TiÓu luËn TriÕt häc
1
TIỂU LUẬN
Nhà nước và vấn đề xây dựng nhà nước ở
nước ta hiện nay
Lời nói đầu 2
Chương I: Lý luận về Nhà nước 3
I. Nguồn gốc và bản chất của nhà nước 3
II. Đặc trưng cơ bản của nhà nước 4
III. Chức năng cơ bản của nhà nước 4
IV. Các kiểu và hình thức nhà nước 5
V. Nhà nước vô sản – tính tất yếu và bản chất 6
VI. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ
cột của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực
của nhân dân, là tổ chức thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 6
Chương II: Vấn đề xây dựng nhà nước ở nước ta hiện nay 8
I. Tại sao phải nâng cao vai trò của nhà nước? 8
II. Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của nhà nước 9
Kết luận 12
Danh mục tài liệu tham khảo 13
TiÓu luËn TriÕt häc
3
ở nước ta
TiÓu luËn TriÕt häc
4
đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội và sẽ mất đi khi những
cơ sở tồn tại của nó không còn nữa.
2.Bản chất của nhà nước
Người lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước là giai cấp mạnh nhất, giai cấp giữ địa
vị thống trị về mặt kinh tế. Nhờ có nhà nước, giai cấp này trở thành giai cấp thống trị về
mặt chính trị. Bản chất nhà nước, do đó là quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về
mặt kinh tế hay nói cách khác : “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp
TiÓu luËn TriÕt häc
5
này dùng để trấn áp một giai cấp khác”, là bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai
cấp này đối với giai cấp khác, là cơ quan quyền lực của một giai cấp đối với toàn xã hội,
là công cụ chuyên chính của một giai cấp. Không có và không thể có nhà nước đứng trên
các giai cấp hoặc nhà nước chung cho mọi giai cấp.
Theo bản chất trên, nhà nước không thể là lực lượng điều hoà sự xung đột giai
cấp, mà trái lại, nó càng làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt.
Nhà nước, cũng theo bản chất đó, là bộ máy quan trọng nhất của kiến trúc thượng
tầng trong xã hội có giai cấp. Tất cả các hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội do nhà nước
tiến hành xét cho cùng, đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị.
Tuy nhiên cũng có trường hợp, nhà nước giữ được một mức độ độc lập nào đó đối
với cả hai giai cấp đối địch, khi cuộc đấu tranh giữa chúng đạt tới thế cân bằng nhất định;
hoặc nhà nước có thể thực hiện sự thoả hiệp về quyền lợi tạm thời giữa các giai cấp để
chống lại một giai cấp khác. Những trường hợp trên có tính chất ngoại lệ và tạm thời.
Đến một lúc nào đó, khi thế cân bằng giữa các giai cấp thù địch bị phá vỡ, sự thoả hiệp
tạm thời giữa các giai cấp thù địch với nhau cũng không còn nữa tất yếu sẽ tập trung
quyền lực vào tay một giai cấp nhất định.
II.Đặc trưng cơ bản của nhà nước.
61. Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội
Chức năng thống trị chính trị của giai cấp là chức năng nhà nước làm công cụ
chuyên chính của một giai cấp nhằm bảo vệ sự thống trị của giai cấp đó đối với toàn thể
xã hội. Chức năng giai cấp của nhà nước bắt nguồn từ lý do ra đời của nhà nước và tạo
thành bản chất chủ yếu của nó.
Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý
những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội, thoả mãn một số nhu cầu chung của cộng
đồng dân cư nằm dưới sự quản lý của nhà nước.
Trong hai chức năng trên thì chức năng thống trị chính trị là cơ bản nhất, chức
năng xã hội phải phụ thuộc và phục vụ cho chức năng thống trị chính trị. Giai cấp thống
trị bao giờ cũng biết giới hạn chức năng xã hội trong khuôn khổ lợi ích của mình. Song
chức năng giai cấp chỉ có thể được thực hiện thông qua chức năng xã hội. Ph.Ăngghen
viết: “ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị
chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”.
2. Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
Sự thống trị chính trị và sự thực hiện chức năng xã hội của nhà nước thể hiện
trong lĩnh vực đối nội cũng như trong đối ngoại.
a) Chức năng đối nội
Chức năng đối nội của nhà nước nhằm duy trì trật tự kinh tế, xã hội, chính trị và
những trật tự khác hiện có trong xã hội theo lợi ích của giai cấp thống trị. Thông thường
điều đó phải được pháp luật hoá và được thực hiện nhờ sự cưỡng bức của bộ máy nhà
nước. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nhiều phương tiện khác như bộ máy thông tin,
tuyên truyền, các cơ quan văn hoá, giáo dục để xác lập, củng cố tư tưởng, ý chí của giai
cấp thống trị, làm cho chúng trở thành chính thống trong xã hội.
b) Chức năng đối ngoại
Chức năng đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và
biểu là các hình thức lịch sử nhà nước chủ nô ở Hy Lạp và La Mã cổ đại như chính thể
quân chủ và chính thể cộng hoà, chính thể quý tộc và chính thể dân chủ. Các hình thức
này chỉ khác nhau về cách thức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước, còn về
bản chất chúng đều là nhà nước của giai cấp chủ nô, nhằm thực hiện sự chuyên chính đối
với nô lệ.
Nhà nước phong kiến: là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến. Nhà nước
phong kiến cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. ở phương Tây phổ biến
hình thức quân chủ phân quyền. Quyền lực nhà nước được chia thành quyền lực độc lập,
địa phương phân tán. ở phương Đông, hình thức quân chủ tập quyền là hình thức nhà
nước phổ biến dựa trên chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất.Trong nhà nước này, quyền
lực của vua được tăng cường rất mạnh, hoàng đế có uy quyền tuyệt đối. Tuy nhiên, tính
tập quyền đó trong thực tế lịch sử là dựa vào sức mạnh quân sự là chủ yếu. Do vậy, nguy
cơ cát cứ phân quyền vẫn luôn thường trực. Mỗi khi chính quyền nhà nước trung ương
suy yếu thì nguy cơ cát cứ lập tức xuất hiện biến thành các cuộc nội chiến tranh giành
quyền lực giữa các thế lực địa chủ các địa phương.
Nhà nước tư sản: là nhà nước của giai cấp tư sản thích ứng với hình thái kinh tế-
xã hội tư bản chủ nghĩa. Nhà nước tư sản cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác
nhau. Trong đó, hai hình thức cơ bản nhất là hình thức cộng hoà và hình thức quân chủ
lập hiến. Hình thức cộng hoà lại được tổ chức dưới những hình thức khác nhau như cộng
hoà Đại nghị, cộng hoà Tổng thống trong đó, phổ biến nhất là hình thức cộng hoà Đại
nghị.
Hình thức của nhà nước tư sản là rất phong phú nhưng không làm thay đổi bản
chất của nó-là công cụ của giai cấp tư sản dùng để bóc lột, áp bức, thống trị giai cấp vô
sản và quần chúng lao động.
V. Nhà nước vô sản-tính tất yếu và bản chất
Tổng kết kinh nghiệm lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và
xét địa vị kinh tế của giai cấp đó trong nền sản xuất hiện đại, C.Mác kết luận: để đi tới
một xã hội không còn giai cấp, giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị và nắm
lấy quyền lực chính trị để thực hiện sự thống trị chính trị của mình. Giai cấp vô sản phải
pháp quyền của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà nước ấy do nhân dân lập ra và thông
qua tổng tuyển cử toàn dân, được đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân. Mọi
quyền lực mà Nhà nước có được đều do nhân dân uỷ quyền. Mọi chủ trương, chính sách
của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Nó kiên quyết đập tan mọi mưu đồ đi ngược
lại ý chí của nhân dân ta.
Trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực nhà nước được tổ chức theo
nguyên tắc thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữ các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tổ chức và hoạt động
của nhà nước thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tất cả quyền lực của nhà nước
thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất tổ chức và hành động, phát huy đồng bộ và kết
hợp chặt chẽ sức mạnh của cả cộng đồng và từng cá nhân, của cả nước và từng địa
phương, của cả hệ thống bộ máy và từng yếu tố cấu thành nó. Tập trung dân chủ đối lập
với tập trung quan liêu cũng như phân tán, cục bộ.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự thống nhất hữu cơ chức
năng giai cấp và chức năng xã hội trong tổ chức và trong hoạt động của mình. Càng đứng
vững trên lập trường giai cấp công nhân, càng có khả năng phát hiện, nhận thức và giải
quyết có hiệu quả những vấn đề có liên quan tới chức năng xã hội. Ngược lại, việc thực
hiện tốt chức năng xã hội sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giai cấp.
TiÓu luËn TriÕt häc
9
lượng sản xuất. Trong các thế kỷ trước, những yếu tố tạo ra sự phát triển lực lượng sản
xuất là lao động, vốn và công nghệ thì hiện nay thêm một yếu tố nữa là tri thức và khi
nào yếu tố tri thức chiếm đa số trong những yếu tố tạo nên tăng trưởng, đó là kinh tế tri
thức. Sang thế kỷ XXI, lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển trong đó kinh tế tri thức có
vai trò ngày càng nổi bật.
Ba là, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều
nước tham gia. Xu thế này đang bị một số nước phát triển và tập đoàn kinh tế tư bản
xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt
tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh.
- Hiện nay, tổ chức thương mại thế giới (WTO) có 136 nước tham gia, 25 nước
nộp đơn xin tham gia, trong đó có Việt Nam. Trong khuôn khổ WTO hiện nay chiếm tới
90% thương mại xuất nhập khẩu của thế giới. Nếu nước nào không tham gia sẽ bị phân
biệt đối xử, sẽ bị thiệt hại không nhỏ về lợi ích kinh tế. Thí dụ: Trung Quốc nếu được
TiÓu luËn TriÕt häc
10
tham gia vào WTO thì hàng hoá vào thị trường Mỹ sẽ có thuế suất bằng không, còn hàng
hoá của ta khi chưa tham gia tổ chức này xuất sang thị trường Mỹ sẽ bị đánh thuế tới
40%. Vì thế hàng hoá của ta khó có thể cạnh tranh nổi với hàng hoá các nước vể mặt giá
cả.
- Toàn cầu hoá vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. Tham gia vào các tổ chức
quốc tế để có điều kiện phát triển và cũng để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình. Quá
trình toàn cầu hoá là một quá trình phức tạp, vừa là cơ hội, vừa là thách thức rất lớn.
Bốn là, các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và
mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn. Từ trước tới nay, Đảng ta
vẫn xác định có 4 mâu thuẫn cơ bản là: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã
hội, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với đế quốc, mâu thuẫn giữa đế quốc với các dân
tộc, mâu thuẫn giữa tư bản với công nhân. Trong đó đặc biệt chú ý đến mâu thuẫn giữa
chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Đối với Trung Quốc và Việt Nam các thế lực thù
địch luôn tìm cách chống phá, ngăn cản sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và công cuộc
TiÓu luËn TriÕt häc
11
Bước sang thế kỷ XXI, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng đòi hỏi
phải xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả, bảo đảm cho Nhà nước ta mãi mãi giữ bản chất cách mạng, bản chất giai cấp,
thực sự là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Vì lẽ đó, Đại hội
IX của Đảng khẳng định cần phải “Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà
nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế”
1. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của
Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất ở nước ta, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Để phát huy
vai trò, vị trí của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội phải được kiện toàn tổ
chức, đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình theo
hướng:
- Tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp nhằm nâng cao chất
lượng các đạo luật, tăng cường ban hành luật, hạn chế ban hành các pháp lệnh và
nghị định, tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở quán triệt quan điểm,
đường lối của Đảng phù hợp với thực tiễn Việt Nam và luật pháp, thông lệ quốc
tế, có tính khả thi cao. Muốn vậy, cần phải xây dựng chương trình làm luật, đổi
mới quy trình ban hành và hướng dẫn thực thi pháp luật.
- Làm tốt chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định
và phân bố ngân sách nhà nước.
- Làm tốt chức năng giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của
Nhà nước, trước mắt tập trung vào những vấn đề bức xúc như: sử dụng vốn và tải
sản của Nhà nước; chống tham nhũng, quan liêu; vấn đề bắt giam, điều tra, truy
tố, xét xử .Việc giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ, của các
mang tính liên ngành, liên vùng đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã
hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ và cơ quan ngang bộ cũng được điều
chỉnh theo hướng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bao quát tất cả các thành phần kinh tế
trong phạm vi cả nước, cung cấp dịch vụ công. Sắp xếp, tinh gọn các cơ quan thuộc
Chính phủ, bộ máy giúp việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; cơ cấu bộ máy và biên
chế các bộ, cơ quan ngang bộ. Phân định rõ chức năng, thẩm quyền quản lý hành chính
nhà nước với nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công để bố trí bộ máy và phương thức hoạt
động phù hợp.
Tổ chức, bộ máy chính quyền địa phương được cải cách, kiện toàn theo nguyên
tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, không có quyền lực nhà nước ở địa phương tách
rời quyền lực nhà nước ở trung ương; được phân công, phân cấp theo hướng nâng cao
tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý theo ngành và quản
lý theo lãnh thổ. Chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
đều thực hiện chức năng chấp hành pháp luật và các quyết định hành chính của cấp trên.
Trên cơ sở đó tổ chức hợp lý Hội đồng nhân dân, bảo đảm hoạt đông thiết thực, hiệu quả.
Theo vị trí, trách nhiệm của từng cấp hành chính, sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn các cơ
quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân.
Xây dựng và kiện toàn bộ máy và cán bộ chính quyền cấp xã, phường, thị trấn có
đủ năng lực và phẩm chất để quản lý, giải quyết đúng thẩm quyền những vấn đề do cuộc
sống đặt ra.
Cùng với việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ
chức trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, cần xác định rõ trách nhiệm của tập thể và
trách nhiệm của cá nhân, trước hết là trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức; đổi mới phương thức làm việc của các cơ quan nhà nước, xây dựng và thực hiện
nghiêm ngặt quy chế làm việc.
Công cuộc cải cách bộ máy hành chính nhà nước phải được lãnh đạo chặt chẽ và
tiến hành đồng bộ từ trung ương đến cơ sở, gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Kết luận
Trong thời đại ngày nay, việc nâng cao vai trò của Nhà nước là một trong những
vấn đề then chốt cần được xem xét đúng mức và triển khai có hiệu quả, đặc biệt là vấn đề
cải cách bộ máy hành chính nhà nước.Nước ta vẫn đang trong thời kỳ quá độ lên xã hội
chủ nghĩa, nhiệm vụ trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn và thử thách,phải xây dựng một
Nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự là của dân, do dân, vì dân, một bộ máy nhà nước có
TiÓu luËn TriÕt häc
14
khả năng quản lý tốt để đưa đất nước phát triển đi lên một cách nhanh lẹ, vững chắc, đẩy
nhanh tiến trình quá độ lên xa hội chủ nghĩa, tránh nguy cơ tụt hậu quá xa so với các