiệm của Lêvin về
không gian sống đã đưa ông chiếm một vị trí cao trong tâm lý học nhân cách. Các
khái niệm “trường tâm lý”, “không gian sống” thể hiện một phương pháp mới
miêu tả hành vi hiện thực của nhân cách. Ông đã khám phá động lực của mối quan
hệ cá nhân và hoàn cảnh, nhu cầu, nguyện vọng. Ông đã sơ đồ hoá các khái niệm
tâm lý bằng trường không gian, địa thế, véctơ.
Tuy vậy, lý luận về “ trường tâm lý ” và “không gian sống” cũng có những
khó khăn mà không thể giải quyết được. Ví dụ ta không thể biết được cấu trúc và
không gian sống của một con người. Hoàn cảnh con người sống luôn thay đổi, do

Người đầu tiên có công xây dựng nền tâm lý học nhân văn là A.Maslow
(1908 - 1970) đã từng là chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ.
Về nhân cách, ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức triệu chứng
nhân cách và năng lực. Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu. Theo ông có
thể chia ra năm loại nhu cầu theo thứ tự từ thấp đến cao và nếu nhu cầu cấp thấp
không thoả mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể thực hiện được.
Nhu cầu cấp cao: Nhu cầu thực tiễn; Nhu cầu được thực hiện; Nhu cầu yêu
thương, lệ thuộc
Nhu cầu cấp thấp: Nhu cầu an toàn; Nhu cầu sinh lý
Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người. Những nhu
cầu như giao tiếp, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng đặc trưng cho giống
người. Các nhu cầu đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định. Chính vì vậy, học
thuyết nhu cầu của A.Maslow có những điểm giống học thuyết của S.Freud.
1.2.4. Quan niệm về nhân cách của J.Piagiê
8


J.Piagiê nhà tâm lý học Thuỵ Sỹ chủ yếu nghiên cứu về tâm lý trẻ em, sự
hình thành và phát triển trí tuệ, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Ông cho
rằng phải nghiên cứu cá nhân con người, đó là chủ thể của mối quan hệ xã hội.
Khái niệm “cân bằng” là khái niệm trung tâm trong học thuyết về nhân cách
của ông. Ông dùng khái niệm “cân bằng” đề giải thích nguồn gốc của các cấu trúc
thao tác. Nhờ có luật bù trừ mà có sự cân bằng trong tâm lý. Qua những công trình
nghiên cứu về trí tuệ trẻ em, ông đã rút ra những bài học quý về nhân cách. Đó là
sự cân bằng tâm lý, tính tự kỷ trung tâm sơ khai và con đường phát triển nhân
cách. Ông khẳng định giáo dục đúng đắn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát
triển nhân cách, cùng với nó là tôn trọng quyền con người.
2. Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác - xít về nhân cách
2.1. Quan điểm của các nhà tâm lý học Xô Viết về nhân cách.
Đứng trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tâm lý học

chỉ hướng nghiên cứu nhân cách. Nghiên cứu nhân cách không tách rời việc
nghiên cứu con người và các khoa học khác nghiên cứu về con người.
2.1.2. Quan điểm của A.N.Lêônchiep về nhân cách.
A.N.Leonchiev (1903 - 1979) là nhà tâm lý học Xô Viết kiệt xuất. Về mặt
nhân cách, ông cũng có những quan điểm mới mẻ. Leonchiev coi nhân cách như
một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân do
kết quả hoạt động cải tạo của người đó. Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh
thể của chủ thể cuộc sống. Nhân cách là một cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn.
Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sự
tiến hoá cá thể của con người. Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêng
không trùng khớp với quá trình biến đổi các thuộc tính tự nhiên của cá thể. Những
quá trình thần kinh của cá nhân sẽ không biến thành những thuộc tính nhân cách,
mặc dù quá trình thần kinh sẽ không thiếu được trong quá trình hình thành nhân
cách. Muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để phân tích hoạt
động là cơ sở của nhân cách. Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ sự phát
triển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệ của nhân
cách đó với những người khác.
Quan điểm của A.N.Lêônchiep về động cơ, xúc cảm và nhân cách: Trước
hết ông đưa ra cách hiểu sự hình thành nhu cầu của con người theo sơ đồ Hoạt động
- Nhu cầu - Hoạt động, luận điểm này cho rằng nhu cầu của con người cũng được
10


sản xuất ra. Nhu cầu được phân tích về mặt tâm lý sẽ dẫn tới phân tích động cơ. Ông
chia ra hai loại động cơ: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích. Động cơ tạo ý gắn
liền với nhân cách. Động cơ tạo ý ở cấp cao hơn so với động cơ kích thích, song có
khi nó không tham gia vào kích thích, thúc đẩy hoạt động mà khuất đằng sau kích
thích. Tiền đề của sự hình thành nhân cách là sự phát triển của quá trình hình thành
mục đích và phát triển những hành động của chủ thể tương ứng gắn với mục đích.
Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục gồm các giai đoạn tuần tự thay thế

* Sự thừa nhận nhân cách phân loại các thuộc tính cá nhân và các khái
niệm tâm lý về phương diện thực tế.
* Tỉ lệ nghịch của độ chênh lệch tính chế ước xã hội và tính chế ước sinh
vật của các thuộc tính cá nhân riêng biệt và những cấu trúc nhỏ thống nhất những
thuộc tính ấy.
* Tính chất chuyên biệt của các loại quan hệ trong sự hình thành mỗi cấu
trúc nhỏ.
Liên quan đến bốn phạm trù trên có bốn cấu trúc nhỏ: Cấu trúc nhỏ thứ
nhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…); cấu trúc nhỏ thứ hai là kinh
nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen); cấu trúc nhỏ thứ ba là các quá trình
tâm lý; cấu trúc nhỏ thứ tư là các thuộc tính sinh học quy định nhân cách (khí chất
giới tính, lứa tuổi, bệnh lý…). Ngoài cấu trúc kể trên, theo K.K.Polatonov, nhân
cách con người còn ở thuộc tính khác là tính cách và năng lực. Tính cách cũng như
năng lực là tổng hoà các thuộc tính có trong sự tương ứng với hoạt động. Tính cách
và năng lực cá nhân tương hỗ với nhau. Trong một mức độ nào đó, năng lực biểu
hiện ra và trở thành tính cách.
Tóm lại quan điểm của K.K.Polatonov là một đóng góp mới cho việc giải
quyết vấn đề nhân cách. Hệ thống chức năng cơ động, bốn tiểu cấu trúc của nhân
cách, tính cách và năng lực là các thuộc tính của nhân cách đã làm sáng tỏ thêm
vấn đề nhân cách. Tuy nhiên trong khi khẳng định nhân cách là con người có ý
thức, ông đã không thấy được sự tham gia của vô thức trong hành vi con người.
Thêm nữa, xã hội đóng vai trò quyết định như thế nào đối với nhân cách, chúng ta
cũng chưa thấy rõ.
2.1.4. Luận điểm của trường phái Uzơnatze về nhân cách.
Để hiểu con người với tư cách là nhân cách, D.Uzơnatze đã phân chia tính
tích cực tâm lý của con người ra ba cấp độ. Con người với tư cách là cá nhân đó là
12


cấp độ đầu tiên, thấp nhất. Cấp độ thứ hai, con người với tư cách là chủ thể. Cấp


cận của Uzơnatze về nhân cách, tức là ông thấy trong nhân cách có các thành phần
gọi là hứng thú, sự đam mê, tâm thế tạo nên các xu hướng, lý tưởng của nhân cách.
Như vậy, Rubinstein đã chỉ ra cho chúng ta thấy quá trình hình thành ý
thức và thái độ như là hai thành tố tạo nên nhân cách. Ông đã chỉ ra rằng nghiên
cứu nhân cách là nghiên cứu tự ý thức của nhân cách, nghiên cứu “cái tôi” như là
chủ thể nắm lấy tất cả cái gì con người làm ra, có trách nhiệm của bản thân đối với
tất cả các sản phẩm vật chất mà mình tạo ra. Rubinstein cũng đã nói đến nhân cách
như là bộ mặt của từng người, nói lên lập trường thế giới quan của người ấy.
Nhìn lại những xu hướng, quan điểm nghiên cứu về nhân cách của một số
nhà Tâm lý học Xô Viết tiêu biểu trên, ta có thể thấy:
Các luận điểm xuất phát để giải quyết vấn đề nhân cách đều dựa trên lập
trường duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Có nhiều luận điểm khác nhau, bổ sung cho nhau, làm phong phú và đa
dạng cho lý luận nhân cách.
Tuy chưa có cách diễn đạt thống nhất, nhưng các nhà tâm lí học Xô Viết
đều thống nhất với nhau ở những quan điểm sau: nhân cách là một hệ thống các
quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh và với bản thân, nhân cách sinh
thành là do hoạt động, nó có tính xã hội - lịch sử. Cá nhân con người trở thành
nhân cách là do các hoạt động và giao lưu của nó trong cộng đồng, trong xã hội.
Khi một cá nhân với tư cách là là thành viên của một cộng đồng nhất định ở một xã
hội nhất định, là chủ thể của các quan hệ xã hội, của hoạt động ý thức và giao lưu
thì được coi là một nhân cách .
2.2. Quan điểm của các nhà Tâm lý học Việt Nam về nhân cách.
Đứng trên lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng, các nhà Tâm lý học Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc các lý
luận về nhân cách của Tâm lý học Xô Viết và áp dụng linh hoạt, sáng tạo trong
điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Theo Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc quan niệm: Nhân cách là hệ thống
thái độ của con người. Là thước đo độ phù hợp của phẩm chất, năng lực con người

người của mỗi cá nhân.
Những quan điểm của các nhà Tâm lý học Việt Nam cũng đều thống nhất
thừa nhận, nhân cách là tính xã hội của con người, nhân cách mang bản chất xã
15


hội, nó không phải được sinh ra mà được hình thành và phát triển trong quá trình
con người tham gia hoạt động vào các mối quan hệ xã hội.
Trên cơ sở này, khoa học tâm lý đã chỉ ra các con đường cơ bản trong xây
dựng, hình thành và phát triển nhân cách là: giáo dục, hoạt động, giao lưu và nhóm.
* Giáo dục: đây là một hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành
và phát triển nhân cách theo những yêu cầu của từng giai đoạn xây dựng và phát
triển xã hội đó.
Giáo dục vạch ra mô hình nhân cách theo yêu cầu của xã hội đồng thời
cũng chỉ ra chiều hướng hình thành và phát triển nhân cách.. Điều này được thực
hiện thông qua mục tiêu giáo dục và qua sự thực hiện mục tiêu đó của các cơ quan
giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Giáo dục có thể đưa lại cho trẻ em những yếu tố khác với môi trường tự
nhiên hoặc yếu tố bẩm sinh.
Giáo dục có thể bù đắp cho những thiếu hụt ở một người do bị tật hay bị
bệnh nào đó gây ra.
Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lí của một người theo yêu
cầu của xã hội.
Giáo dục có thể chuẩn bị cho con người vươn tới tương lai mà với những
điều kiện hiện tại mà nó chưa thể có được.
Giáo dục và dạy học một cách khoa học đảm bảo sự hình thành và phát
triển tâm lí, nhân cách của trẻ em theo hướng tốt đẹp
* Hoạt động chính là nhân tố quyết định trực tiếp việc hình thành và phát
triển nhân cách của con người. Chúng ta biết rằng tâm lí không chỉ biểu hiện trong
hoạt động, mà còn hình thành và phát triên bằng hoạt động. Do đó, nhân cách con

đắn sẽ làm cho tâm lí, ý thức con người phát triển, nhân cách được hình thành.
* Nhóm và tập thể: nhân cách con người hình thành trong môi trường xã
hội. Nhưng con người lớn lên và trở thành nhân cách không phải đơn thuần trong

17


môi trường xã hội chung chung và trừu tượng. Môi trường xã hội cụ thể, gần gũi
của nó chính là các nhóm và cộng đồng, là các tập thể mà nó là thành viên.
Ngày nay vấn đề nhân cách được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu.
Trong quá trình phát triển của các khoa học, đặc biệt là các khoa học xã hội đòi hỏi
phải nghiên cứu nhân cách.Trong xã hội mọi người có quan hệ lẫn nhau, con người
là trung tâm của các mối quan hệ. Vì vậy, con người phải được thể hiện như là một
nhân cách. Xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền với việc
xây dựng nhân cách phát triển hài hòa. Đó là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp xây
dựng con người đạo đức - trí tuệ trong điều kiện đổi mới hiện nay. "Muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa".
Nghiên cứu nhân cách sẽ tạo điều kiện ảnh hưởng tới các khoa học có liên quan
đến con người: Triết học, xã hội học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, luật học, y
học, giáo dục học, tâm lí học... Vì vậy nhân cách cũng là đối tượng nghiên cứu của
các khoa học đó.
Với việc tiếp cận phạm trù nhân cách theo quan điểm của tâm lý học mác
-xít cho chúng ta thấy một bức tranh tổng quát và đầy đủ nhất về nhân cách từ
nguồn gốc, bản chất cũng như các yếu tố tác động, ảnh hưởng, con đường hình
thành nhân cách. Đặc biệt với phương pháp tiếp cận này cho chúng ta một phương
pháp luận khoa học trong việc xem xét, luận giải phạm trù nhân cách theo quan
điểm duy vật, biện chứng triệt để. Với những tác giả lỗi lạc và những công trình
nghiên cứu đa dạng, phong phú và chuyên sâu trên các mặt nhân cách, các nhà
Tâm lý học Xô Viết đã có sự cống hiến to lớn đối với nền tâm lý học thế giới.
Những thành tựu đó không chỉ có ý nghĩa ở thời điểm đó mà nó còn có giá trị định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status