TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA LỊCH SỬ
--------------------
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: QUAN HỆ GIỮA PHƢƠNG TÂY VỚI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG
NAM Á (TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XIX)
Đề tài: NGUYÊN NHÂN TÂY BAN NHA LIÊN QUÂN VỚI PHÁP TRONG
VIỆC XÂM LƢỢC VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
PGS.TS. Đặng Văn Chương
Lê Văn Viện
Huế, tháng 05 năm 2016
1
Lời cảm ơn!
Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo Đặng Văn
Chƣơng, hƣớng dẫn tìm tài liệu của cô giáo Trần Thị Quế Châu và các bạn đã giúp
đỡ em trong việc hoàn thành tiểu luận học phần Quan hệ giữa phƣơng Tây với các
quốc gia Đông Nam Á (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX). Với tƣ cách là một sinh viên
khi nghiên cứu, thời gian có hạn, vấn đề nghiên cứu lại phức tạp thì khó tránh khỏi
những sai sót và hạn chế. Rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của thầy và các
luận học phần Quan hệ giữa Phương Tây với các quốc gia Đông Nam Á (Từ thế
kỷ XVI đến thế kỉ XIX).
II.
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Tuy không có những công trình tập trung nghiên c u về nguyên nhân Tây
Ban Nha liên quân với Pháp trong việc xâm lược Việt Nam, nhưng liên quan đến
nội dung nghiên c u đề tài này, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên
c u dưới dạng cung cấp nguồn tư liệu: Kỷ Niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam
Kỳ (20-6-1867 – 20-6-1967)(1967) - Trương Bá Cần, Phạm Cao Dương, Lê Văn
Hảo, Nguyễn Khắc Ngữ, Trần Trọng Phủ, Lý Hánh Trung, đã có đề cập đến sự
tiếp tay của Tây Ban Nha trong việc xâm lược Việt Nam; trong Giáo trình Lịch Sử
Việt Nam Cận Đại (2013) - Trương Công Huỳnh Kỳ, Nguyễn Tất Thắng, Đỗ
Mạnh Hùng đã có nhắc ý chính lí do Tây Ban Nha liên quân với Pháp; hay bài báo
Về sự kiện Quân Pháp nổ súng tiến đánh Đà Nẵng năm 1858 (TCLSQS - số 92008) – Hồng Việt Quân đã đề cập đến lực lượng tham chiến chiến ở Đà Nẵng của
Tây Ban Nha trong việc liên quân với Pháp. Nhìn t ng thể, các công trình trên chỉ
mới đề cập một cách khái quát và rời rạc về nguyên nhân Tây Ban Nha liên quân
với Pháp trong việc xâm lược Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên c u đó
vừa có nghĩa gợi mở những tưởng vừa là những tư liệu qu giá giúp chúng tôi
hoàn thành đề tài.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng cơ sở lý luận sử học mácxít và lí luận của nghành lịch sử. Sử
dụng phương pháp sưu tầm, tập hợp, chọn lọc, xử lý, t ng hợp các tài liệu liên
quan đến đề tài Nguyên nhân Tây Ban Nha liên quân với Pháp trong việc xâm
lược Việt Nam.
IV. ĐÓNG GÓP ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần làm rõ hơn những nguyên nhân Tây Ban Nha liên quân với
Pháp trong việc xâm lược Việt Nam từ đó đưa ra một số kiến giải t ng quát, nhằm
tự tìm một cơ sở khoa học để lý giải những vấn đề liên quan.
V.
GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Pháp nhận được sự giúp đỡ
hết s c đắc lực và hiệu quả từ bộ phận giáo sĩ truyền đạo Thiên chúa ở Việt Nam. Giáo sĩ
Pháp Alexandre de Rhodes đến Việt Nam năm 1624 và trở về Pháp năm 1645. Suốt 21
năm đi trong Nam, ngoài Bắc, khi về Pháp Alexandre de Rhodes mang theo một tấm bản
đồ miêu tả tỉ mỉ về Việt Nam. Đó là x “giàu lắm, vì đất đai trong x rất phì nhiêu. Vùng
này có 24 con sông tưới nhuần giúp cho sự đi lại bằng đường thủy khắp x vô cùng thuận
lợi. Sự buôn bán và giao thông được dễ dàng hơn. Nam Kì có mỏ vàng, rất nhiều hồ tiêu
và tơ, nhiều đường”. Alexandre de Rhodes kết luận: “Đây là một vị trí cần phải chiếm lấy
và chiếm được vị trí này thì thương gia Châu Âu sẽ tìm được nguồn lợi nhuận và tài
nguyên dồi dào” [3;118].
Sau Alexandre de Rhodes, các lái buôn và cha cố đã đến Việt Nam đều xác nhận
Việt Nam là x tài nguyên phong phú, cần lập gấp căn c ở đó để thu lợi nhuận. Năm
1658, Hội truyền giáo nước ngoài được thành lập ở Pháp và sau đó đã gửi nhiều giáo sĩ
qua bán đảo Trung Ấn dọn đường cho sự xâm lược của Pháp. Năm 1749, một số giáo sĩ
1
Cuộc “Chiến tranh thuốc phiện” bùng n năm 1840. Anh và một số nước châu Âu, trong đó có Pháp, lấy cớ triều
đình Mãn Thanh cấm buôn bán thuốc phiện và đ hơn 2 vạn thùng thuốc phiện nhập cảng xuống biển, đã tiến công
đánh chiếm Thượng Hải, Nam Kinh… buộc Mãn Thanh k “hòa ước” năm 1842 với nhiều điều khoản ép buộc.
Tình hình tạm lắng. Đến 1858 lại bùng n và kéo dài đến 1860.
4
kiêm nhà buôn như Poavơrơ đến Phú Xuân xin đặt căn c ở Đà Nẵng, Hội An. Năm
1753, Xanhphalơ trình gác thư yêu cầu lập căn c ở miền Bắc Việt Nam. Thất bại của
Pháp trong cuộc chiến tranh bảy năm với Anh (1756-1763) đã làm cho Pháp mất vào tay
Anh hầu hết thuộc địa ở Ấn Độ, chỉ còn lại 5 thương điếm. Từ những đề xuất của giáo sĩ,
đến các yêu cầu của thương gia đều toát lên tinh thần cơ bản là phải chiếm lấy Việt Nam
nhằm thỏa mãn nhu cầu lợi nhuận của họ. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
một công dân nước Pháp. Ông đã hoàn thành “xuất sắc” hai nhiệm vụ đó[6;27]. Sau khi
về nước, cùng với việc công bố tại Lyông những công trình liên quan đến những vùng đất
mà ông đến truyền đạo, trong đó có Việt Nam, ông đã tiến hành cuộc vận động thành lập
Công ty Đông Ấn của Pháp theo gương của Hà Lan và Anh quốc. Công cuộc vận động
đang còn dang dở thì ông mất năm 1661. Màn một được kép lại ở đây.
Màn hai: mở đầu bằng sự ra đời của Công ty Đông Ấn của Pháp năm 1663 và
khép lại bở sự kiện Pháp n súng đánh thành Đà Nẵng năm 1858. Vai trò chính ở màn hai
là sự phối hợp hành động giữa giáo sĩ và thương nhân. Giáo sĩ dựa vào thương nhân
trước hết ở phương tiện đi lại, còn thương nhân nhìn thấy ở giáo sĩ như người tiên khu,
nước Chúa mở tới đâu, thương nhân tới đó lập thương điếm buôn bán. Giáo sĩ và thương
nhân cùng đi trên một con thuyền vì hai mục đích khác nhau truyền đạo và buôn bán.
Vậy ai lợi dụng ai?[6;27].
Và màn ba của vở diễn việc thực dân Pháp n súng đánh chiếm Đà Nẵng chỉ là sự
khởi đầu cho chặng th ba, chặng cuối cùng trong việc chinh phục Việt Nam bằng vũ lực.
Để tạo thêm s c mạnh, Pháp tìm kiếm sự phối hợp của Tây Ban Nha. Hồ sơ lưu
trữ của Pháp ghi nhận, cuộc tiến công Đà Nẵng được đặt dưới sự chỉ huy của Đô đốc hải
quân Pháp Rigôn Đờ Gionuiy (Rigault de Genouilly) và Đại tá lục quân Tây Ban Nha
Conzarole, gồm 2 tàu chiến, 12 tàu đ bộ chở theo một đại đội pháo, 2 đại đội lính thủy
binh, 2 tiểu đoàn lính bộ Pháp, 1 tiểu đoàn lính bộ Philippin của Tây Ban Nha, t ng cộng
có tất cả vào khoảng 2.000 quân Pháp và 500 lính thuộc địa Tây Ban Nha. Kế hoạch đặt
ra là nhanh chóng chiếm lĩnh Đà Nẵng, dùng Đà Nẵng làm vị trí tập kết và bàn đạp để
tiến công kinh đô Huế, thanh toán triều đình nhà Nguyễn [5;32].
CHƢƠNG II: NGUYÊN NHÂN TÂY BAN NHA LIÊN QUÂN VỚI PHÁP TRONG
VIỆC XÂM LƢỢC VIỆT NAM
2.1. Quyết định can thiệp vào Đông Dƣơng, liên quân giữa Pháp và Tây Ban Nha đã
do một phần ảnh hƣởng của hoàng hậu Eugénie
Có người cho rằng việc quyết định can thiệp vào Đông Dương, liên quân giữa
Pháp để mở một cuộc viễn chinh ở Nam Kỳ. Hải quân và bộ binh ta đã biểu lộ truyền
thống của nó và để nhớ lại những cuộc thám hiểm mà quân đội Tây Ban Nha luôn luôn tỏ
ra xuất sắc bảo vệ quyền lợi và danh dự của t quốc và vương quyền” [2;57]
2
Họ thường lẫn Nam Kỳ và An Nam
Diag bị chém ở Nam Định ngày 20-7-1857
4
Meichior cũng bị xử tử ở Bắc Kỳ ngày 28-7-1858.
3
7
Theo tướng O’Donnel, chủ tịch hội đồng nội các tuyên bố ngày 29-12-1858 thì
đây là một cuộc liên minh rất cao thượng và bất vụ lợi vì giữa Pháp và Tây Ban Nha
không có một hiệp ước công hay thủ nào cả5.
Ngày 11-3-1859 bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha trả lời một dân biểu đối lập
trước nghị viện: “Nước láng giềng và thân hữu mà chúng ta, đang có những liên lạc chặt
chẽ và lớn lao, đã thấy và đã có chung lí do với chúng ta trong sự cần thiết gửi lực lượng
sang Nam Kỳ. Thật là tự nhiên khi binh sĩ chúng ta sát cánh với các binh sĩ nước bạn đó
để đạt tới cùng một mục đích. Không có một hiệp ước nào, hiệp ước chẳng có gì cần
thiết. Không có và không còn có hiệp ước nào nữa: Người ta đã cho rằng binh sĩ chúng ta
đã đóng vai trò phụ, th yếu, thuộc hạ nhưng điều này không đúng. Quân đội Tây Ban
Nha và Pháp đ ng cạnh nhau, chính phủ của Hoàng đế Pháp và chính phủ của nữ hoàng
Tây Ban Nha chẳng bao giờ nghĩ đến việc hạ cờ Tây Ban Nha xuống dưới cờ nào cả…”
[2;57-58]
Trước khi xuất quân tướng Fernando de Norzagaray ra nhật lệnh cho đoàn quân
viễn chinh như sau:
huy của phó đô đốc Rigôn Đờ Gionuiy (Rigault de Genouilly) và Đại tá lục quân Tây
Ban Nha Conzarole.
Hạm đội gồm có 14 tàu: soái hạm Némésis, 2 chiến hạm chạy hơi Phlégéthon và
Primauguet, cùng một tàu hơi Tây Ban Nha El cano, các pháo hạm: Avalanche,
Dragonne, Fusée, almer Mitraille; các vận hạm: Durance, Gironde, Saone, Meurte và Por
Dogne.
Quân đ bộ ngoài các đại đội hải quân còn có hai tiểu đoàn bộ binh, một pháo đội
của hải quân và một đơn vị lính Tagals từ Phi-luật-tân gửi đến đặt dưới quyền chỉ huy
của đại tác Lanzarote. T ng cộng tất cả vào khoảng 2.000 quân Pháp và 500 lính thuộc
địa Tây Ban Nha.
Quân Pháp6 có ưu thế về hỏa lực và vận chuyển bằng tàu rất nhanh.
Quân Pháp có thể từ xa bắn vào thuyền bè, thành lũy của ta mà súng ta không thể
bắn tới họ.
Quân Pháp có thể dùng tàu, thuyền máy đ bộ bất ngờ vào nơi quân ta không đề
phòng mà ta không phản ng kịp.
Song quân Pháp có bất lợi về khí hậu. Mùa này ngoài Đà Nẵng nóng lắm, quân
Pháp ở vùng khí hậu lạnh quen, chịu không n i.
Trận đánh thành Gia Định (17-2-1859)
Lực lƣợng liên quân Pháp và Tây Ban Nha lúc này gồm:
2 chiến hạm lớn: Philégéthon và Primaugnet
3 pháo hạm: Alarme, Avalanche và Dragonne
6
Để tiện hơn xin dùng danh từ này để thay Liên quân Pháp-Tây Ban Nha
9
3 hải vận hạm: Durance, Meurthe, Saône và một tàu hơi Tây Ban Nha El Cano
Lực lượng đ b gồm có 2 đại đội bộ binh hải quân Pháp do Trung tá Rebaud chỉ
Bốn chiến hạm này gồm: Primauguet, Dutance, Avalanche,và Dragonne
10
binh do thiếu tá Alijé de Mati – gnicourt chỉ huy và đơn vị lính Phi-châu. Tất cả đặt dưới
quyền tướng Vassoigne. T ng cộng quân số lên đến gần 3.000 người.
Charner cũng xin với nhà cầm quyền Tây Ban Nha ở Phi-luật-tân gửi thêm 150 kỵ
binh
8
Việc thêm viện binh Tây Ban Nha này đã gây vài khó khăn trong việc bang giao
Pháp và Tây Ban Nha vì trước kia Tây Ban Nha liên minh với Pháp hoàn toàn vì lí do tôn
giáo, nay thấy Pháp chiếm đóng lãnh th nên họ có đòi hỏi những quyền lợi vật chất.
Đô đốc Charner đã phải gửi cho Palanca, Tư lệnh lực lượng Tây Ban Nha ở Gia Định
một văn thư đại ý: “Tây Ban Nha là đồng minh ch không phải là thuộc hạ. Nhưng không
phải vì thế mà đặt ra vấn đề chia đất Sài Gòn. Hơn nữa theo lệnh Hoàng đế Napoléon thì
Tây Ban Nha có thể thấy ở Bắc kỳ sự đền bù vì những hi sinh cao cả của họ”9 [2;134]
Hòa ƣớc Nhâm Tuất (5-6-1862):
Nắm được ưu thế, quân Pháp tính chuyện điều đình để yên dân. Ngày 5 tháng 5
năm 1862, Bonnard cho trung tá Simon chỉ huy tàu Forbin ra Huế, bỏ neo ở cửa sông
Hương (cửa Thuận An) để đòi triều đình thương thuyết. Trên đường về Sài Gòn ông ghé
Đà Nẵng báo cho quan quân địa phương ta ở đây hay rằng trong ba ngày nữa phải cử đại
thần có toàn quyền vào thương thuyết, Ông còn đòi hỏi phải đóng ngay một khoản bạc
nén bằng 100.000 quan.
Ba ngày sau (16 tháng 4), tàu Hải âu đưa s giả vào Nam, Phái bộ hòa bình này do
Phan Thanh Giản cầm đầu10, có Lâm Duy Hiệp phụ tá. Đến ngày 5 tháng 6, một hòa ước
ký trên tàu Duperré bỏ neo ở bến Sài Gòn.
đường sang buôn bán với Căm-bốt và cũng phải để tàu chiến Pháp được tự do vào thám
hiểm trên các sông ngòi của nước này.
Khoản 5: Các thương gia Pháp và Tây Ban Nha vào buôn bán ở Đà Nẵng, Quảng
Yên phải bảo đảm được an ninh và hoàn toàn tự do. Họ sẽ đóng đủ các th thuế cho
nước Nam. Ngược lại các thương gia nước Nam sang Pháp và Tây Ban Nha cũng được
hưởng quyền lợi tương tự. Khi nước Nam nhượng cho các cường quốc khác các đặc
quyền thì Pháp và Tây Ban Nha cũng được hưởng tương tự.
11
Khoản 8: Nước Nam phải trả cho Pháp và Tây Ban Nha tiền bồi thường kinh phí
là 4 triệu đồng trong mười năm, mỗi năm 400.000 đồng, trao tận tay cho đại diện Pháp ở
Gia Định.
Ngày 17-2-1859, liên quân Pháp-Tây Ban Nha chiếm được Sài Gòn. Lúc này cuộc
“Chiến tranh thuốc phiện” ở Trung Quốc đang bước vào giai đoạn cuối. Ngày 29-101860, “Hòa ước” kết thúc chiến tranh được ký tại Bắc Kinh. Pháp càng rảnh tay và có
thêm binh lực mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Kỳ, mặc dù Tây Ban Nha bắt đầu rút
quân về Philippin. Bước sang năm 1861, Pháp lần lượt đánh chiếm Mỹ Tho, Bà Rịa, Biên
Hòa, Vĩnh Long, tạo cơ sở đàm phán trên thế mạnh, buộc nhà Nguyễn phải “nhường” cho
Pháp 3 tỉnh miền Đông là Mỹ Tho, Gia Định, Biên Hòa và đảo Côn Sơn; tiếp đó lại
“nhường” thêm 3 tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Năm 1867, toàn bộ
x Nam Kỳ coi như nằm trong sự kiểm soát của Pháp. Tuy nhiên bước chân xâm lược
của Pháp không dừng lại ở đây mà vẫn tiến lên phía Tây và phía Bắc, lần lượt thôn tính
toàn bộ Đông Dương. Tuy nhiên, cũng phải “loay hoay” mãi tới năm 1897, t c 4 thập kỷ
sau khi n súng đánh chiếm Đà Nẵng (1858) thực dân Pháp mới chính th c thiết lập được
bộ máy T ng cai trị (Gouvernement general) trên lãnh th thuộc địa.
11
Ngày nay thuộc địa phận của hai tỉnh Hải Phòng-Quảng Ninh.
12
c ng rắn về giáo lí của nó đã làm t n hại đến ý th c hệ Kh ng – Mạnh cũng như đến đời
sống văn hóa truyền thống của quốc gia, và đằng sau nó là một mối đe dọa thường trực
của một cuộc xâm lược vũ trang, cụ thể là sự xâm lược của thực dân Pháp-Tây Ban Nha
đang tới gần.
Th hai: Nữ hoàng Tây Ban Nha Idaben II (Isabelle II) tuyên bố trong một bu i lễ
rằng: “Những vụ tàn sát mà các nhà truyền giáo x ta ở Á Châu là nạn nhân đã buộc tôi
phải liên minh với Pháp để mở một cuộc viễn chinh ở Nam Kỳ…”. Có hay chăng đó chỉ
là một lời tuyên bố để động viên binh sĩ, động viên tinh thần và hợp pháp hóa lí do mở
cuộc viễn chinh, hoặc Theo tướng O’Donnel, chủ tịch hội đồng nội các tuyên bố ngày 2912-1858 thì đây là một cuộc liên minh rất cao thượng và bất vụ lợi vì giữa Pháp và Tây
Ban Nha không có một hiệp ước công hay thủ nào cả. Vấn đề này lại liên quan đến đối
ngoại. Rõ ràng “Trên thế giới này không có đồng minh vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn chỉ
có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn” (Winston Churchill-Cựu thủ tướng nước Anh). Căn
c vào lực lượng tham chiến của Tây Ban Nha trong việc liên quân với Pháp cũng như
quá trình hai nước liên quân với nhau và đôi lúc vì lợi ích đã bắt đầu xuất hiện nhỏ giọt
một số mâu thuẫn tay đôi. Việc Pháp xin thêm viện binh Tây Ban Nha trong trận đánh đại
đồn Chí Hòa (13-2-1861) đã gây vài khó khăn trong việc bang giao Pháp và Tây Ban Nha
vì trước kia Tây Ban Nha liên minh với Pháp hoàn toàn vì lí do tôn giáo, nay thấy Pháp
chiếm đóng lãnh th nên Tây Ban Nha có đòi hỏi những quyền lợi vật chất. Kí hòa ước
Nhâm Tuất (5-6-1862) Đại tá Palanca không thấy đề cập đến việc nhượng đất cho Tây
Ban Nha đã phản đối . Căn c vào lực lượng tham chiến của Tây Ban Nha, điều động biết
bao nhiêu binh sĩ và con số là không hề nhỏ (trận mở màn ở Đà Nẵng ngày 1-9-1858 có
tới 500 lính thuộc địa Tây Ban Nha trong khi đó quân Pháp là 2.000), của cải tham chiến
ở Nam Kì trong việc liên quân lẽ tất nhiên phải thu được lợi nhuận với nguồn vốn chi ra,
thậm chí là lợi ích và kể cả đất đai được chia như thế nào. Tư bản Tây Ban Nha cũng
nhiều lần dòm ngó các vùng Đồ Sơn, Quảng Yên ngoài Bắc, nên Nữ hoàng Tây Ban Nha
là Idaben II (Isabelle II) sẵn sàng cấu kết với Pháp trong cuộc viễn chinh này để kiếm lợi.
Tây Ban Nha liên quân với Pháp để kiếm lợi, chia đất nhất là lợi ích từ Bắc Kỳ chính là
nguyên nhân chủ yếu Tây Ban Nha sẵn sàng cấu kết, tiếp tay với Pháp trong việc xâm
lược Việt Nam.