"Trắc nghiệm tâm lý và vấn đề sử dụng trắc nghiệm ở một số cơ sở thăm khám tâm
lý hiện nay"
Từ khi ra đời, các trắc nghiệm tâm lý đã trở thành một công cụ đắc lực trong
lĩnh vực chẩn đoán, trị liệu tâm lý, tham vấn nghề và trong lĩnh vực giáo dục. Việc sử
dụng các trắc nghiệm tâm lý đã trở nên phố biến trên thế giới nói chung và tại các cơ
sở thăm khám tâm lý ở Việt Nam nói riêng. Trong quá trình triển khai, các trắc
nghiệm tâm lý đã được sửa đổi theo hướng thích nghi và phù hợp hơn cho từng đối
tượng sử dụng. Đội ngũ các nhà tâm lý, các nhân viên công tác xã hội bắt đầu được
đào tạo chuyên nghiệp đế đáp ứng nhu cầu hướng dẫn, xử lý các trắc nghiệm được
ứng dụng trong thực tế. Những tiêu chuẩn đặt ra cho trắc nghiệm và những yêu cầu cụ
thế cho đổi tượng sử dụng trắc nghiệm được hình thành. Nhưng trên thực tế không
phải ở đâu cũng đạt được những chuẩn chung ấy. Thực trạng đó tại một số cơ sở thăm
khám tâm lý ở Việt Nam là ví dụ.
Một trắc nghiệm khi đưa vào sử dụng cần phải được chuấn hóa trên diện rộng. Người
sử dụng trắc nghiệm phải là những người được đào tạo trong lĩnh vực tâm lý. Tuy
nhiên, việc ứng dụng các trắc nghiệm tại các cơ sở thăm khám tâm lý ở nước ta chưa
thể làm được điều này bởi những hạn chế về nhân - tài -vật - lực. Tuy những hạn chế
đó không làm cho việc ứng dụng trắc nghiệm trong thăm khám tâm lý ở nước ta
ngưng lại nhưng những khó khăn chúng ta gặp phải tại các cơ sở thăm khám tâm lý
trong việc sử dụng các trắc nghiệm tâm lý là không nhỏ dù những trắc nghiệm đó vẫn
mang lại những hiệu quả nhất định.
1. Lịch sử phát triển của trắc nghiệm tâm lý.
Trắc nghiệm tâm lý được hình thành và phát triển trong khoảng thời gian khá
dài. Nói đến lịch sử phát triển của các trắc nghiệm tâm lý là nhắc tới những nhân vật
góp phần hình thành và phát triến các trắc nghiệm. Người tiên phong trong lĩnh vục
trắc nghiệm là nhà sinh vật học người Anh, Francis Galton. Ông là người đầu tiên
thành lập phòng thí nghiệm nhân trắc tại triển lãm quốc tế. Bằng các phương pháp đo
đạc, lượng giá mà người ta có thế biết được các chỉ số về thị giác, thính giác, sức cơ,
thời gian phản xạ cùng một số chức năng giác quan đơn giản khác. Galton cũng là
và họ làm công việc tư vấn nghề nhằm giúp đỡ các cá nhân trong việc lựa chọn nghề
nghiệp, tìm ra cách bắt đầu và xây dựng một công việc một cách thành công. Họ cũng
là những người được đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực sử dụng trắc nghiệm và đều
làm việc tại các trung tâm tư vấn, các cơ sở thăm khám tâm lý hay tại các bệnh viện.
Nhìn chung, việc sử dụng các trắc nghiệm tâm lý trên thế giới khá phố biến và rất
phát triển. Các trắc nghiệm liên tục được thay đối cho thích hợp với thời điếm sử
dụng trắc nghiệm đế đem lại hiệu quả thực tế. Các trắc nghiệm tâm lý dần dần được
đưa vào ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống tâm lý chứ không chỉ dừng
lại ở việc đem lại hiệu quả cho công tác tuyến chọn và tư vấn nghề. Các trắc nghiệm
tâm lý góp phần không nhỏ vào việc chẩn đoán và trị liệu cho những cá nhân có rối
nhiễu tâm lý.
* Sử dụng trắc nghiệm tâm lý ở Việt Nam.
Ớ Việt Nam, việc sử dụng các trắc nghiệm tâm lý và những mục đích thăm
khám tâm lý còn rất mới mẻ. Ớ một vài bệnh viện lớn, trong khoa tâm thần hay khoa
thần kinh các bác sĩ đã sử dụng khá phổ biến các trắc nghiệm đế chẩn đoán bệnh. Một
số nơi như Khoa Tâm thần bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội; Viện quân y 103; Viện nhi
trung ương; ... đã có một phòng riêng làm các trắc nghiệm tâm lý. Các trắc nghiệm trí
tuệ cũng được nghiên cứu và sử dụng tại Viện Nhi Hà Nội. Các bác sĩ quân đội cũng
đã dùng các trắc nghiệm tâm lý trong công tác chữa bệnh và khám tuyển. Trong lĩnh
vực giáo dục, các trắc nghiệm trí tuệ được ứng dụng trong việc tuyến chọn sinh viên
vào các lớp tài năng như ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội, trường Đại học Xây
dựng, ... Ngoài ra còn có một sổ các trắc nghiệm được sử dụng trong trường học đế ôn
tập và thi cử. Trên các báo như Hoa học trò, Mực tím, ... cũng có đăng tải các trắc
nghiệm nhằm giúp các bạn học sinh lựa chọn ngành học phù hợp khi họ đang phân
vân không biết nên lựa chọn ngành học nào, sau này ra làm gì. Từ năm 1984, chuyên
đề Khoa học chẩn đoán tâm lý đã bắt đầu được giảng dạy cho hệ sau Đại học của
khoa Tâm lý học trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 1996, các môn học như: khoa
học chấn đoán tâm lý, tâm lý học lâm sàng, tâm lý học trị liệu, tham vấn tâm lý, ...
- Tiến hành thực nghiệm.
- Xử lý kết quả thu được.
Cả 3 giai đoạn này phải do các chuyên gia tâm lý học giỏi, được đào tạo chuyên sâu
và có kinh nghiệm tiến hành.
Mồi trắc nghiệm tâm lý phải đáp ứng 3 yêu cầu sau:
- Tính quy chuẩn: Trắc nghiệm phải được chuấn hóa về mặt kỹ thuật (về trình
tự các thao tác, điều kiện thực hiện trắc nghiệm .... ). Điếm chuấn của trắc nghiệm
phải được xác lập trên một nhóm đông người, đại diện cho một quần thể về lứa tuổi,
văn hóa, nghề nghiệp, sắc tộc, giới tính,...
- Tính hiệu lực: Trắc nghiệm phải đo được cái cần nghiên cứu và hiệu quả đo
lường của nó phải đạt đến mức độ cần thiết. Tính hiệu lực của trắc nghiệm một mặt
được đo bằng hệ số tương quan giữa các chỉ số trắc nghiệm. Mặt khác, được đo bằng
sự đánh giá một cách khách quan các phẩm chất tâm lý của khách thể nghiên
cứu.
Tính hiệu lực của trắc nghiệm bao gồm bốn loại: tính hiệu lực về nội dung, về khả
năng dự đoán của trắc nghiệm, về quan niệm tâm lý học của các tác giả và về độ xác
định qua đối chiếu với tiêu chuân bên ngoài của các phấm chất tâm lý.
- Độ tin cậy: Đây chính là sự ổn định của kết quả trắc nghiệm, nghĩa là khi sử
dụng những hình thức khác nhau của một trắc nghiệm hoặc khi tiến hành một trắc
nghiệm lặp lại nhiều lần trên cùng một khách thể nghiên cứu hay trên nhữngkhách thể
tương đương nhau thì kết quả trắc nghiệm đều giống nhau.Nét đặc trưng của trắc
nghiệm tâm lý lâm sàng là không đòi hỏi những quy trình, những tài liệu, dụng cụ ...
thực hiện phức tạp mà các kết quả trắc nghiệm thường được ghi lại một cách trực tiếp
bằng giấy, bút, ghi âm, ghi hình...
Ket quả trắc nghiệm tâm lý lâm sàng thường được so sánh với chuẩn chung hoặc
chuẩn trong điều kiện bình thường. Các trắc nghiệm tâm lý lâm sàng chủ yếu sử dụng
kiếu dành cho cá nhân. Các yêu cầu đối với trắc nghiệm tâm lý lâm sàng thế hiện ở
người làm trắc nghiệm và quá trình thực hiện trắc nghiệm:
pháp quan sát, hỏi chuyện ... đê thu thập những thông tin về đời sống tâm lý của thân
chủ. Sau đó là sự lý giải, cắt nghĩa những thông tin thu được đế rồi sau đó đưa ra
được kết quả chẩn đoán, trị liệu cho thân chủ.
Trong quá trình thăm khám tâm lý, càng sử dụng nhiều phương pháp đế thu thập
thông tin về đời sống của thân chủ, càng thu thập được nhiều thông tin phong phú và
đa dạng. Có cả những thông tin định tính và những thông tin định lượng. Điều đó cho
phép các nhà tâm lý lâm sàng, các bác sĩ tâm thần đưa ra hững chấn đoán, nhận định
về tâm lý thân chủ một cách chính xác. Có những khái niệm rất gần gũi với thăm
khám tâm lý mà chúng ta cần phân biệt, đó là khái niệm lâm sàng, khái niệm tham
vấn và trị liệu tâm lý.
* Khái niệm tham vấn tâm lý
Tham vấn là một thuật ngữ mà các nhà chuyên môn cho rằng không dễ dàng
định nghĩa được. Bởi khái niệm tham vấn vẫn còn là khá mới mẻ với nhiều người dân
Việt Nam. Thuật ngữ tham vấn mới chỉ xuất hiện trong vài năm gần đây. Chúng ta có
thể tìm hiếu khái niệm tham vấn qua một số định nghĩa của một vài tác giả sau đây:
Theo tiến sĩ tâm lý Nguyễn Thị Giồng, tham vấn là tiến trình tương tác giữa nhà tham
vấn và thân chủ, trong quá trình này nhà tham vấn sử dụng các kỹ năng chuyên môn
giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng đế họ có thể tự giải quyết các vấn đề của mình. Nhà
tham vấn lỗi lạc Carl Roger cho rằng: Tham vấn là hoạt động nhằm giúp đỡ con
người đế họ tụ’ giúp chính mình. Hoạt động tham vấn sẽ giúp họ nâng cao khả năng
tụ' tìm giải pháp đối phó với vấn đề và thực hiện tốt chức năng của mình trong cuộc
sống.
Như vậy, hoạt động tham vấn không chỉ đơn thuần là sự trợ giúp bằng lời khuyên như
nhiều người lầm tưởng (quan điếm đồng nhất hóa khái niệm tham vấn với tư vấn) mà
đó là quá trình tương tác tích cực giữa nhà tham vấn và thân chủ. Trong quá trình đó
thân chủ là người chủ động trong quá trình đưa ra quyết định và giải pháp cho vấn đề
của chính mình. Như thế có nghĩa là nhà tham vấn khơi gợi những yếu tố nội sinh và
thân chủ phải tụ’ chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Công việc của nhà tham
B, c, D, E), mỗi loạt 12 bài tập. Mỗi loạt đều được bắt đầu tù’ bài tập dễ và được kết
thúc bằng bài tập phức tạp nhất. Những nhiệm vụ từ loạt này sang loạt kia cũng được
phức tạp hóa dần như vậy. Có thế sử dụng phương pháp này cho cả cá nhân và nhóm.
Đối với trẻ em và những người trên 65 tuối thì thường dùng một loại đặc biệt gọi là
"Những khuôn hình mẫu của Raven". Thông thường thì thời gian thực hiện không bị
hạn chế, nghiệm thể làm theo nhịp độ vốn có của mình.
-Trắc nghiệm phân tích đế nghiên cứu trí tuệ của Richard Meili
Nhà tâm lý học Thụy Sĩ R. Meili đề ra phương pháp này năm 1928 để sử dụng trước
hết trong tư vấn nghề và tư vấn học đường. Trắc nghiệm này có thế dùng khi nghiên
cứu nghiệm thể trên 11 tuổi. Theo ý đồ của tác giả, phương pháp này phải xác định
được cả các hình thức và sự thế hiện khác nhau của trí thông minh thông qua mức độ
chung của trí tuệ. Trắc nghiệm Meili gồm 6 bài tập (tiểu nghiệm) mà mỗi tiểu nghiệm
đều là một phương pháp khá quen biết trong tâm lý học thực nghiệm.
Trong việc đánh giá các kết quả trắc nghiệm, Meili đã chỉ ra sự cần thiết phải tính đến
những đặc điếm nhân cách của nghiệm thế, thái độ của họ đối với công việc, khuynh
hướng cầu kỳ, tỉ mỉ trong việc thực hiện bài tập hay ngược lại, thái độ chưa nghiêm
túc đối với các bài tập.
* Các trắc nghiệm nhân cách
- Phưong pháp nghiên cứu nhân cách của Eysenck.
Giáo sư tâm lý học người Anh H.J.Eysenck (1947) đã phát hiện có 2 nhân tố
chính trong cấu trúc nhân cách: tính thần kinh (dễ bị kích thích) và tính hướng ngoại hướng nội. Đe đo 2 nhân tố đó như là 2 nhân tổ bất biến và đại diện (tiêu biếu) nhất,
Eysenck đã đưa ra một bảng câu hỏi gọi là "Bảng kiếm kê nhân cách của Eysenck"
(Eysenck Personality Inventory). Đó là sự phát triến của "Bảng kiểm kê nhân cách
của Maudsley" (Maudsley Personality Inventory) và cũng đế đo tính hướng ngoại và
tính thần kinh. Tất cả có 57 câu hỏi (cả 2 loại A và B đều như vậy), đòi hỏi trả lời có
hoặc không, trong đó có 24 câu hỏi về nhân tố tính hướng nội - hướng ngoại (nhân tố
I), 24 câu hỏi về nhân tố tính thần kinh - tính ốn định về cảm xúc (nhân tố N) và 9 câu
thận không; Lượng định sự tự vệ hay các định hướng giá trị và thái độ của cá nhân khi
trả lời câu hỏi. Dùng các thang hiệu lực này ta có thế người được trắc nghiệm giả vờ
đau yếu hay bát thường về tâm lý hoặc tìm cách gây cảm tưởng tốt đẹp hay xấu hơn
bình thường
- Trắc nghiệm hứng thú nghề nghiệp của Strong.
Giáo sư người Mỹ Strong cho rằng : để xác định các hứng thú cần thiết cho một nghề
nghiệp nào đó thì cần phải đo lường những hứng thú đặc biệt của những người đã
thành công trong nghề đó. Muốn vậy thì phải tìm xem những người trong một nghề có
những hứng thú gì, rồi chỉ chọn những hứng thú nào khiến họ khác biệt với những
người trong nghề khác. Phải chấp nhận một giả thuyết rằng những hứng thú đặc biệt
này cần thiết cho sự thành công trong nghề. Trên cơ sở lập luận như vậy, Strong đã
soạn ra " Trắc nghiệm hứng thú nghề nghiệp Strong". Dưới hình thức thông dụng, trắc
nghiệm Strong gồm 400 khoản, nó có thể dùng với 47 loại nghề của đàn ông và 28
loại nghề của đàn bà.
- Trắc nghiệm tổng giác chủ đề (TAT) :
Test TAT mà ngày nay chúng ta sử dụng là do nhà tâm lý học người Mỹ Henry
A. Murray xây dựng nên (1935), như là một test nhân cách, dựa trên cơ sở nghiên cứu
trí tưởng tượng trước đó. Bản test ngày nay được phát hành năm 1943, sau nhiều lần
cải biên.
Mấu chốt của phương pháp này là nghiệm thế tìm cho mỗi bức tranh một câu chuyện.
Nghiệm thể sử dụng những thành tố của những ý tưởng thoả nguyện và của những tác
hại do ý thức lo hãi, và đưa các thành tố này vào câu chuyện. Ngoài cơ chế phóng
chiếu theo đúng nghĩa của nó, chống lại sự căng thẳng về tình cảm, và xung động do
bức tranh gây ra, các cơ chế phòng vệ khác cũng được sử dụng và biếu lộ qua sự hư
cấu chuyện. Từ những thành tố này, trên nền căng thẳng âm ỉ, nghiệm thể chọn ra
những thành tố cần thiết cho câu chuyện, mà trong đó các phức cảm đã bị lãng quên
hiện ra một cách chuyến thể, được cô đặc hoá, được kịch tính hoá giống như chất liệu
ấn tàng của giấc mộng trong nội dung mà giấc mộng thế hiện . Vậy có thê phân tích
chứng xa lánh. Trong đó 50 câu được phát biếu tù' ngôi thứ nhất còn 50 câu tù' ngôi
thứ ba. Các câu trả lời sẽ được chia làm 9 phạm trù. Cuối cùng mỗi chủ thế sẽ nhận
được mức độ về hội chứng xa lánh cả trong những câu từ ngôi thứ nhất và thứ ba lẫn
trong tổng số chung.
* Các trắc nghiệm khảo sát cảm xúc.
- Thang trầm cảm Hamilton.
Thang trầm cảm Hamilton dùng để đánh giá, cho điểm khi phỏng vấn người bệnh, nên
thang này còn được gọi là "Sự phỏng vấn có cấu trúc" hoặc "Thang lượng giá". Trên
cơ sở phỏng vấn người bệnh, tiến hành đánh giá tình trạng trầm cảm của họ.
Thang Hamilton gồm có 77 câu thế hiện 21 mục nhằm đo 5 yếu tố, đó là: Lo âu; Sút
cân; Những thay đổi trong ngày và đêm; Rối loạn nhận thức; Chậm chạp; Rối loạn
giấc ngủ. Nghiệm viên đặt những câu hỏi cho bệnh nhân nhưng không đặt những câu
hỏi trục tiếp nhằm đánh giá bệnh nhân theo hướng đánh giá bệnh lý trầm cảm mà đưa
ra những gợi ý đế người bệnh tự trình bày những vấn đề của mình. Chỉ hởi sâu theo
hướng bệnh lý nếu thấy có những dấu hiệu bệnh lý.
- Thang trầm cảm Beck.
Thang trầm cảm Beck được sử dụng nhằm đánh giá cảm xúc nói chung và mức độ
trầm cảm nói riêng thông qua sự tự đánh giá của người bệnh. Thang đo này gồm 13
mục được ký hiệu theo thứ tự’ bảng chữ cái tù' A đến M. Có 54 câu khẳng định phản
ánh tình trạng hiện tại của bệnh nhân. Người bệnh lần lượt đọc tòng mục và đánh dấu
vào câu phù hợp với tình trạng hiện tại của mình nhất. Bệnh nhân cũng có thể đánh
dấu vào các câu khác trong mục nếu như câu đó cũng phù hợp với bản thân người
bệnh. Mức độ trầm cảm sẽ được đánh giá trên tống số điếm mà bệnh nhân có được
qua tùng mục.
- Thang lo âu Spielberger.
Sử dụng thang lo âu Spielberger nhằm đánh giá những nét nhân cách lo âu của
người bệnh. Thang này gồm 2 phần trong đó có 40 câu khắng định mô tả trạng thái
tâm lý hiện tại và những điều mà người bệnh thường xuyên cảm thấy. Bệnh nhân lần
nghiệm đó đều được đánh giá là phù họp với đổi tượng bệnh nhân của chúng ta.
Quá trình thích nghi các trắc nghiệm một cách đồng bộ, thống nhất giữa các cơ sở sẽ
tạo điều kiện cho trắc nghiệm phát huy những ưu điểm của mình trong thăm khám
tâm lý. Việc cập nhật những trắc nghiệm mới và thích nghi chúng kịp thời sẽ tạo điều
kiện cho trắc nghiệm có tính ứng dụng cao hơn. Thực tế có nơi trước đây có sử dụng
trắc nghiệm, nhưng đến nay họ không sử dụng nữa, ở Trung tâm nghiên cứu tâm lý
trẻ em N - T (giai đoạn 1997 - 2001) là một ví dụ. Họ không sử dụng trắc nghiệm nữa
bởi những cán bộ ở đây nhận thấy những điều không phù hợp giữa các trắc nghiệm
của nước ngoài đối với đối tượng bệnh nhân là người Việt Nam. Anh ĐC cho biết lý
do của việc ngừng sử dụng trắc nghiệm tại cơ sở như sau: “Những trắc nghiệm mà
chúng ta đang sử dụng đều là những trắc nghiệm nước ngoài, không phù hợp với văn
hoá và tư duy của người Việt Nam, chúng tôi nhận thấy đó là điều không phù hợp của
các trắc nghiệm. Chúng tôi có sử dụng nhưng không thấy hiệu quả nên hiện tại không
dùng trắc nghiệm trong thăm khám tâm lý nữa”
Mồi nơi thích nghi một khác nên việc nhận thấy trắc nghiệm có phù hợp với đối
tượng bệnh nhân hay không phụ thuộc vào những cán bộ sử dụng trắc nghiệm của
từng cơ sở.
2.2.Vấn đề chuẩn hoá, thích nghi các trắc nghiệm nước ngoài
Trong khi chúng ta chưa thế xây dựng cho mình một trắc nghiệm mang
“thương hiệu Việt Nam”, dù chỉ ở mức chuẩn hoá các trắc nghiệm nước ngoài. Quá
trình thăm khám tâm lý phải sử dụng hầu hết là các trắc nghiệm nước ngoài đã và
đang được thích nghi, tuy nhiên các cơ sở lại không cùng hợp tác trong quá trình thích
ứng các trắc nghiệm.
Các trắc nghiệm nước ngoài được sử dụng do nhiều nguồn khác nhau, như chúng tôi
đã trình bày ở phần trên, do vậy không ai trả lời chính xác được các trắc nghiệm đó
bắt đầu được sử dụng ở đâu và tù' khi nào. Đó quả thực là một nghịch lý, khi mà
người sử dụng không nắm rõ được những thông tin về nguồn gốc của trắc nghiệm mà
mình đang sử dụng. Cũng vì tính chất nhỏ lẻ, manh nha của việc sử dụng trắc nghiệm
họp với người Việt Nam.
2.3. Đánh giá về việc sử dụng những trắc nghiệm từ quá lâu
Vì sự không thống nhất về thời điếm thích nghi trắc nghiệm nên có những nơi
vẫn sử dụng các trắc nghiệm được thích nghi từ quá lâu rồi mà không có sự sửa đối.
Trắc nghiêm Denver I là một ví dụ. Theo TS.BS. HCT cho biết: trắc nghiệm này đã
được thích nghi trên diện rộng tù’ những năm 90 của thế kỷ XX nhưng đến nay không
có bất kỳ một sự sửa đối nào về các mục trong trắc nghiệm đó. Tại một số cơ sở (Viện
nhi trung ương) vẫn sử dụng trắc nghiệm này đế đánh giá sự phát triển tâm vận động
của trẻ em. Trên thế giới hiện nay đang sử dụng trắc nghiệm Denver II vậy mà chúng
ta vẫn đang sử dụng Denver I. Đánh giá thực trạng này Ths. NHT cho biết: “Thực tế ở
các cơ sở thăm khám tâm lý của chúng ta có không ít các trắc nghiệm đã được thích
nghi tù' lâu mà không được sửa đối. Những trắc nghiệm ấy coi như là không còn phù
hợp với người Việt Nam hiện tại nữa. Nhưng chúng ta vẫn phải sử dụng vì chưa có
trắc nghiệm nào thay thế cho những trắc nghiệm đã cũ ấy”.
Có một thực tế là chúng ta đi sau các nước trên thế giới rất nhiều về tốc độ thích nghi
các trắc nghiệm mới. Khi chúng ta được biết về các trắc nghiệm đang được sử dụng
trên thế giới, cố gắng tìm kiếm, học hởi cách thức sử dụng rồi đưa vào thích nghi,thì
khi đó thế giới đã dùng đến phiên bản khác rồi. Rõ ràng là chúng ta còn nhiều hạn
chế trong việc cập nhật những thông tin về việc sử dụng trắc nghiệm trên thế giới. Và
như thế đương nhiên là các trắc nghiệm mà chúng ta sử dụng lạc hậu hơn nhiều so với
thế giới. Vì vậy nên cho đến nay, trắc nghiệm dù có rất nhiều tác dụng trong khai thác
thông tin tò phía bệnh nhân, có những hiệu quả nhất định trong thăm khám tâm lý
nhưng không được dùng như công cụ chính trong thăm khám tâm lý. Hiện nay, tại các
cơ sở, trắc nghiệm chỉ được coi là công cụ hỗ trợ trong chẩn đoán, thăm khám tâm lý
bên cạnh các phương pháp khác như quan sát, hỏi chuyện lâm sàng. Ths. NHT: “Các
trắc nghiệm được sử dụng tại khoa tâm thần viện nhi chỉ mang tính chất như là những
chỉ báo, những kết quả bố sung cho thăm khám lâm sàng mà thôi”.
Những hạn chế về việc ứng dụng trắc nghiệm trong thăm khám tâm lý còn bởi chúng
họ cho rằng được đào tạo và cấp bằng chuyên ngành tâm lý là có thế sử dụng trắc
nghiệm một cách khoa học và bài bản. Trên thực tế, hiệu quả công việc trong việc sử
dụng trắc nghiệm như công cụ chẩn đoán tâm lý làkhông cao.
Như đã trình bày ở trên, do không được đào trạo chuyên sâu về các trắc nghiệm
nên mức độ hiểu biết các trắc nghiệm của các trắc nghiệm viên, các nhà tâm lý học
còn có nhiều hạn chế. Người sử dụng trắc nghiệm biết trắc nghiệm mà mình sử dụng
nhằm đo yếu tố nào, nhưng không ít cán bộ sử dụng trắc nghiệm thường xuyên nhưng
không hề biết về thời điểm trắc nghiệm đó được đưa vào sử dụng ở Việt Nam, về thời
điếm thích nghi hay quy trình xử lý trắc nghiệm đó như thế nào cũng không biết. Với
các sinh viên chuyên ngành tâm lý học, việc xử lý trắc nghiệm chỉ mang tính chất
kinh nghiệm và dựa vào số lượng ít ỏi các kiến thức về trắc nghiệm được học trong
chương trình Đại học. Những hiểu biết này chỉ được học qua việc “truyền nghề một
cách dân gian”, người không biết học người biết, học người đi trước một cách máy
móc. Chính cách học này đã dẫn đến những hạn chế trong việc khai thác các khía
cạnh khác nhau của trắc nghiệm. Hơn nữa những trắc nghiệm được giới thiệu đó lại
không ứng dụng ở Việt Nam hoặc vì đã lạc hậu nên không được sử dụng nữa. Vì vậy,
những người làm trắc nghiệm không có những kiến thức sâu về lĩnh vục mà mình làm
việc. Do đó ứng dụng trắc nghiệm trong thăm khám tâm lý còn chưa đạt được kết quả
cao. Người sử dụng trắc nghiệm chưa nhận thức đúng đắn về công việc của mình, về
vai trò và trách nhiệm của một người làm trắc nghiệm. Đối tượng được sử dụng trắc
nghiệm phải là các nhà tâm lý lâm sàng, nhà tham vấn tâm lý. Đó là nguyên tắc,
nhưng trên thực tế chúng ta chưa đảm bảo thực hiện nguyên tắc này. “Ở một số nơi,
trong các bệnh viện tâm thần, y tá cũng làm trắc nghiệm. Đó là việc làm bừa bởi họ
không phải là người được phép sử dụng trắc nghiệm. Những cách hiếu sai, không
đúng đắn về trúc nghiệm đã dẫn đến tình trạng này. Họ coi trắc nghiệm như một xét
nghiệm và cứ thế làm và đọc kết quả như đọc đơn thuốc vậy” (TS. NKQ). Thực trạng
đó thật đáng báo động. Những người sử dụng trắc nghiệm không hiểu gì về trắc
nghiệm tại các cơ sở thăm khám tâm lý hiện nay của chúng ta không ít. Do sự không
trường trong môn khoa học chẩn đoán tâm lý tại Trường Đại học khoa học xã hội và
nhân văn và Đại học Sư phạm Hà Nội. Việc đưa các trắc nghiệm vào trong chương
trình học của sinh viên tâm lý góp phần làm cho trắc nghiệm được phố biến rộng rãi.
Các trắc nghiệm nước ngoài du nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác
nhau như: Các sinh viên du học nước ngoài gửi trắc nghiệm về trong nước; các cánbộ
làm dự án với nước ngoài có sử dụng trắc nghiệm trong điều tra, khảo sát; các chuyên
gia nước ngoài giảng dạy cho sinh viên Việt Nam; ... Việc sử dụng các trắc nghiệm
trong thăm khám tâm lý đã mang lại hiệu quả trong chẩn đoán và đánh giá kết quả trị
liệu. Các trắc nghiệm được sử dụng tại các cơ sở thăm khám tâm lý có tác dụng hỗ trợ
chẩn đoán và bổ sung kết luận thăm khám lâm sàng.
Đội ngũ sử dụng trắc nghiệm tâm lý hiện nay ở nước ta còn nhiều hạn chế về
mặt chuyên môn và kỹ thuật làm trắc nghiệm nên việc ứng dụng trắc nghiệm vào
thăm khám lâm sàng chỉ đạt kết quả ở mức nhất định. Đội ngũ này tuy được đào tạo
nhưng không chuyên sâu về trắc nghiệm nên gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý trắc
nghiệm. Các sinh viên tâm lý chuyên ngành lâm sàng có được học về trắc nghiệm
nhưng không có thời gian thực hành tại cơ sở nên không biết cách xử lý trắc nghiệm.
Những trắc nghiệm đang sử dụng tại các cơ sở chủ yếu là “truyền miệng” từ thế hệ
trước cho thế hệ sau nên kết quả sử dụng trắc nghiệm còn nhiều hạn chế.
Các trắc nghiệm được sử dụng tại các cơ sở thăm khám tâm lý hiện nay là
những trắc nghiệm nước ngoài chưa được thích nghi trên diện rộng tại Việt Nam. Có
những trắc nghiệm đã được thích nghi nhưng người làm trắc nghiệm không biết đã
được thích nghi, chuẩn hoá từ khi nào do quá trình thích nghi trắc nghiệm lại diễn ra
không đồng bộ, thống nhất và không có sự liên kết giữa các cơ sở thăm khám. Do vậy
việc thích nghi các trắc nghiệm nước ngoài trong điều kiện chưa xây dựng được trắc
nghiệm thuần tuý của Việt Nam gặp nhiều khó khăn.