Mục lục
Phần I: đặt vấn đề
3
A- Lí do chọn đề tài
1 - Cơ sở lí luận
2.- Cơ sở thực tiễn
3- Kết luận
B- Mục đích của đề tài
C- Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1 - Đối tợng nghiên cứu
2.- Phạm vi ngghiên cứu
D- Phơng pháp nghiên cứu
3
6
6
7
Phần II: Nội dung thực hiện đề tài
7
A- Hệ thống các bài tập có liên quan đến từ Hán-Việt
trong phân môn Luyện từ và câu.
B- Những điểm cần khắc phục của học sinh khi làm bài tập.
7
22
Phần VIII: Kết luận chung
23
8
2
Kinh nghiệm:
Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng
từ Hán- Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5
ở trờng tiểu học Minh Hoàng.
********************
Phần I: Đặt vấn đề
A. Lí do chọn đề tài:
1. Cơ sở lí luận:
Nh chúng ta đã biết, đất nớc Việt Nam đã từng có một thời gian
rất dài bị giặc phong kiến phơng Bắc đô hộ. Mặc dù nh vậy, ngời dân
Việt Nam vẫn giữ đợc tiếng nói và nhiều phong tục tập quán riêng của
mình. Tuy vậy, vẫn có sự ảnh hởng nhất định về văn hoá, thể chế chính trị
của Trung Quốc đối với ngời Việt kể cả trong t tởng triết học và ngôn
ngữ. Theo truyền thuyết thì ngời Việt cổ vốn đã có chữ viết riêng nhng bị
ngời Hán huỷ bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn. Do vậy nên trớc khi chữ
Quốc ngữ ra đời, ngời Việt phải dùng chữ Hán để viết nhng họ lại đọc
theo âm Việt. Chữ viết đó đợc gọi là chữ Nôm. Sau này, một ngời Pháp
chuyện và Tập làm văn.Vậy là ngay từ khi bắt đầu cuộc sống của mình,
theo lời dạy của cha mẹ và thầy, cô giáo, trẻ em cũng đã đợc làm quen và
dùng từ Hán- Việt trong học tập, trong cuộc sống. Muốn trẻ em có thể dùng
đúng từ Hán- Việt trong giao tiếp và viết văn, các em phải hiểu đúng nghĩa
của những từ ngữ đó. Đây là một vấn đề không hề đơn giản. Đối với các em
học sinh lớp 1, những từ Hán-Việt đợc thầy cô cung cấp cho các em
thờng là những từ có trong bài tập đọc đợc giải nghĩa ở phần chú thích
cuối bài. Đến lớp 2, lớp 3, các em đã đợc làm quen với phân môn Luyện
từ và câu nhng phần đa vốn từ của các em cũng đợc cung cấp thêm cũng
là những từ thuần Việt; từ Hán- Việt ở 2 khối lớp này thờng vẫn là những
từ xuất hiện thêm ở những bài tập đọc hoặc ở những đoạn văn mẫu trong
phân môn Chính tả, Tập làm văn. Đến lớp 4, lớp 5, vốn từ của các em đã
phong phú hơn. Ngoài việc cung cấp thêm vốn từ ngữ cho học sinh, phân
môn Luyện từ và câu có dạng bài tập yêu cầu các em phải xếp từ theo
nhóm; những nhóm từ này phần lớn đều là từ Hán- Việt. Vậy làm thế nào
để có thể xếp từ theo nhóm thích hợp? Đó chính là câu hỏi cần phải đặt ra
khi giáo viên giảng dạy phân môn này. Ngoài việc xếp từ theo nhóm, các
em học sinh còn phải giải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ có rất nhiều từ Hán
-Việt. Các bài tập cuối cùng của bài thờng là viết một đoạn văn ngắn theo
chủ đề vừa học. Tất cả các giáo viên đều hiểu nếu học sinh nắm đợc nghĩa
của từ thì sẽ làm tốt các dạng bài tập nêu trên nhng làm thế nào để giúp
học sinh hiểu đúng nghĩa của những từ Hán-Việt mà không bị nhầm lẫn?
Đây chính là vấn đề mà tôi luôn trăn trở khi giảng dạy phân môn Luyện từ
và câu lớp 5.
2. Cơ sở thực tiễn:
Những năm gần đây, tôi đợc phân công giảng dạy lớp 5, mỗi lần
dạy đến phần bài "Mở rộng vốn từ" trong phân môn Luyện từ và câu là tôi
lại gặp phải không ít khó khăn. Do học sinh hiểu cha đúng nghĩa của từ
nên dẫn đến khi tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, xếp từ theo nhóm bị sai. Khi
giáo viên yêu cầu học sinh giải nghĩa từ, học sinh lúng túng không biết giải
đúng ý nghĩa của câu tục ngữ nêu trên và bày tỏ ý kiến của mình, giải thích
vì sao mình chọn thành ngữ, tục ngữ đó. Với vốn từ ngữ đã đợc học từ lớp
1 đến lớp 5, học sinh rất khó giải thích đợc những thành ngữ, tục ngữ này,
rất nhiều em phải cần đến sự hỗ trợ của giáo viên.
ở dạng bài tập viết đoạn văn ngắn theo chủ đề vừa học, thờng thì
học sinh đã nắm đợc cách trình bày một đoạn văn theo chủ đề nhng do
cha nắm vững nghĩa của từ nên một số em dùng từ không chính xác, câu
văn bị hiểu sai nghĩa và nh vậy bài viết thờng bị điểm thấp. Tôi đã
nghiên cứu và tìm ra những nguyên nhân sau:
* Về phía thầy:
Khi giảng dạy, ngời giáo viên đã khai thác hết những kiến thức cơ
bản ở SGK , đã có sự quan tâm tới tất cả đối tợng học sinh , đã phát huy
tính tích cực của học sinh trong giờ học nh gọi học sinh giỏi phát biểu ý
kiến, học sinh dới lớp nhận xét, giáo viên cùng học sinh cả lớp chốt câu
trả lời đúng song hiểu đợc đúng và nhớ đợc nghĩa của từ Hán- Việt
không phải là việc dễ dàng, sự nhận thức của các em lại không đồng đều
nên dẫn đến kết quả tiếp thu của các em khác nhau. Chính vì điều đó, khi
làm bài tập, tỉ lệ học sinh làm bài đúng không cao, một số em đã nhận thức
chậm thờng bị điểm yếu.
Thời gian giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 5 theo quy định chỉ
có 2 tiết/tuần; trong khi đó giải nghĩa từ giữ vai trò mở ra cánh cửa tri thức
cho học sinh biết đó là "cái gì" trớc khi có thể làm đợc các dạng bài tập
có liên quan đến những từ ngữ đó. Thực tế cho thấy do không có đủ thời
gian nên bản thân giáo viên không thể giúp tất cả học sinh hiểu và giải
nghĩa đúng các từ Hán- Việt dẫn đến tình trạng học sinh làm bài kết quả
không cao.
5
*Về phía học sinh:
trang trọng hơn bởi vậy giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt
là vấn đề cần đợc ngời giáo viên quan tâm đến trong từng tiết dạy đặc
biệt là trong phân môn Luyện từ và câu.Trong những năm qua, tôi thờng
xuyên nghiên cứu, đề ra các biện pháp rèn học sinh ở tất cả các phân môn
của môn Tiếng Việt. Năm học này, tôi tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm
"Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán- Việt
để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5."
C. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
1.Đối tợng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 5B trờng Tiểu học Minh Hoàng.
- Lớp đối chứng: lớp 5A cùng trờng
6
2.Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung môn Tiếng Việt lớp 5 với phạm vi rất rộng, phân môn nào
cũng liên quan đến từ Hán -Việt nhng trong phần bài viết này của mình ,
tôi chỉ đề cập đến phần từ Hán- Việt trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
D. Phơng pháp nghiên cứu:
- Phơng pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phơng pháp điều tra, thống kê.
- Phơng pháp phân tích.
- Phơng pháp trắc nghiệm
- Phơng pháp thảo luận.
Phần II: Nội dung thực hiện đề tài
Năm học 2009-2010 là năm Bộ giáo dục và Đào tạo tiếp tục phát
động các phong trào thi đua đã có từ năm học trớc nh Học tập và làm
theo tấm gơng đạo đức Hồ Chí Minh, Mỗi thầy cô giáo là một tấm
gơng tự học và sáng tạo, Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lợng dạy và học. Chất lợng giáo
nhờng cơm sẻ áo, chân lấm tay bùn.
Câu4: Viết một đoạn văn ngắn nói về hoạt động du lịch hay thám hiểm.
Kết quả khảo sát nh sau:
Lớp 5B:
Giỏi
SL
%
2
6,7
Lớp 5A:
Giỏi
SL
%
2
7,1
Khá
%
26,7
Trung bình
SL
%
15
50
%
28,6
Trung bình
- Xếp từ theo nhóm cha, một số em còn không biết giải nghĩa từ, một số
em khác hiểu nghĩa của từ nhng diễn đạt cũng không đầy đủ.
- Với các thành ngữ, tục ngữ, các em còn hiểu rất mơ hồ, một số em
không tìm đợc các thành ngữ, tục ngữ theo chủ đề; đa số các em giải
nghĩa về thành ngữ, tục ngữ đều lúng túng, không biết diễn đạt ra sao.
Ví dụ: Trong bài tập 2 của bài kiểm tra, đa số các em chỉ tìm đợc một
thành ngữ (gan vàng dạ sắt) thành ngữ còn lại (vào sinh ra tử) rất ít em tìm
đợc. Khi giáo viên hỏi về ý nghĩa của các thành ngữ, các em hiểu còn
cha chính xác.
- Khi tìm các từ cùng nghĩa, trái nghĩa với những từ đã cho, các em
thờng tìm những từ thuần Việt vì đó là những từ dễ hiểu còn những từ Hán
-Việt thì chỉ những học sinh khá - giỏi mới tìm ra.
Ví dụ: Khi tìm từ cùng nghĩa với từ "dũng cảm", một số học sinh tìm
các từ sau: không sợ, dám làm...
- Những đoạn văn mà các em viết theo chủ đề thờng không phong phú
về nội dung, các em không biết dùng những từ đồng nghĩa để thay thế
nhằm làm cho đoạn văn sinh động hơn. Vậy là đoạn văn của các em thờng
sơ sài về nội dung, thậm chí có em còn dùng từ cha chính xác về cách
dùng từ, ngôn ngữ trong đoạn văn "thô", gây cời cho ngời đọc.
Ví dụ: Một học sinh viết một đoạn văn ngắn về chủ đề Du lịch đã viết
nh sau:
8
"Anh ấy là một nhà thám hiểm rất không sợ trớc khó khăn.
- Ngoài những vớng mắc về nội dung kiến thức, tôi còn thấy các em là
những học sinh còn nhỏ tuổi;đôi khi trớc những bài tập khó, các em
thờng nản lòng, bỏ dở, không chịu suy nghĩ; bởi vậy ngời giáo viên cần
có biện pháp động viên khích lệ sự tiến bộ của các em kịp thời.
Sau khi đã tìm ra nguyên nhân vớng mắc mà các em mắc phải trong
khảo ở sách của th viện nhà trờng hoặc vào những website trong mạng
internet.
Để giúp học sinh làm tốt tất cả các dạng bài tập trong các tiết học
"Mở rộng vốn từ", trớc hết các em phải hiểu đợc nghĩa của từ. Với
những từ thuần Việt, nghĩa rất rõ ràng nhng với những từ Hán -Việt thì
9
không phải nh vậy. Đôi khi trong những trờng hợp đặc biệt, giáo viên
phải dùng từ Hán Việt khác để minh hoạ. Ví dụ: Khi học sinh hiểu "hữu
tình" là bạn tình, giáo viên phải giải nghĩa giúp học sinh hiểu: trong từ
điển, không dùng từ "bạn tình" mà nghĩa của nó phải là "ngời tình" và
trờng hợp này từ "nhân tình" mới có nghĩa là "ngời tình" còn "hữu tình'
có nghĩa là "có tình" ("hữu" có nghĩa là "có").
* Với dạng bài tập xếp từ theo nhóm tôi yêu cầu học sinh phải nắm vững
nghĩa của từ trớc khi làm bài tập, với những em có nhận thức chậm, tôi
dành cho các em nhiều thời gian hơn so với các em khác trong các tiết học.
Các em cần đợc hớng dẫn cụ thể từng bài tập. Còn với học sinh khác, tôi
tự tạo cho các em có cơ hội để phát huy tính tích cực của mình trong giờ
học. các em có thể trình bày ý kiến của mình, sau đó tôi cùng học sinh cả
lớp nhận xét, góp ý, chốt câu trả lời đúng. Sau đó, tôi cho học sinh khá giỏi
giải thích vì sao em xếp từ theo nhóm nh vậy (học sinh phải nêu đợc
nghĩa của từng từ trong nhóm).
Ví dụ: Bài tập 2 trang56 (chủ đề:Hữu nghị-Hợp tác):
Xếp các từ có tiếng hợp cho dới đây thành hai nhóm a và b:
hợp tình, hợp tác, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp nhất, hợp pháp, hợp
lực, hợp lí, thích hợp.
a.Hợp có nghĩa là "gộp lại"(thành lớn hơn). M:hợp tác
b.Hợp có nghĩa là "đúng với yêu cầu, đòi hỏi...nào đó". M:thích hợp
Sau khi học sinh xếp đợc hai nhóm từ a và b
* Với dạng bài tập tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, tôi khuyến khích các em
tìm hết các từ theo đúng yêu cầu của bài, cho điểm tối đa đối với những học
sinh tìm đợc nhiều từ chính xác.
*Với dạng bài tập viết đoạn văn ngắn, tôi cũng yêu cầu học sinh đọc kĩ
yêu cầu của bài, hớng dẫn học sinh viết đúng theo chủ đề, chọn và dùng từ
cho chính xác, câu văn cần có sự sáng tạo, gắn với thực tế, cách trình bày
đoạn văn theo đúng cấu trúc đã đợc học. Với dạng bài tập này, tôi đặc biệt
lu ý học sinh trong những văn cảnh cụ thể, có những trờng hợp các em
cần dùng từ Hán- Việt mà không nên dùng từ thuần Việt để câu văn không
những diễn đạt đợc đầy đủ ý nghĩa mà còn thể hiện đợc sự trang trọng:
Ví dụ: Hôm nay là ngày Quốc tế phụ nữ.( Từ "đàn bà" không thể thay
thế cho từ "phụ nữ".)
Sau khi học sinh viết đoạn văn theo chủ đề, tôi tiến hành chấm bài
và nhận xét trớc lớp, chỉ rõ những lỗi sai của học sinh và yêu cầu các em
sửa lỗi vào vở sau đó đọc lại một lần để cô giáo và các bạn nhận xét, góp ý.
Cuối giờ, tôi thờng chọn những đoạn văn hay của học sinh khá giỏi đọc
cho các em nghe để học sinh trung bình, yếu có thể học tập.
Hoạt động tổ chức các trò chơi nhằm gây hứng thú cho học sinh
trong các giờ học đợc diễn ra thờng xuyên và đợc áp dụng linh hoạt.
Đôi khi trò chơi chính là nội dung các bài tập. Chẳng hạn nh thi tìm từ
đồng nghĩa, trái nghĩa, thi xếp từ theo nhóm nhanh và đúng...
Khi thử nghiệm một thời gian ngắn biện pháp này, tôi cho các em
làm bài kiểm tra nhằm đánh giá sự tiến bộ của từng em và đề ra biện pháp
tiếp theo trong năm học.
Đề bài tuần 10:
Câu1:Phân loại các từ sau đây theo nghĩa của tiếng "hoà":
Hoà bình, hoà giải, hoà hợp, hoà mình, hoà tan, hoà tấu, hoà thuận.
a. Hoà có nghĩa là "trạng thái không có chiến tranh, yên ổn":
b.Hoà có nghĩa là "trộn lẫn vào nhau":
Câu 2: Tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa với từ "hoà bình".
%
14
50
SL
11
Yếu
SL
3
%
10
Lớp 5A:
Giỏi
SL
3
%
10,7
Khá
SL
8
Yếu
SL
3
nghĩa thành ngữ, tục ngữ, cùng cô giáo chốt câu trả lời đúng.
12
Với dạng bài tập viết đoạn văn ngắn theo chủ đề, học sinh yếu đọc
bài của mình để học sinh cả lớp nhận xét, góp ý, chỉ ra lỗi sai của bạn; phần
này, tôi cũng luôn yêu cầu lời nhận xét, góp ý của các em với bạn phải thật
chính xác và tế nhị; tránh không làm tổn thơng lòng tự trọng của bạn. Học
sinh khá giỏi cũng đợc đọc lại bài làm của mình cho học sinh cả lớp tham
khảo. Ngoài các đoạn văn ngắn do các em viết, tôicòn đọc cho các em nghe
một số đoạn văn mẫu đợc lấy từ các sách tham khảo của th viện nhà
trờng hoặc đợc tải về từ mạng in ternet.
Cần phải nâng cao chất lợng học sinh và không để học sinh có điểm
dới trung bình vào cuối năm bởi vậy việc kèm riêng những em học sinh
yếu là điều vô cùng cần thiết. Tôi đã áp dụng biện pháp dạy cá nhân cho
từng em vào các giờ học tăng buổi, dành thêm nhiều thời gian cho các em
vào các tuần ôn luyện chuẩn bị cho các đợt kiểm tra định kì.
4. ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhằm nâng cao chất
lợng học sinh phân môn Luyện từ và câu.
4.1.Xây dựng các tiết giáo án điện tử cho phân môn Luyện từ và câu:
Năm học 2009-2010, Bộ giáo dục và Sở giáo dục tiếp tục khuyến
khích giáo viên các bậc học ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi luôn nhận thức đợc u điểm của
của hình thức dạy học hiện đại này. Đây là hình thức dạy học mới mang lại
hiệu quả rất cao trong giảng dạy. Học sinh sẽ rất hứng thú học tập nếu
ngời giáo viên thờng xuyên xây dựng giáo án và trình chiếu trên màn
hình điện tử. Sự kết hợp giữa việc giáo dục học sinh chăm học và đồng thời
cập nhật, đa vào giảng dạy những phơng pháp dạy học hiện đại sẽ gây
sự chú ý của các em, từ đó ngời giáo viên sẽ thu đợc hiệu quả cao trong
giảng dạy. Nếu nh trớc đây, khi dạy dạng bài tập xếp từ theo nhóm, giáo
dơng đẹp và hấp dẫn các em, tôi đã cho in màu các bản tuyên dơng đó.
Hình thức tuyên dơng này tôi không chỉ áp dụng cho học sinh khá giỏi
mà áp dụng chung cho học sinh cả lớp, những em có nhiều tiến bộ cũng có
bản tuyên dơng riêng. Năm học trớc tôi chỉ dùng tới hai bản tuyên dơng
nhng năm học này, tôi áp dụng tuyên dơng nhiều hơn, dùng kĩ xảo trang
trí cho học sinh đạt giải nhất hội thi "Tài trí học trò" hàng tháng để gây
hứng thú phấn đấu cho các em trong học tập.
Có ba bản tuyên dơng:
Bản1:Dành cho học sinh xuất sắc: Đó là những học sinh giành đợc
giải cao tại hội thi "Tài trí học trò" cấp lớp đợc tổ chức 1tháng một lần.
Đây là một trò chơi học tập nhằm để đánh giá sự tiến bộ của học sinh khá,
giỏi đồng thời cũng để ôn luyện cho các em chuẩn bị tham dự hội thi tài trí
học trò cấp huyện.Trong trò chơi này,bao giờ cũng có những câu hỏi có
liên quan đến các dạng bài tập trong phân môn "Luyện từ và câu", tôi
muốn dùng hình thức này để gây hứng thú cho các em khi học các dạng bài
tập nêu trên.
Bản 2: Dành cho học sinh có sự tiến bộ trong học tập.Bản tuyên
dơng luôn nhấn mạnh về sự tiến bộ của học sinh trong tất cả các phân
môn, trong đó có phân môn "Luyện từ và câu". Bản tuyên dơng này đợc
thay hàng tuần.
Bản 3: Dành cho những học sinh đạt nhiều điểm tốt trong học tập.
Mỗi tuần tôi dành thời gian chấm và kiểm tra bài cũ thờng xuyên đối với
tất cả các phân môn trong đó phân môn "Luyện từ và câu" đợc kiểm tra
và cho điểm mỗi học sinh từ một đến hai lần. Bởi vậy việc giành đợc
nhiều điểm tốt ở phân môn này cũng đợc các em rất lu tâm.Bản tuyên
dơng này cũng đợc thay hàng tháng.
Để phát huy "khả năng viết đoạn văn ngắn theo chủ đề" của học
sinh , phần bài viết, phần giới thiệu và bình luận trên bản tuyên dơng , tôi
giao cho học sinh khá- giỏi viết, giáo viên chỉnh sửa và vào máy. Những
học sinh tham gia viết lời bình mang tên Nhóm phóng viên Măng non gồm
huy đợc sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong học tập.
B. Những điểm cần lu ý khi dạy các dạng bài tập khác của phân môn
Luyện từ và câu:
Trong phân môn Luyện từ và câu còn có các dạng bài tập về câu,
cách sử dụng dấu câu; phần bài tập đặt câu cũng thờng sử dụng đến từ ngữ
trong đó có từ Hán Việt, khi làm đến các bài tập thuộc phần này, giáo
viên phải lu ý học sinh dùng từ chính xác . Khi các em đã hiểu và có thể
giải nghĩa đúng các từ Hán- Việt thì việc đặt câu chắc chắn sẽ đầy đủ ý
nghĩa, câu văn sẽ sinh động, giàu hình ảnh.
Một dạng bài tập cần lu ý nữa là các bài tập yêu cầu học sinh xác
định từ loại (danh từ, động từ, tính từ). Với dạng bài tập này, học sinh cũng
gặp rất nhiều từ Hán- Việt. Ví dụ: công nhân (danh từ); thực hành (động
từ), thông minh (tính từ)...Với dạng bài tập này cũng vậy; khi học sinh hiểu
đúng nghĩa của từ, các em sẽ phân loại từ rất chính xác.
Phần thứ IV: Kết quả thực hiện
Sau một thời gian áp dụng thử nghiệm tại lớp 5B, tôi tiến hành khảo
sát chất lợng môn Tiếng Việt , mỗi tuần một lần với ba dạng bài tập khác
nhau.Đề bài của phân môn Luyện từ và câu (phần mở rộng vốn từ) nh sau:
Đề bài tuần 22:
Câu1:Phân loại các từ sau đây theo nghĩa của tiếng công":
Công dân, công nhân, công bằng, công cộng, công lí, công nghiệp,
công chúng, công minh.
a. Công có nghĩa là "của nhà nớc, của chung":
b.Công có nghĩa là "không thiên vị":
18
c.Công có nghĩa là "thợ, khéo tay":
Câu 2: Tìm từ đồng nghĩa với từ "công dân".
Câu 3: Tìm những thành ngữ nói về quan hệ gia đình.
%
13
44,4
Yếu
SL
0
%
0
Lớp 5A:
Giỏi
SL
5
%
17,9
Khá
SL
9
Yếu
SL
1
%
3,6
vui mừng vì giúp đợc bạn bè
- Trong quá trình kèm cặp, uốn nắn các em, tôi còn nhận thấy các em
học sinh luôn có lòng say mê, ham hiểu biết về từ Hán- Việt. Đối với các
em, khái niệm về từ Hán- Việt không còn xa lạ nữa. "Giữ gìn truyền thống
và vận dụng những tinh hoa của nhân loại trên thế giới để văn hoá Việt
thêm giàu đẹp, đó chính là quan điểm của tôi và tôi muốn các em học
sinh của mình cũng nhận thức đợc điều đó".
Tất cả các học sinh đều thi đua học tập, đều phấn đấu không ngừng.
Chính vì điều đó mà tập thể lớp 5B luôn dẫn đầu về mọi mặt trong trờng.
Tất cả những phong trào thi đua của trờng nh Hội thi An toàn giao
thông, Báo tờng chào mừng 20-11, Quyền và bổn phận của trẻ
em, Văn nghệ chào mừng 26-3, Phát âm chuẩn- viết chữ đẹp, lớp
5B đều giành giải nhất đồng đội. Em Mai Minh Tùng giành giải nhì tại hội
thi Tài trí học trò cấp huyện. Kết quả nghiệm thu do nhà trờng khảo
sát: 100% học sinh đạt từ điểm 5 trở lên, trong đó tỉ lệ khá giỏi chiếm 65%.
- Khi ứng dụng công nghệ thông tin trong các tiết dạy Luyện từ và câu tạo
nên một bầu không khí học tập sôi nổi. Học sinh rất thích thú khi đợc lĩnh
hội kiến thức qua những bài giảng điện tử.Vào mạng lấy t liệu và giao lu
cùng đồng nghiệp trên toàn quốc làm cho kinh nghiệm giảng dạy của tôi
thêm phong phú; đặc biệt khi thực hiện đề tài này, tôi đã có dịp hiểu sâu
thêm về từ Hán- Việt và những quan điểm của những nhà giáo về loại từ
ngữ trên, tiêu biểu là nhữn quan điểm về giải nghĩa từ Hán- Việt của
Trờng Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi- Tam Kì- Quảng Nam.
- Hình thức tuyên dơng hàng tuần, hàng tháng bằng cách chụp ảnh, viết
20
thêm lời bình , dán lên Góc học tập của lớp trong năm học này tiếp tục là
làn sóng mạnh mẽ thúc đẩy các em phấn đấu vơn lên. Mỗi lần, bản tuyên
- Muốn thực hiện thành công đề tài, ngời giáo viên cần có lòng say mê
nghề nghiệp, ham học hỏi, cần có nhiều tài liệu để nghiên cứu vận dụng.
Phần thứ VII: Kiến nghị
Qua thực tế giảng dạy tôi có một số đề xuất sau:
1.Sở Giáo dục Phòng Giáo dục:
- Cần cung cấp thờng xuyên sách,tài liệu tham khảo cho giáo viên chúng
tôi .
- Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi cũng đã tham khảo ý kiến của các
đồng nghiệp trong trờng nhng phần đa các đồng chí đều cho rằng đây là
một đề tài rất khó; bởi vậy tôi tha thiết đề nghị Sở Giáo dục, Phòng Giáo
dục hãy tổ chức chuyên đề về các Biện pháp giúp học sinh hiểu và giải
nghĩa đúng từ Hán- Việt để có thể làm tốt các bài tập trong chơng trình
sách giáo khoa từ khối 1 đến khối 5. Nh vậy, tôi và các đồng nghiệp có
dịp học hỏi và nâng cao năng lực chuyên môn của mình.
2. Trờng:
a. Ban giám hiệu:
- Luôn ủng hộ giáo viên về mọi mặt khi giáo viên thực hiện đề tài.
- Tạo điều kiện để tất cả giáo viên của trờng tiếp tục sử dụng và thiết kế
thành thạo giáo án điện tử, ứng dụng tốt các phần mềm mới vào giảng dạy.
b.Các giáo viên trong trờng:
- Vì ngay từ khi học lớp 2, học sinh đã đợc làm quen với phân môn
22
Luyện từ và câu ; bởi vậy các giáo viên lớp 2,3 đặc biệt là các giáo viên lớp
4 phải thờng xuyên có biện pháp giúp các em hiểu và giải nghĩa đúng từ
Hán Việt, từ đó là điều kiện thuận lợi giúp các em làm tốt tất cả các bài
tập của môn Tiếng Việt và dùng từ, viết câu chính xác trong các môn khác.
Phần thứ VIII: Kết luận chung
áp dụng các Biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ
(2005). Nhà xuất bản Giáo dục.
6. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) - Sách giáo viên Tiếng Việt 5 tập I,II
(2006). Nhà xuất bản Giáo dục.
7. Phạm Thị Thu Hà- Thiết kế Tiếng Việt 4 tập I, II (2007). Nhà xuất bản
Hà Nội.
8. Phạm Thị Thu Hà - Thiết kế Tiếng Việt 5 tập I, II (2007) . Nhà xuất bản
Hà Nội.
9. Nhiều tác giả - Từ điển Việt Nam.
24
25