BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VI THỊ THU HUYỀN
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA DẠY HỌC
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
VI THỊ THU HUYỀN
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA DẠY HỌC
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mã số:
60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Quang Tiệp
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công
bố trong bất kì công trình nào khác.
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Vi Thị Thu Huyền
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI . 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................... 5
1.1.1. Trên thế giới .................................................................................................. 5
1.1.2. Ở Việt Nam ................................................................................................... 8
1.2. Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ............................................................. 14
1.2.1. Kĩ năng sống ............................................................................................... 14
1.2.2. Phân loại kĩ năng sống ................................................................................ 16
1.2.3. Giá trị của kĩ năng sống trong đời sống con người..................................... 18
1.2.4. Giáo dục kĩ năng sống ................................................................................ 20
1.2.5. Con đường giáo dục kĩ năng sống cho người học ...................................... 22
1.3. Đặc điểm của học sinh tiểu học ......................................................................... 24
1.3.1. Đặc điểm tâm lí ........................................................................................... 24
1.3.2. Đặc điểm sinh lí .......................................................................................... 26
1.3.3. Đặc điểm học tập kĩ năng ........................................................................... 27
1.4. Đặc trưng môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3 và vấn đề tích hợp giáo dục kĩ năng
sống ........................................................................................................................... 28
1.4.1. Đặc trưng môn Tự nhiên - Xã hội lớp 3 ..................................................... 28
dạy học môn Tự nhiên và xã hội........................................................................... 57
3.2.2. Thiết kế các bài học trong môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 có lồng ghép, tích
hợp nội dung giáo dục kĩ năng sống ..................................................................... 64
3.2.3. Xây dựng môi trường dạy học môn Tự nhiên và xã hội lớp 3 hướng vào
việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh .............................................................. 74
3.3. Thực nghiệm sư phạm ........................................................................................ 79
3.3.1. Mục đích thực nghiệm ................................................................................ 79
3.3.2. Đối tượng thực nghiệm................................................................................ 79
3.3.3. Nội dung thực nghiệm ................................................................................ 79
3.3.4. Tiến trình thực nghiệm ............................................................................... 80
3.3.5. Kết quả thực nghiệm .................................................................................... 82
Kết luận chương 3 ..................................................................................................... 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 93
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 97
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Viết đầy đủ
KN
Kĩ năng
KNS
TN-XH
Tự nhiên – xã hội
ND
Nội dung
PP
Phương pháp
KTDH
Kĩ thuật dạy học
UNESCO
Tổ chức giáo dục - Khoa học - Văn hóa quốc tế
UNFPA
Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
UNICEF
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêu tạo ra
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đến mục
tiêu phát triển đầy đủ giá trị của mỗi cá nhân, giúp cho con người có năng lực để
cống hiến, đồng thời sống thành công, tích cực và hiệu quả trong môi trường hoạt
động của mình. Vì vậy, học kĩ năng sống trở thành quyền của người học và cũng là
chìa khóa giúp nâng cao thành tích học tập trong nhà trường phổ thông. Cho nên,
giáo dục kĩ năng sống cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối
với nền giáo dục trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng.
1.2. Là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học
hiện nay đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ
XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống, đó là: học để biết, học để làm, học
để cùng chung sống và học để khẳng định mình. Rèn luyện kĩ năng sống cho học
sinh tiểu học cũng đã được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong
trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" giai đoạn 2008 2013. Đặc biệt, theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2011 - 2012,
việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua các môn học và hoạt động giáo dục đã
bước đầu được triển khai. Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục tiểu học cho thấy, mặc dù
vấn đề giáo dục kĩ năng sống đã và đang nhận được sự quan tâm lớn song chưa đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn, nhất là trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay, trẻ phải
đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp, nguy hiểm.
1.3. Trong các môn học ở tiểu học, môn Tự nhiên và Xã hội nói chung, Tự
nhiên và Xã hội lớp 3 nói riêng là môn học giúp học sinh tìm hiểu, khám phá tri
thức khoa học về thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người. Đây là một
trong số những môn học quan trọng và tiềm năng để giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh, khi mà chương trình giáo dục tiểu học hiện hành chưa có môn học chuyên biệt
về giáo dục kĩ năng sống. Hơn nữa, do tầm quan trọng và đặc trưng của kĩ năng
2
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
lớp 3 thông qua dạy học môn Tự nhiên và xã hội.
5.2. Tìm hiểu thực trạng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông
qua dạy học môn Tự nhiên và xã hội
5.3. Đề xuất một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3
thông qua dạy học môn Tự nhiên và xã hội.
5.4. Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các
biện pháp giáo dục kĩ năng sống đã đề xuất.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Trong đề tài nghiên cứu chỉ tập trung giáo dục một số kĩ năng
sống cơ bản cho học sinh lớp 3 thông qua dạy học môn Tự nhiên và xã hội.
- Về địa bàn nghiên cứu: Điều tra thực trạng được tiến hành tại 05 trường tiểu
học trên địa bàn thị xã Phú Thọ. Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại trường
tiểu học Trường Thịnh
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái
quát hóa một số tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1. Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu hỏi để lấy ý kiến của giáo viên, học sinh lớp 3 nhằm tìm
hiểu, thu thập thông tin xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp quan sát
- Quan sát học sinh: Quan sát học sinh lớp 3 để đánh giá thực trạng kĩ năng
sống của các em.
học môn Tự nhiên và xã hội
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua
dạy học môn Tự nhiên và xã hội
Chương 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua
dạy học môn Tự nhiên và xã hội.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
LỚP 3 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống không còn là vấn đề xa lạ
đối với giáo dục trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Các nghiên cứu về
vấn đề này được thể hiện khá phong phú với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cụ thể:
1.1.1. Trên thế giới
Vào cuối những năm 1960 thuật ngữ KNS được đưa ra bởi những nhà tâm lý
học thực hành, coi đó như là một khả năng xã hội quan trọng trong việc phát triển
cá nhân [6].
Năm 1979, Tiến sĩ người Mỹ, Gilbert Botvin - nhà khoa học hành vi và giáo
sư tâm thần học - đã nghiên cứu và đưa ra một chương trình đào tạo KNS có hiệu
quả cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9. Thông qua các môđun tương tác,
chương trình của ông đã tạo cho người học được tiếp cận với những kĩ năng xã hội
như: quyết đoán, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề để thể hiện sự từ
chối sử dụng các chất gây nghiện. Chương trình đào tạo KNS của Botvin đã được
triển khai trong nhiều trường học khác nhau, từ các trường công lập đến các trung
tâm tạm giam người chưa thành niên và đã thu được nhiều kết quả ấn tượng. Nó
không chỉ giúp ngăn ngừa hút thuốc lá trong thanh thiếu nhiên mà còn giúp tăng
thêm giá trị trong mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, tăng kết quả học tập và
Ở Indonesia, năm 1997, GDKNS được đưa ra qua chương trình GDKNS cho
cuộc sống khỏe mạnh, thực hiện trong cấp tiểu học. Từ năm 2001, chính phủ
Indonesia đã nỗ lực đưa KNS vào trong chương trình giảng dạy của giáo dục cơ
bản. Nội dung GDKNS bao gồm: GDKNS cho sống khỏe mạnh, (dinh dưỡng, giáo
dục vệ sinh, trẻ em/nhân quyền); GDKNS cho phòng chống HIV/AIDS. [46]; [47]
Ở Philippin, KNS được bắt đầu tích hợp giảng dạy vào trong chương trình
giáo dục cơ bản từ năm 2001. Bên cạnh các chương trình tiếp cận KNS trong giáo
dục, Philippin còn triển khai GDKNS trong quân sự, nhằm lồng ghép đưa KNS vào
trong chương trình giảng dạy. [46]; [47]
7
Giáo dục KNS ở Lào được bắt đầu quan tâm từ năm 1998 với cách tiếp cận
nội dung quan tâm đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp
trong chương trình giáo dục chính quy. Năm 2001 giáo dục KNS ở Lào được mở rộng
sang các lĩnh vực như giáo dục dân số, giới tính, sức khoẻ sinh sản, vệ sinh cá nhân,
giáo dục môi trường vv..Các nội dung này được đưa vào trong chương trình giảng
dạy của 5 môn học: Thế giới xung quanh ta (ở tiểu học), Sinh học, Công dân, Khoa
học tự nhiên (ở trung học). [45]; [46]
Giáo dục KNS ở Campuchia được xem xét dưới góc độ năng lực sống của
con người, kỹ năng làm việc vì vậy giáo dục KNS được triển khai theo hướng là giáo
dục các kỹ năng cơ bản cho con người trong cuộc sống hàng ngày và kỹ năng
nghề nghiệp. [46]; [47]
Giáo dục KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kỹ
năng thao tác bằng tay, kỹ năng thương mại và đấu thầu, kỹ năng sống trong đời
sống gia đình. [46]; [47]
Ở Bangladesh: Giáo dục KNS được khai thác dưới góc độ các kỹ năng hoạt
động xã hội, kỹ năng phát triển, kỹ năng chuẩn bị cho tương lai.
Ở Ấn Độ: Giáo dục KNS cho học sinh được xem xét dưới góc độ giúp cho
các chuyên gia người Australia. Thông qua dự án này UNICEF đã giới thiệu tại Việt
Nam các KNS cơ bản như: Tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị , ra quyết định,
kiên định và thiết lập mục tiêu nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe. [43]
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và kĩ năng sống” do UNESCO phối
hợp với Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23 đến 25 tháng
10 tại Hà Nội đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn về khái niệm KNS. KNS được tiếp cận dựa
trên bốn trụ cột của việc học trong báo cáo của Delors: “Học để biết, học để làm, học
để cùng chung sống, học để tự khẳng định” và KNS được coi như là năng lực cá nhân
để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. [43]
Cũng năm 2003 – 2004, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục phối hợp
với tổ chức UNESCO triển khai nghiên cứu về “GDKNS ở Việt nam”. Nghiên cứu
này sau đó đã được xuất bản thành sách năm 2006. Trong đó, các tác giả đã tập
trung nghiên cứu, tìm hiểu về: Quá trình nhận thức về KNS và tổng quan các chủ
trương, chính sách, điều luật phản ánh yêu cầu tiếp cận KNS trong giáo dục và quá
trình nghiên cứu, thực hiện GDKNS ở Việt Nam; Thực trạng giáo dục KNS cho
9
người học từ trẻ mầm non đến người lớn ở Việt Nam; Khái quát được cách thức
giáo dục KNS ở Việt Nam, những phương pháp cụ thể và hình thức đã được sử
dụng để tiến hành GDKNS; Đánh giá về GDKNS ở Việt Nam và rút ra những bài
học kinh nghiệm; Xác định những thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy
mạnh GDKNS ở Việt Nam trên cơ sở thực tiễn và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục
tiêu 6 của chương trình hành động Dakar [43].
Năm 2005, có một số tài liệu, đề tài nghiên cứu được triển khai liên quan đến
GDKNS trong trường trung học cơ sở và trung học phổ thông như: Dự án VIE
01/10 do UNEPAtài trợ “Giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên thông
qua hoạt động ngoại khóa trong nhà trường”; Đề tài cấp bộ “Giáo dục một số KNS
cho học sinh trung học phổ thông” do trung tâm nghiên cứu Giáo dục học, trường
GDKNS trong các nhà trường cho các đối tượng học sinh khác nhau ở các khu vực
sinh sống khác nhau [12]; [13]; [14]; [15]; [16].
1.1.2.2. Những nghiên cứu về dạy học môn Tự nhiên và xã hội ở tiểu học
Để đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội cần đòi hỏi những con người
năng động, tích cực, sáng tạo. Ngành Giáo dục và đào tạo đang từng bước đổi mới
mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông. Trọng tâm
của việc đổi mới trong chương trình tiểu học là đổi mới về phương pháp dạy học,
hình thức tổ chức, tích hợp nội dung dạy học để trang bị cho người học đầy đủ kiến
thức, phẩm chất và năng lực phù hợp để trở thành những con người có ích cho xã
hội, đáp ứng được sự thay đổi của xã hội hiện đại.
Tự nhiên và xã hội là một môn học nằm trong chương trình giáo dục Tiểu
học hiện nay. Đây là môn học giáo dục cho học sinh những kiến thức cơ bản, đơn
giản nhất về các cơ quan trong cơ thể con người, cách giữ vệ sinh và bảo vệ sức
khỏe, giáo dục cho học sinh các sự vật hiện tượng đơn giản diễn ra trong tự nhiên,
xã hội và mối quan hệ của chúng trong môi trường tự nhiên – xã hội. Môn học này
đã trải qua quá trình phát triển lâu lài và được chính thức đưa vào dạy đại trà ở tiểu
học từ năm học 1996 - 1997. Đây là môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và
phát triển từ các môn học trước nó như "Khoa học thường thức" (1956), "Tìm hiểu
khoa học" (1986), "Tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội"(1993). Môn học này được dạy từ
lớp 1 đến lớp 5.
11
Từ khi có môn học Tự nhiên và xã hội trong chương trình giáo dục ở Tiểu
học, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu để đưa ra những hướng dẫn giảng dạy cho
môn học này đối với các giáo viên dạy cấp tiểu học, các nghiên cứu đó đã được viết
thành giáo trình để đưa vào các trường sư phạm nhằm trang bị cho giáo viên tiểu học
tương lai những hiểu biết cơ bản về môn học và chương trình môn học Tự nhiên và
Xã hội như: Cuốn giáo trình “Phương pháp dạy học Tự nhiên và xã hội” của nhóm
học, hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá trong môn
học, hướng dẫn dạy học cụ thể đối với từng môn học về Tự nhiên - Xã hội và các
định hướng đổi mới trong dạy học.
Bên cạnh đó, Bộ giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu và đưa ra bộ sách giáo
khoa, sách giáo viên của môn học Tự nhiên và xã hội nhằm cung cấp các tài liệu
phục vụ cho việc dạy và học tốt môn học ở nhà trường tiểu học. Trong đó có sách
giáo khoa Tự nhiên và Xã hội 3 cung cấp cho học sinh lớp 3; Sách giáo viên Tự
nhiên và xã hội 3 của nhóm tác giả Bùi Phương Nga (chủ biên), Lê Thị Thu Dinh,
Nguyễn Tuyết Nga nhằm cung cấp cho giáo viên dạy lớp 3 làm căn cứ và tài tiệu
tham khảo để xây dựng kế hoạch bài học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh và
điều kiện thực tiễn. Trong tài liệu giảng dạy này đã đưa ra những hướng dẫn chung
về mục tiêu, nội dung môn học, một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy học;
đưa ra những hướng dẫn cụ thể với từng bài học. Tuy nhiên khi sử dụng tài liệu giáo
viên chỉ nên dùng như tài liệu để tham khảo, còn trong quá trình dạy học giáo viên
nên vận dụng sao cho phù hợp với đối tượng dạy học của mình và điều kiện thực tế
của cơ sở nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Tóm lại, tất cả các nghiên cứu về dạy học môn tự nhiên và xã hội trên đều
nhằm mục đích:
+ Phát triển năng lực và trình độ giáo viên tiểu học sao cho phù hợp với sự
phát triển của xã hội hiện đại.
+ Cung cấp cho giáo viên những cơ sở lý luận và thực tiễn để áp dụng vào
quá trình giảng dạy phù hợp nhằm đạt được hiệu quả của việc dạy học.
+ Tạo điều kiện cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng
có hứng thú học tập, khám phá tri thức mới đối với môn học Tự nhiên và xã hội.
13
Từ đó góp phần đào tạo ra những thế hệ học sinh tích cực, chủ động và sáng
tạo trong việc lĩnh hội tri thức cũng như rèn luyện kĩ năng để thích nghi và đáp ứng
Một công trình nghiên cứu về GDKNS cho học sinh tiểu học cũng được biết
đến đó là luận án tiến sĩ “ GDKNS cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi
phía Bắc Việt Nam (qua các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học)” của tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng. Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra được các vấn đề về
lý luận và thực tiễn của việc GDKNS cho học sinh dân tộc thiểu số và một số biện
pháp GDKNS qua môn Tự nhiên và Xã hội, môn Khoa học cho học sinh người dân
tộc thiểu số. Tuy nhiên, đó là những nhóm KNS chuyên biệt phù hợp đặc điểm tâm
lý, đặc điểm về văn hóa xã hội và cách thức sinh hoạt của người dân tộc thiểu số.
Từ những phân tích trên đây cho thấy, việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh tiểu học thông qua môn học mặc dù đã được định hướng bởi mục tiêu,
nội dung chương trình giáo dục nhưng thực tiễn triển khai hoạt động này trong nhà
trường còn rất nhiều hạn chế và chưa có biện pháp cụ thể đối với từng đối tượng
học sinh ở các khối lớp. Đặc biệt việc nghiên cứu về GDKNS cho học sinh lớp 3
thông qua dạy học môn tự nhiên và xã hội vẫn còn là một khoảng trống cần được
khai thác để góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học tích hợp trong môn học
Tự nhiên và xã hội lớp 3 nói riêng và hiệu quả của giáo dục KNS cho học sinh tiểu
học nói chung.
1.2. Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
1.2.1. Kĩ năng sống
* Khái niệm kĩ năng
Có nhiều tác giả trong nước và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm
khác nhau về kĩ năng. Với mỗi quan niệm, với mỗi cách nhìn khác nhau, các
tác giả đã cố gắng minh chứng một cách sinh động nhất về khái niệm kĩ năng.
Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của
hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có
kỹ năng [37].
Từ điển tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “Kỹ năng là giai
đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới - cái dựa trên một
quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương
định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định.
Trên cơ sở những quan niệm của các tác giả về kĩ năng, chúng tôi quan
niệm rằng: kỹ năng là cách thức con người thực hiện một hành động dựa trên sự
hiểu biết và kinh nghiệm của cá nhân trong những hoàn cảnh nhất định.
16
*Khái niệm kĩ năng sống
Quan niệm của “Tổ chức văn hóa - khoa học và giáo dục của Liên hợp
quốc” (UNESCO) cho rằng: KNS là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện
đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày.
Quan niệm của “Tổ chức Y tế thế giới” (WHO) coi kỹ năng sống là những
kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống
hằng ngày để giải quyết có hiệu quả các vấn đề, các tình huống của cuộc sống
nhằm tương tác có hiệu quả với người khác.
Tác giả X.Kommi thì cho rằng: Kĩ năng sống là khả năng con người thực hiện
những hành vi thích ứng với những thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống.
Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: KNS là những kĩ năng tinh thần hay
những kĩ năng tâm lý, kĩ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và
thích ứng với cuộc sống. Tác giả cho rằng kĩ năng sống nhìn dưới góc độ năng
lực tâm lý là những những kĩ năng giúp con người tồn tại về mặt thể chất và mặt
tâm lý [35].
Từ góc độ tâm lý học tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: KNS là một
tổ hợp phức tạp của một hệ thống kĩ năng nói lên năng lực sống của con người,
giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết
quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống. [42].
Trên cơ sở những quan niệm của các tác giả về kĩ năng sống, chúng tôi
quan niệm rằng: kĩ năng sống là những hành vi mà con người thể hiện để ứng phó
với những tình huống diễn ra trong đời sống dựa trên những phẩm chất tâm lý cơ